BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI ĐÀM HỮU TÂN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NĂM 2012
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA I
Người hướng dẫn Khoa học:
GS.TS. Nguyễn Thanh Bình
Nơi thực hiện: Trường ĐH Dược Hà Nội
Bệnh viện ĐK Sóc Sơn – Hà Nội
Thời gian thực hiện: 15/11/2013 – 15/3/2014 Hà Nội – 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện hoàn thành Luận văn này,
tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và có hiệu quả của rất nhiều cá nhân
và tập thể, của các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu,
Phòng Đào tạo Sau Đại học, các Thầy, các Cô Bộ môn Quản lý kinh tế
dược của Trường Đại học Dược Hà Nội, đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi để tôi học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và khoa Dược, Phòng tổ
chức cán bộ, Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng tài chính kế toán của Bệnh
viện đa khoa Sóc Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai
đề tài nghiên cứu tại thực địa.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn: GS.TS Nguyễn Thanh Bình -
Phó Hiệu Trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội, thầy đã tận tình hướng
dẫn, tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này.
BỆNH
VIỆN 4
1.2
HOẠT
ĐỘNG
LỰA
CHỌN
XÂY
DỰNG
DMT
CỦA
BVĐKSS
NĂM
2012 4
1.2.1 Tình trạng bệnh tật và mô hình bệnh tật 5
1.2.2 Hướng dẫn điều trị chuẩn (STG) 7
1.2.3 DMT chủ yếu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 9
1.2.4 Hội đồng thuốc và điều trị 9
CỨU 25
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.3 Sử lý và phân tích số liệu 26
2.3.4 Trình bày số liệu 29
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1
MÔ
TẢ
CÁC
HOẠT
ĐỘNG
XÂY
DỰNG
DMT
CỦA
BVĐKSS
NĂM
VIỆN
NĂM
2012 41
3.2.1 Phân tích DMT theo nhóm tác dụng dược lý 41
3.2.2 Tỷ lệ thuốc nội và thuốc ngoại trong DMTSD năm 2012 43
3.2.3 Tỷ lệ thuốc generic và thuốc biệt dược trong DMTSD năm 2012
43
3.2.4 Tỷ lệ thuốc nội và thuốc ngoại trong DMTSD generic 44
3.2.5 Tỷ lệ thuốc theo phân loại nhóm thuốc trong thông tư
01/2012/TTLT- BYT- BTC 45
3.2.6 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và đa thành phần trong DMTSD
Được thể hiện qua bảng 3.11 sau: 46
3.2.7 Tỷ lệ thuốc mang tên generic, thuốc biệt dược, thuốc tên
thương mại trong danh mục thuốc đơn thành phần của BVĐKSS
năm 2012 47
3.2.8 Tỷ lệ giữa thuốc tiêm và thuốc bào chế các dạng khác trong
DMTSD năm 2012 47
3.2.9 Tỷ lệ thuốc gây nghiện - Hướng tâm thần trong DMTSD 48
3.2.10 Tỷ lệ thuốc hạn chế sử dụng trong DMTSD năm 2012 49
3.2.11 Phân tích ABC của DMTBV đã sử dụng năm 2012. 50
3.2.12 Phân tích VEN 54
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 55
4.1
CÁC
HOẠT
DỤNG
TẠI
BỆNH
VIỆN
NĂM
2012 60
4.2.1 Tính hợp lý DMT đã sử dụng tại bệnh viện năm 2012 60
4.2.2 Phân tích ABC của DMTBV đã sử dụng năm 2012 63
4.2.3 Phân tích VEN 64
4.2.4 Thuốc huỷ trong DMTBV năm 2012 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 4
Danh mục thuốc bệnh viện
DMTSD
Danh mục thuốc sử dụng
DMTCY
Danh mục thuốc chủ yếu
DMTTY
Danh mục thuốc thiết yếu
GMHH
Gây mê hồi sức
GMP
Sản xuất thuốc tốt
GTTT
Giá trị tiêu thụ
HĐT&ĐT
Hội đồng thuốc và điều trị
HSCC
Hồi sức cấp cứu
HSMT
Hồ sơ mời thầu
ICD - 10
TTY
Thuốc thiết yếu
VEN
Vital, Essential, Non-
essential
Phân tích tối cần thiết, cần thiết,
Không cần thiết
UBND
Uỷ ban nhân dân
WHO
World Health
Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
DANH MỤC HÌNH
Bảng 3.1 Tỷ lệ kinh phí mua thuốc so với kinh phí chi thường xuyên
BVĐKSS 31
Bảng 3.2 MHBT năm 2012 của BVĐKSS 34
Bảng 3.3 Số khoản mục thuốc và kinh phí hoạt động năm 2011 của
BVĐKSS 36
Bảng so sánh số khoản thuốc trong DMT năm 2012 với năm 2011 40
Bảng 3.5 Số khoản mục thuốc, kinh phí hoạt động năm 2012 BVĐKSS
40
Bảng 3.6 Tỷ lệ các nhóm thuốc tác dụng dược lý trong DMTSD 41
Bảng 3.7 Tỷ lệ thuốc nội - thuốc ngoại trong DMTSD năm 2012 43
Bảng 3.8 Tỷ lệ thuốc generic và thuốc biệt dược trong DMTSD 44
năm 2012 44
Bảng 3.9 Tỷ lệ thuốc nội, ngoại trong DMT generic năm 2012 44
Bảng 3.10 Phân loại nhóm thuốc trong thông tư 01/2012/TTLT- BYT-
BTC 45
Bảng 3.11 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và đa thành phần trong
DMTSD năm 2012 46
Bảng 3.12 Tỷ lệ thuốc mang tên generic, thuốc biệt dược, thuốc tên
thương mại trong DMT đơn thành phần 47
Bảng 3.13 Tỷ lệ giữa thuốc tiêm và thuốc bào chế các dạng khác trong
DMTSD năm 2012 48
Bảng 3.14 Tỷ lệ thuốc gây nghiện - Hướng tâm thần trong DMTSD 49
Bảng 3.15 Tỷ lệ thuốc hạn chế sử dụng trong DMTSD năm 2012 50
Bảng 3.16 Kết quả phân tích ABC của DMTSD tại BVĐKSS năm 2012
51
Bảng 3.17 Phân nhóm điều trị các thuốc thuộc nhóm A 52
Bảng 3.18 Tỷ lệ thuốc đa thành phần, đơn thành phần trong DMT
nhóm A 53
kháng sinh được sử dụng
[17]
.
Trong bối cảnh nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường và tham
gia hội nhập WTO, thị trường thuốc phát triển liên tục với sự đa dang
phong phú về chủng loại cũng như nguồn cung cấp, tình trạng thiếu thuốc
phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đã được khắc phục.
Tuy nhiên, do sự mất cân đối về nhóm dược lý với các thuốc sản xuất trong
nước, sản xuất chủ yếu các nhóm thuốc như chống nhiễm khuẩn - ký sinh
trùng, vitamin, thuốc bổ, hạ nhiệt giảm đau, chống viêm, còn các thuốc
điều trị chuyên khoa như chuyên khoa tim mạch, ung thư, nội tiết tố còn rất 2
ít dẫn đến các doanh nghiệp cạnh tranh nhau giá trên thị trường. Trong khi
đó các doanh nghiệp nhập khẩu chỉ nhập khẩu các thuốc bán chạy, lợi
nhuận cao chưa phù hợp với mô hình bệnh tật MHBT, dẫn đến sự không
lành mạnh trên thị trường, ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng và sử dụng
thuốc trong bệnh viện[8].
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho người
bệnh. Một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến công tác khám chữa bệnh
trong bệnh viện là công tác cung ứng thuốc.Trong đó hoạt động lựa chọn,
xây dựng danh mục thuốc là hoạt động đầu tiên trong chu trình cung ứng
thuốc, là cơ sở để mua sắm, tồn trữ và sử dụng thuốc tại bệnh viện.
Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các
quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và Điều trị HĐT&ĐT tại các bệnh viện.
HĐT&ĐT là hội đồng được thành lập nhằm đảm bảo tăng cường độ an
toàn và hiệu quả sử dụng thuốc trong các bệnh viện. Thành viên của
HĐT&ĐT bao gồm các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm
đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí
Trên cơ sở đó đề xuất một quy trình xây dựng DMT hợp lý và giám
sát việc thực hiện sử dụng thuốc hiệu quả cho bệnh viện đa khoa Sóc Sơn -
Hà Nội những năm tiếp theo. 4
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN
1.1 VÀI NÉT VỀ CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật
ngành dược đã có những bước tiến dài về mọi mặt. Thị trường dược phẩm
thế giới và trong nước ngày càng được mở rộng, với sự đa dạng, phong phú
cả về chủng loại và số lượng. Hệ thống cung ứng thuốc cũng ngày càng
được mở rộng và phát triển. Đánh gía việc kiểm soát chi phí thuốc tại cơ sở
KCB, ngày 27/7/2012, tại Hà Nội, BHXH Việt Nam tổ chức hội thảo: Chi
phí thuốc chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí KCB, khoảng trên 60%
tổng chi phí KCB BHYT. Năm 2010 quỹ BHYT chi trả là: 12.722 tỷ đồng Hình 1.1 Các yếu tố liên quan đến xây dựng danh mục thuốc
1.2.1 Tình trạng bệnh tật và mô hình bệnh tật
Nhu cầu thuốc của một người bệnh phụ thuộc vào bệnh tật, sức khỏe
của họ. Còn nhu cầu về thuốc của một cộng đồng nào đó sẽ phụ thuộc vào
tình trạng bệnh tật của cộng đồng đó : tình trạng bệnh tật, sức khỏe cộng
đồng trong những điều kiện ngoại cảnh nhất định, ở những khoảng thời
gian nhất định được khái quát dưới dạng MHBT.
- Mô hình bệnh tật ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới.
Vì thế, Việt Nam có một MHBT đặc trưng của quốc gia nhiệt đới đang phát
triển. Tuy nhiên, hiện nay MHBT đã có nhiều thay đổi, bảng 1.1 sau đây sẽ
cho ta thấy rõ hơn về MHBT ở Việt Nam[2].
Mô hình bệnh tật bệnh viện
DMTCY tại các cơ sở khám,
chữa bệnh
Hội đồng thuốc và điều trị
bệnh viện
Hướng dẫn điều trị(Phác đồ
điều trị)
Trình độ chuyên môn, kỹ
thuật, TTB y tế
Khả năng chi trả của người
‘‘Ở Việt Nam, về mặt MHBT các bệnh nhiễm khuẩn là những bệnh
phổ biến nhất, kể cả trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai’’[11]. Tuy
nhiên, các bệnh không nhiễm trùng như bệnh tim mạch, huyết áp, tai nạn,
chấn thương đang có xu hướng gia tăng.
Tại Hội nghị chuyên đề về công tác y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết
nếu như trước kia chủ yếu là các bệnh nhiễm trùng thì nay MHBT đã hoàn
toàn thay đổi : chỉ có 27% là các bệnh do vi trùng gây nên, có đến 62% các
bệnh không phải là do vi trùng (các bệnh lây nhiễm do siêu vi trùng). 62%
số ca bênh ở Việt Nam thuộc không có khả năng lây nhiễm như : huyết áp,
tâm thần, tim mạch, suy dinh dưỡng, tiểu đường , còn lại 11% loại bệnh do
tai nạn thương tích (trong đó có tai nạn giao thông). Nguyên nhân của sự
thay đổi MHBT này là do sự biến đổi khí hậu, quá trình công nghiệp hóa,
sự ô nhiễm môi trường xuất hiện như: Ebola, bò điên, SARS, cúm A/H5N1
đang có xu hướng gia tăng mà nguyên nhân chính là do biến đổi khí hậu và
ô nhiễm môi trường [12].
- Mô hình bệnh tật của bệnh viện
Bệnh viện là nơi khám chữa và chữa bệnh cho người mắc bệnh trong
cộng đồng. Mỗi bệnh viện có tổ chức nhiệm vụ khác nhau, đặt trên các địa 7
bàn khác nhau, với các đặc điểm dân cư - địa lý khác nhau, đặc biệt là sự
phân công chức năng nhiệm vụ trong các tuyến y tế khác nhau. Ở Việt Nam
cũng như trên thế giới có hai loại MHBT bệnh viện theo hình1.2[7](Tr 136)
8
Nếu đơn thuần tuân thủ theo DMT sẽ không cải thiện chất lượng
điều trị như các lựa chọn không dựa trên STG. Thật là lý tưởng nếu như
DMT được xây dựng trên cơ sở các hướng dẫn điều trị các bệnh thường
gặp. ở nhiều nước trên thế giới, khi bắt đầu xây dựng DMT thì đã có sẵn
hướng dẫn điều trị hoặc những tài liệu tương tự để tham khảo và sử dụng.
Hình 1.3 chỉ ra mối quan hệ giữa STG, DMT và những tác động của
chúng với việc sử dụng và dự trữ thuốc[10](Tr 19-20)
Hình 1.3 Chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả chăm sóc và
phòng bệnh
1.2.4 Hội đồng thuốc và điều trị
+ Thành lập HĐT&ĐT
Việc thành lập Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện HĐT&ĐT là tối cần
thiết, là một tổ chức đứng ra điều phối toàn bộ quá trình cung ứng thuốc tại
bệnh viện. HĐT&ĐT là một tổ chức được thành lập nhằm đánh giá tác
dụng của thuốc trên lâm sàng, phát triển các chính sách quản lý, sử dụng
thuốc và quản lý DMT. HĐT&ĐT ra đời nhằm đảm bảo cho người bệnh
được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua xác
định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả ra sao và sử dụng như
10
thế nào. Ngày 4/7/1997, Bộ Y tế ban hành thông tư 08/BYT- TT hướng dẫn
việc tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị ở bệnh
viện[6], để thực hiện chỉ thị 03/BYT- CT ngày 25/3/1997 của Bộ trưởng Bộ
Y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc tại
bệnh viện[3].
+ Nhiệm vụ của HĐT & ĐT
Bộ Y tế quy định bốn nhiệm vụ của HĐT&ĐT [6]:
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt các các quy định cơ bản về
cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc của bệnh viện.
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt DMT dùng cho bệnh viện.
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt quy trình cấp phát thuốc và
theo dõi sử dụng thuốc và đồng thời giúp giám đốc kiểm tra việc thực hiện
khi quy trình trên được phê duyệt.
- Giúp Giám đốc bệnh viện các hoạt động: Giám sát kê đơn hợp lý; tổ
chức theo dõi các phản ứng có hại và các vấn đề liên quan đến thuốc trong
bệnh viện; tổ chức thông tin thuốc; tổ chức nghiên cứu khoa học và đào tạo
chức Y tế thế giới đã xây dựng một quy trình để xây dựng DMT trong bệnh
viện bao gồm 4 giai đoạn với 19 bước
[18].
HĐT&ĐT thể hiện vai trò rất quan
trọng trong từng giai đoạn và từng bước cụ thể trong quy trình này:
Bảng 1.2 Các bước xây dựng và thực hiện DMTBV
CÁC GIAI
ĐOẠN
CÁC BỨƠC TIẾN HÀNH
Giai đoạn
quản lý hành
chính
Bước 1: Giới thiệu các khái niệm cần thiết để có được sự
ủng hộ của Ban giám đốc bệnh viện
Bước 2: Thành lập HĐT&ĐT
Bước 3: Xây dựng các chính sách và quy trình 12
Giai đoạn
xây dựng
danh mục
thuốc
Bước 4: Xây dựng hoặc lựa chọn các phác đồ điều trị
Bước 5: Thu thập các thông tin để đánh giá lại danh mục
thuốc hiện tại
Bước 6: Phân tích mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc
Bước 7: Đánh giá lại các nhóm thuốc và xây dựng phác
thảo DMTBV
giám đốc bệnh viện thấy rõ hiệu quả của việc quản lý tốt DMT và thuyết 13
phục các nhà quản lý bệnh viện đồng ý và ra quyết định về DMT và xem
đây là quy định của bệnh viện
[18]
.
Các thông tin HĐT&ĐT cần thu thập bao gồm: tổng giá trị và tỷ trọng
tiền thuốc trong năm trước, số lượng các thuốc, các nhóm thuốc đang sử
dụng, giá trị và nguyên nhân của thuốc bị huỷ trong năm trước, tên của 10
thuốc sử dụng nhiều nhất, các phản ứng có hại của thuốc, số lượng các ca
tử vong do thuốc, các thuốc bị cấm sử dụng, các thuốc giả, thuốc kém chất
lượng.
HĐT&ĐT chịu trách nhiệm xây dựng giám sát mọi quy định và quy
trình liên quan đến thuốc tại bệnh viện [21]
.
Một số quy định nên được
HĐTĐT quy định rõ bằng văn bản: quy trình lựa chọn thuốc mới, các thuốc
hạn chế sử dụng, sử dụng thuốc ngoài danh mục và kê đơn thuốc mang tên
generic.
- Quy trình lựa chọn một số thuốc mới
Chỉ có bác sỹ, dược sỹ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ
thuốc, có xác nhận của trưởng khoa phòng lâm sàng. Các đề xuất bổ sung
thuốc được chuẩn bị dựa trên các mẫu chính thức đã được xây dựng, sau đó
gửi cho thư ký của HĐT&ĐT, nếu đã được điền đầy đủ các thông tin yêu
cầu, được chuyển tới đơn vị thông tin thuốc hoặc dược sỹ chịu trách nhiệm
về thông tin thuốc. Đơn vị thông tin thuốc tìm kiếm các thông tin để đánh
giá thuốc mới được yêu cầu với các thuốc đó có trong DMTBV có cùng chỉ
định. Mục tiêu so sánh là chi phí - hiệu quả, độ an toàn và giá.
DMTBV: thuốc kháng sinh thế hệ 3,4 hay một số thuốc hóa trị liệu hoặc
độc cho tế bào, thuốc có giá thành cao, thuốc dễ bị sử dụng lạm
dụng[10].Thuốc cần phải sử dụng an toàn và hiệu quả. Riêng với kháng
sinh là thuốc trị bệnh nhiễm khuẩn cần phải đặc biệt lưu ý vì nếu sử dụng
kháng sinh không hợp lý sẽ đưa đến tác hại rất lớn:Thứ nhất chính thuốc
kháng sinh sẽ gây tai biến cho cơ thể ta như dị ứng, nhiễm độc các cơ quan,
loạn khuẩn đường ruột làm tiêu chảy đôi khi rất trầm trọng. Tác hại thứ hai 15
nghiêm trong hơn nhiều là nếu sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi sẽ gây
hiện tượng vi khuẩn đề kháng lại kháng sinh. Hiện nay các nhà y học rất lo
lắng vì thuốc kháng sinh trước đây tỏ ra rất hiệu quả trong điều trị thì nay
nó bị nhiều loại vi khuẩn đề kháng. Ví dụ: Khi nghi ngờ, thì cephalosporin
thế hệ thứ hai và thứ ba là sự lựa chọn tốt cho hầu hết những loại nhiễm
khuẩn. Phổ kháng khuẩn phần lớn tương tự giữa các thuốc trong nhóm này
bao gồm: gram +, gram - và vi khuẩn kỵ khí. Sự khác biệt về phổ kháng
khuẩn chủ yếu là liên quan Pseudomonas aeruginosa.về các thuốc thuộc
nhóm này bao gồm cefmetazole, cefuroxim, cefoxitin, cefotetan, và
cefamandole.
- Sử dụng thuốc nằm ngoài DMT của bệnh viện
HĐT&ĐT quy định mẫu đề nghị sử dụng thuốc ngoài DMTBV. Khoa
Dược lưu lại các biên bản đề xuất bao gồm tên bác sỹ đề nghị, tên và số lượng
thuốc yêu cầu để theo dõi sự tuân thủ DMTBV và đánh giá sự đáp ứng của
DMTBV với MHBT và cân nhắc có bổ sung thuốc vào DMTBV hay
không[10].
- Sử dụng thuốc mang tên generic
Thuốc mang tên generic là một thuốc thành phẩm nhằm thay thế
một thuốc phát minh được sản xuất không có giấy phép nhượng quyền
của công ty phát minh và được đưa ra thị trường sau khi bằng phát