Chuyên đề tốt nghiệp - Kế toán bàn hàng và xác định kết quả bán hàng - Pdf 53

LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập
trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đòi hỏi phải quản lý
bằng hệ thống các phương pháp thông qua các công cụ quản lý. Kế toán là một
bộ phận quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế tài chính, có vai trò tích
cực trong việc quản lý, điều hành cho nhà quản lý ra quyết định. Thực tế trong
những năm qua cho thấy trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp đã thích ứng
và đứng vững trong cạnh tranh. Một trong những bí quyết dẫn đến sự thành công
của các doanh nghiệp là vận dụng nguyên tắc: Hạch toán kinh tế tự chịu trách
nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển
đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định hướng đi và mục tiêu kinh doanh. Để tạo ra
sức mạnh trong cạnh tranh, muốn vậy doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu
sản xuất ra nhiều sản phẩm với chất lượng tốt nhất, giá thành thấp nhất và phù
hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Đồng thời doanh nghiệp phải tăng nhanh
khối lượng sản phẩm bán ra, tăng cường tổ chức tốt công tác bán hàng. Doanh
thu bán hàng và kết quả bán hàng là các chỉ tiêu mà doanh nghiệp luôn mong đợi.
Do đó công tác kế toán doanh thu bán hàng và xác định kết quả bán hàng luôn đ-
ược coi là trọng tâm của kế toán các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Bán hàng là khâu cuối cùng và quan trọng nhất của một quá trình kinh tế
kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất. Nhờ có khâu bán hàng,
các doanh nghiệp thực hiện được giá trị hàng hoá, bù đắp những chi phí bỏ ra
trong quá trình kinh doanh, tính toán được hiệu quả kinh doanh, từ đó đảm bảo
quá trình kinh doanh liên tục. Thông qua bán hàng doanh nghiệp mới thực hiện
nghĩa vụ với Nhà nước, đồng thời khẳng định vị thể của mình trên thị trường.
Qua thời gian tìm hiểu tình hình thực tế tại Công ty Cổ phần Á Châu, cùng
với sự nhiệt tình giúp đỡ của các anh chị phòng kế toán và cô giáo Trịnh Thị
Thu Nguyệt hướng dẫn em đã chọn đề tài “Kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Á Châu”. Với mong muốn đề tài này sẽ góp
phần làm cho công tác kế toán của Công ty hoạt động hiệu quả hơn.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần chính:

Công ty áp dụng phương thức thanh toán tiền mặt là chủ yếu, tiền hàng và thanh
toán tiền hàng sau khi giao hàng.
III. Đặc điểm tổ chức quản lý và cơ cấu lao động của Công ty:
1. Đặc điểm lao động và cơ cấu lao động của Công ty
Trình độ
CVN
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số lượng Mức lương Số lượng Mức lương Số lượng Mức lương
ĐH 12 3.250.000 13 3.500.000 13 3.600.000
CĐ 15 2.700.000 16 3.000.000 16 3.100.000
Công nhân 18 2.300.000 20 2.700.000 21 2.800.000
Nhận xét: Trình độ NV trong Công ty đều đạt từ trình độ từ CĐ trở lên, NV trong
Công ty đều có khả năng làm việc độc lập và có ý thức tự giác cao. Vì vậy, hiệu
quả công việc đạt được cao. Ngoài mức lương cơ bản mà Công ty trả thì các NV
phòng kinh doanh còn được hưởng thêm % trên doanh số bán hàng mà Công ty
đạt được. Vì thế mà số lượng lao động cũng như mức lương ngày một tăng lên.

2. Đặc điểm tổ chức bộ máy của Công ty
Mỗi phòng có chức năng nhiệm vụ riêng phù hợp với nhiệm vụ tổ chức
kinh doanh trong doanh nghiệp .
2.1. Công tác kế toán tại Công ty Cổ phần Á Châu
2.1.1. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán
2.1.1.1. Sơ đồ bộ máy kế toán

2.1.1.2. Chức năng nhiệm vụ phòng kế toán
Công ty áp dụng hình thức kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên.
Giám đốc
Phòng kế hoạch
Phòng kế toán

xuất kho, phiếu nhập kho, phiếu thu, phiếu chi...
Các chứng từ đều được lập theo mẫu quy định của Nhà nước.
Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán của
Công ty Cổ phần Á Châu
Chứng từ gốc và
các bảng phân bổ
Bảng kê
Nhật ký chứng
từ
Thẻ và sổ kế
toán chi tết
Sổ cái
Bảng tổng
hợp chi tiết
Báo cáo tài chính
PHẦN II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN
DOANH THU BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN Á CHÂU
I. Thực trạng kế toán bán hàng:
1. Sự cần thiết phải quản lý doanh thu bán hàng và vai trò của kế
toán doanh thu bán hàng và xác định kết quả bán hàng
1.1. Ý nghĩa của việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường các đơn vị sản xuất kinh doanh ở một thành
phần kinh tế cùng tồn tại, cạnh tranh với nhau và bình đẳng trước pháp luật. Các
đơn vị sản xuất vật chất như doanh nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp
nhận thầu là những đơn vị sản xuất ra sản phẩm hàng hoá. Do vậy, các doanh
nghiệp không những có nhiệm vụ sản xuất ra sản phẩm, hàng hoá dịch vụ mà còn
có nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ sản phẩm đó. Thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, các
doanh nghiệp mới đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thường xuyên liên

thanh toán. Có được doanh thu bán hàng, chứng tỏ doanh nghiệp đã sản xuất sản
phẩm hàng hoá và đã cung cấp hàng hoá dịch vụ thoả mãn nhu cầu của người
tiêu dùng.
Doanh thu bán hàng là nguồn quan trọng để doanh nghiệp trang trải các
khoản chi phí về công cụ lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình
sản xuất kinh doanh, trang trải cho số vốn đã ứng ra cho sản xuất kinh doanh, có
tiền để thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho người lao động trích bảo
hiểm xã hội, BHYT, KPCĐ, làm các nghĩa vụ tài chính với nhà nước.
Thực hiện được doanh thu bán hàng đầy đủ và kịp thời góp phần thúc đẩy
tăng tốc độ chi chuyển vốn lưu động tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái sản
xuất này.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng bởi nhiều nhân tố, như khối lượng sản xuất tiêu thụ sản phẩm, chất lượng
sản phẩm, kết cấu mặt hàng, giá bán sản phẩm và vấn đề thanh toán tiền hàng.
Khối lượng sản phẩm sản xuất ra có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng
sản phẩm tiêu thụ. Sản phẩm sản xuất ra càng nhiều thì khả năng về doanh thu
càng lớn. Khối lượng sản xuất và tiêu thụ còn phụ thuộc vào quy mô của doanh
nghiệp hình thức tổ chức công tác bán hàng; Việc ký kết hợp đồng tiêu thụ đối
với khách hàng, việc giao hàng, vận chuyển và thanh toán tiền hàng. Tất cả
những việc đó đều có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao doanh thu bán hàng.
Mỗi doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, giá cả
của chúng cũng khác nhau. Do đó, việc thay đổi kết cấu mặt hàng sản xuất cũng
ảnh hưởng tới doanh thu. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng mỗi loại sản phẩm
đều có tác dụng nhất định trong việc thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, cho
nên phấn đấu tăng doanh thu, các doanh nghiệp cũng phải cần chú ý đến việc
thực hiện đảm bảo kế hoạch sản xuất những mặt hàng mà doanh nghiệp đó ký
hợp đồng. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi thì việc thay đổi
giá bán cũng có ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu. Việc thay đối giá bán (giá bán
cao hay thấp) một phần quan trọng do quan hệ cung - cầu trên thị trường quyết
định. Để đảm bảo được doanh thu, doanh nghiệp phải có những quyết định về giá

một doanh nghiệp phải luôn coi trọng công tác kế toán. Việc tổ chức tốt công tác
kế toán, một mặt nó góp phần hoàn thiện công tác kế toán của doanh nghiệp, thúc
đẩy sản xuất phát triển, tạo cho doanh nghiệp hoàn thành các hợp đồng kinh tế
với đơn vị bạn, tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân tăng tích luỹ cho ngân sách
Nhà nước. Đặc biệt đối với các nhà quản lý, kế toán là công cụ sắc bén giúp họ
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, và phát hiện ra thiếu sót hay
những mặt tích cực để từ đó tìm biện pháp tối ưu cân đối yếu tố đầu vào và đầu
ra một cách mềm dẻo.
Do vậy, công tác kế toán doanh thu bán hàng và xác định kết quả bán hàng
nhằm phản ánh toàn diện và khách quan quá trình bán hàng và kết qủa bán hàng
của doanh nghiệp.
Thông tin doanh thu bán hàng và kết quả bán hàng do kế toán cung cấp
giúp cho các đối tượng sử dụng khác nhau với mục đích khác nhau để ra các
quyết định quản lý phù hợp. Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ đánh giá
tình hình, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đề ra
các biện pháp quyết định phù hợp với hướng phát triển của doanh nghiệp. Đối
với những đối tượng có lợi ích trực tiếp như chủ đầu tư, chủ nợ có thể ra những
quyết định đầu tư, cho vay. Đối với đối tượng có lợi ích gián tiếp như cơ quan
quản lý chức năng của Nhà nước có thể kiểm tra giám sát việc chấp hành thực
hiện các chính sách chế độ về kinh tế nói chung và thực hiện nộp nghĩa vụ thuế
đối với ngân sách Nhà nước, nghĩa vụ tài chính đối với các bên có quan hệ kinh
tế.
Để thực hiện tốt chức năng và vai trò trong công tác quản lý, kế toán
doanh thu bán hàng và xác định kết quả bán hàng cần thực hiện tốt các nhiệm vụ
sau đây:
- Ghi chép đầy đủ, kịp thời khối lượng thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ, bán
ra và tiêu thụ nội bộ, tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng đã bán, chi phí bán
hàng và các chi phí khác nhằm xác định đúng đắn kết quả bán hàng.
- Kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi
nhuận, phân phối lợi nhuận, kỷ luật thanh toán và làm nghĩa vụ đối với Nhà

(3) Bán hàng theo phuơng thức trả góp: Đây là một trong những hình thức
bán hàng trả chậm. Doanh thu được xác nhận khi khách hàng chấp nhận thanh
toán. Còn trả thêm do trả chậm không được ghi vào doanh thu nhưng được ghi
vào thu nhập hoạt động tài chính.
(4) Bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng: Doanh thu trong trường
hợp này được xác định khi khách hàng và Công ty thoả thuận trao đổi hàng và
hàng được Công ty nhập kho.
(5) Ngoài ra doanh nghiệp còn có các phương thức bán hàng trả chậm như:
Gửi đại lý bán, sản phẩm hàng hóa sử dụng nội bộ, doanh nghiệp bán hàng nhận
làm đại lý.
1.2. Doanh thu bán hàng:
Doanh thu bán hàng là toàn bộ giá trị thực hiẹn do hoạt động tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ, lao vụ cho khách hàng.
Doanh thu bán hàng có thể chia thành doanh thu bán hàng hoá, doanh thu
bán thành phẩm, doanh thu cung cấp dịch vụ (xét riêng cho từng loại hàng hóa,
từng loại thành phẩm). Nếu phân biệt theo phương thức bán hàng có thể chia
thành doanh thu bán hàng ra ngoài và doanh thu bán hàng nội bộ.
Thuế tiêu thụ là một khoản đóng góp của doanh nghiệp thể hiện nghĩa vụ
nộp thuế cho nhà nước về hoạt động bán hàng hoá, sản phẩm, cung cấp lao vụ,
dịch vụ.
Thuế tiêu thụ bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế TTĐB, thuế xuất nhập
khẩu. Riêng thuế giá trị gia tăng không được tính trừ vào tổng doanh thu bán
hàng của doanh nghiệp.
Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, để đẩy mạnh công tác bán hàng và
thu tiền bán hàng, doanh nghiệp cần có chế độ khuyến khích đối với khách hàng.
Nếu khách hàng mua với khối lượng hàng hóa lớn sẽ được doanh nghiệp bớt giá,
nếu hàng hoá của doanh nghiệp kém phẩm chất thì khách hàng có thể không chấp
nhận thanh toán hoặc yêu cầu doanh nghiệp giám giá, các khoản trên sẽ phải
giảm trừ trong doanh thu bán hàng ghi trên hoá đơn. Các khoản làm giảm doanh
thu bán hàng bao gồm:

TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ: Được sử dụng để phản ánh tình hình
bán hàng trong nội bộ doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập (giữa đơn vị chính
với các đơn vị phụ thuộc và giữa các đơn vị phụ thuộc với nhau).
TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ gồm có 3 tài khoản cấp 2.
TK 5121: Doanh thu bán hàng hoá
TK 5122: Doanh thu bán các sản phẩm
TK 5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ
TK 531: - Hàng bán bị trả lại. Tài khoản này phản ánh trị giá hàng bị trả lại
và kết chuyển sang TK 511, TK 512 để giảm doanh thu bán hàng.
TK 532: - Giảm giá hàng bán: Tài khoản này phản ánh số tiền giảm giá,
bớt theo giá bán cho khách hàng và kết chuyển số tiền giảm giá, bớt giá sang TK
511 và TK 512 để giảm doanh thu bán hàng.
1.3. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu bán
hàng.
* Kế toán doanh thu bán hàng:
(1) Trường hợp 1: Xuất hàng giao bán cho khách hàng, doanh nghiệp thu
tiền ngay hoặc khách hàng chấp nhận trả tiền.
Đối với hàng hoá, thành phẩm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ thuế, kế toán phản ánh như sau:
+ Căn cứ giá vốn hàng xuất kho, kế toán ghi:
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 155 - Thành phẩm, TK 156 - hàng hoá
Hoặc có TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
+ Phản ánh doanh thu, kế toán ghi bút toán:
Nợ TK 111 - Tiền mặt, TK 112 - Tiền gửi NH, TK 131
Có TK 511, 512 - Doanh thu bán hàng (giá mua chưa thuế GTGT)
Có TK 333 (TK 3331) - Thuế GTGT đầu ra
Đới với hàng hoá, thành phẩm không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
theo hoặc chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, khi phản ánh doanh thu,
kế toán ghi bút toán.

Hoặc nợ TK 153 - Công cụ, dụng cụ
Hoặc nợ TK 156 - Hàng hoá
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 131 - Phải thu khách hàng
Đối với trường hợp hàng bán đem đi trao đổi là đối tượng chịu thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ đổi lấy hàng hoá dịch vụ không là đối tượng chịu
thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT phương pháp trực tiếp.
Phản ánh doanh thu kế toán ghi bút toán:
Nợ TK 131 - Phải thu khách hàng
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (chưa thuế)
Có TK 3331 - Thuế GTGT đầu ra phải nộp
Khi nhận hàng đổi, kế toán ghi bút toán
Nợ TK 152, TK 153, TK 156, (gồm cả thuế GTGT)
Có TK 131 - Phải thu của khách hàng
(4) Trường hợp 4: Gửi đại lý.
Đồng thời với việc kết chuyển giá vốn, thì phải phản ánh doanh thu bán
hàng, khi đó kế toán ghi bút toán sau:
Nợ TK 111 - Tiền mặt, TK 112 - TGNH, TK 131 (sau khi trừ hoa hồng)
Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng (hoa hồng để lại cho đại lý)
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (giá chưa thuế)
Có TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp
(5) Trường hợp 5: Sản phẩm, hàng hoá sử dụng nội bộ: Đối với sản phẩm
hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ,
khi phản ánh doanh thu kế toán ghi bút toán:
Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (giá chưa thuế)
Phản ánh thuế GTGT phải nộp được khấu trừ, kế toán ghi:
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ

kế toán ghi bút toán.
Nợ TK 531 - Hàng bán bị trả lại (giá chưa có thuế)
Nợ TK 3331 (GTGT)
Có TK 111, 112, 131...
+ Phản ánh giá vốn của hàng bị trả lại nhập kho kế toán ghi.
Nợ TK 155 - Thành phẩm, TK 156 hàng hóa
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán
Đối với trường hợp hàng bán bị trả lại thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
theo phương pháp trực tiếp hoặc không chịu thuế GTGT. Khi đó phản ánh số
thuế của hàng bị trả lại, kế toán ghi:
Nợ TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp
Có TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Phản ánh doanh thu và giá vốn tương tự trên.

Trích đoạn Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng. Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Một số nhận xét về Công ty Cổ phần Á Châu kiến thứ nhất: Về chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí kiến thứ năm:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status