BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
PHẠM TRUNG HIẾU
RỦI RO PHÁP LÝ TRONG TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
PHẠM TRUNG HIẾU
RỦI RO PHÁP LÝ TRONG TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014
HÀ NỘI – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
PHẠM TRUNG HIẾU
cô giáo, gia đình và bạn bè trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề
tài luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến Tiến sĩ Nguyễn Quý Trọng – Người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực hiện và nghiên cứu Luận văn của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu,
toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp
luật Kinh tế và cán bộ Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thiện luận văn này.
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2017
Tác giả
Phạm Trung Hiếu
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB
:
Ngân hàng phát triển Châu Á
BGĐ
:
Hội đồng quản trị
LCT
:
Luật Công ty
LDN
:
Luật Doanh nghiệp
NĐ
:
Nghị định
OECD
:
Tổ chức hợp tác và phát triển
TNHH
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro pháp lý trong công ty cổ phần ................................ 17
1.1.2.2. Đặc điểm của rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cổ phần 21
1.2. Vai trò của việc nghiên cứu vấn đề rủi ro pháp lý đối với tổ chức, quản lý
công ty cổ phần ............................................................................................... 22
1.3. Sự tương đồng và khác biệt giữa rủi ro pháp lý trong công ty cổ phần với
các loại rủi ro khác .......................................................................................... 23
1.4. Pháp luật của một số quốc gia về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý
công ty cổ phần và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ................................. 25
1.5. Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ
chức, quản lý công ty cổ phần ......................................................................... 28
1.5.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức,
quản lý công ty cổ phần .................................................................................. 28
1.5.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý
công ty cổ phần ............................................................................................... 29
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ RỦI RO PHÁP LÝ
TRONG TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM . 32
2.1. Những quy định về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cổ phần
......................................................................................................................... 32
2.1.1. Rủi ro pháp lý trong việc gia nhập thị trường của công ty cổ phần...... 32
2.1.1.1. Về việc đăng ký thành lập doanh nghiệp ........................................... 32
2.1.1.2. Về ngành nghề kinh doanh................................................................. 36
2.1.2. Rủi ro pháp lý trong quá trình hoạt động của công ty cổ phần ............. 39
2.1.2.1. Rủi ro về vốn ...................................................................................... 39
2.1.2.2. Về người đại diện theo pháp luật ....................................................... 44
2.1.2.3. Rủi ro trong việc ra quyết định, ký kết hợp đồng có nguy cơ phát sinh
tư lợi ................................................................................................................ 45
2.1.2.4. Về cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong công ty ....... 61
2.1.3. Rủi ro pháp lý trong việc rút lui khỏi thị trường của công ty cổ phần . 62
phương thức phát triển cao nhất cho đến ngày nay của loài người để huy động
vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát
triển1. Công ty cổ phần đã trở thành hình thức tổ chức doanh nghiệp mang
tính quyết định nhằm giải quyết nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, là hình thức
huy động vốn trên quy mô lớn một cách hiệu quả nhất.
Xuất phát từ những ưu điểm liên quan đến sự linh hoạt về việc huy
động, chuyển nhượng vốn; sự phong phú về cổ đông và tư cách pháp lý, theo
số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm loại hình doanh
nghiệp được thừa nhận tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì
công ty cổ phần là một trong ba loại hình doanh nghiệp được đăng ký thành
lập nhiều nhất (sau Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên). Vì lí do này mà ngay từ Luật
Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm
2005 và hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014 đang có hiệu lực thi hành
đều đưa ra rất nhiều các quy định chi tiết, cụ thể về cơ cấu tổ chức, quản lý và
điều hành trong loại hình doanh nghiệp này. Điều này đảm bảo cho các công
ty cổ phần có một hành lang pháp lý tương đối vững chắc để hoạt động và hạn
chế được những rủi ro pháp lý có thể xảy đến với công ty. Tuy nhiên, do đặc
điểm của trình độ lập pháp ở nước ta còn một số hạn chế nhất định, vì vậy các
quy định của pháp luật nhiều khi còn chưa theo kịp hoặc thậm chí vượt xa với
1
Nguyễn Ngọc Bích (2003), Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nxb Trẻ, tr.18.
2
thực tế của đời sống nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nói riêng. Do vậy, các chủ thể kinh doanh trong đó có công ty cổ phần
Đình Cung (2009), Công ty vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh
nghiệp năm 2005, Nxb Tri Thức… Nội dung các cuốn sách trên đã trình bày
một cách khái quát về lịch sử hình thành, vị trí, vai trò, đặc điểm của công ty
cổ phần trên thế giới cũng như ở Việt Nam; phân tích mô hình tổ chức, quản
lý của loại hình doanh nghiệp này trong Luật công ty năm 1990, Luật Doanh
nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005...; Luận án tiến sĩ của tác
giả Trần Ngọc Liêm (2002), Hoàn thiện pháp luật về các loại hình công ty
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam; Nguyễn Minh Hằng (2010), Pháp
luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam những vấn đề lý
luận và thực tiễn… Các luận văn thạc sĩ luật học tại Trường Đại học Luật Hà
Nội của các tác giả Bùi Minh Nguyệt (2010), Bảo vệ quyền lợi của cổ đông
trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và
thực tiễn; Lưu Thị Dung (2015), Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần theo
Luật Doanh nghiệp năm 2014; Đỗ Kỳ Anh (2016), Các hình thức huy động
vốn của công ty cổ phần ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp năm 2014…
Các công trình luận án, luận văn này chứa đựng rất nhiều thông tin
cũng như nhận định rõ nét về các vấn đề liên quan đến quá trình thành lập,
phát triển và chấm dứt hoạt động của công ty cổ phần hoặc chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu chung về tất cả các loại công ty hoặc ngược lại có một số công
trình lại chỉ nghiên cứu ở một khía cạnh nhỏ về vấn đề huy động vốn hay về
vấn đề tổ chức quản trị công ty… Bên cạnh đó, trên các tạp chí chuyên ngành
cũng đã đăng một số bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về các quy định của
pháp luật doanh nghiệp Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới về
công ty cổ phần. Trong đó có thể kể đến bài viết của các tác giả Nguyễn Thị
Lan Hương “Một số so sánh về Công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản
và Luật Doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 25, năm 2009; Lê Thị
4
chức, quản lý công ty cổ phần được đặt trong mối tương quan với quy định
của một số quốc gia về vấn đề này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Rủi ro trong công ty cổ phần là một vấn đề rất phức tạp, liên quan đến
nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, pháp lý , xã hội…Tuy nhiên, trong
phạm vi Luận văn Thạc sĩ Luật học, học viên chỉ đề cập đến vấn đề rủi ro
pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cổ phần được quy định trong Luật
Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan như Bộ luật Dân
sự năm 2015, Luật Chứng khoán, Luật Thương mại từ giai đoạn bước chân
vào thị trường cho tới việc tổ chức hoạt động của doanh nghiệp và cuối cùng
là giai đoạn chấm dứt hoạt động của công ty.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn đặt ra mục tiêu nghiên cứu nhằm: Làm rõ các vấn đề lý luận
rủi ro pháp lý và rủi ro pháp lý trong việc tổ chức, quản lý công ty cổ phần
theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014; Phân tích, đánh giá thực
trạng áp dụng, xác định các ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của
những bất cập, hạn chế đó trong rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty
cổ phần. Trên cơ sở các phân tích đó, Luận văn nhận diện được những yêu
cầu và các giải pháp cụ thể, thiết thực để nâng cao hiệu quả công tác thực thi
pháp luật nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý của CTCP.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết các nội dung đặt ra trong luận văn. Phương
pháp chính được sử dụng xuyên suốt nội dung luận văn là phương pháp tổng
hợp, phân tích, thống kê và luật học so sánh. Bên cạnh đó để giải quyết vấn đề
nghiên cứu, tác giả còn sử dụng phương pháp logic tại Chương 1; phương
pháp liên hệ thực tế, thống kê và so sánh để nêu rõ các nội dung ở Chương 2;
7
Chương 3. Yêu cầu và một số kiến nghị nhằm giảm thiểu các rủi ro
pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cổ phần.
8
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO PHÁP LÝ VÀ
PHÁP LUẬT VỀ RỦI RO PHÁP LÝ TRONG TỔ CHỨC, QUẢN
LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cổ phần
1.1.1. Nhận diện tổ chức, quản lý công ty cổ phần
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phẩn
a. Khái niệm
Công ty cổ phần (sau đây gọi tắt là CTCP) là một loại hình doanh
nghiệp phổ biến trên thế giới. Dù tồn tại ở quốc gia nào trên thế giới thì ngoài
những đặc điểm chung, CTCP vẫn luôn mang những nét đặc thù phản ánh
điều kiện cụ thể của quốc gia đó. Ở những nước theo hệ thống pháp luật Chấu
Âu lục địa (Civil Law), CTCP có quy chế pháp lý riêng và được phân biệt rõ
ràng với loại hình công ty đối vốn khác là Công ty trách nhiệm hữu hạn
(TNHH). Ví dụ: theo quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp, CTCP được gọi
là công ty vô danh, phải có ít nhất bảy cổ đông, vốn điều lệ của công ty được
chia thành các cổ phần với mệnh giá thống nhất, cổ đông được quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần2. Những nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ
(Common Law) lại không phân chia công ty đối vốn thành các loại khác nhau
một cách rõ ràng, và vì vậy thường không có quy chế pháp lý riêng cho loại
hình công ty cổ phần3. Tuy nhiên, ở các nước này vẫn tồn tại những công ty
có tính chất pháp lý tương tự như CTCP trong hệ thống pháp luật lục địa. Ví
nhau gọi là cổ phần; người chủ sở hữu cổ phần là cổ đông, họ là thành viên
công ty, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty và công ty được phát hành chứng
khoán để huy động vốn.
Như vậy, tựu chung lại có thể hiểu một cách thống nhất về khái niệm
CTCP đó là một loại hình công ty đối vốn, trong đó vốn điều lệ được chia làm
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; người sở hữu các cổ phần đó gọi là cổ
đông của công ty; các cổ đông có thể sở hữu một hay nhiều cổ phần và chịu
4
Liang Yu Chi (2016), Địa vị pháp lý của công ty cổ phần dưới góc độ so sánh pháp luật doanh nghiệp hiện
hành của Trung Quốc và Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.12.
10
trách nhiệm trong phạm vi cổ phần mà họ nắm giữ; đồng thời, công ty có
quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn.
b. Đặc điểm
Công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản dựa vào đó chúng ta phân
biệt với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh sau đây:
- Về thành viên công ty: Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có
3 thành viên tham gia CTCP. Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn,
cho nên có sự liên kết của nhiều thành viên và vì vậy, việc quy định số thành
viên tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế trong mấy trăm năm tồn tại
của công ty cổ phần. Ở hầu hết các nước đều có quy định số thành viên tối
thiểu của CTCP.
- Về vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được
Theo như phân tích ở trên, luận văn đã trình bày và làm rõ nội hàm của khái
niệm CTCP. Bởi vậy, để có thể hiểu rõ được khái niệm “tổ chức, quản lý
công ty cổ phần”, trong mục này luận văn sẽ tập trung làm rõ nội hàm và
ngoại diên của khái niệm “tổ chức, quản lí”.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “tổ chức” hiểu theo nghĩa của một động từ
có nghĩa là (i) “hành động sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thể, có một cấu
tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định”; (ii) làm những gì cần
thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất”6…
Còn “quản lý” là (i) “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”; (ii)
“tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”… Theo
tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), “Quản lý công ty là một hệ
5
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Thương mại (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.158
6
truy cập ngày 15/5/2017.
12
thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các
quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và
những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định
kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt
động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu
đó”7. Theo ngân hàng thế giới (WB), quản lý công ty được coi là một hệ
thống kết hợp các yếu tố luật pháp, thể chế và các hệ thống quản lý của công
ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực,
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tổ chức, quản lý CTCP là hệ thống các cơ
chế tổ chức điều hành và kiểm soát công ty, trong đó các quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể quản lý như cổ đông, Hội đồng quản trị (gọi tắt là HĐQT),
Giám đốc/Tổng giám đốc (gọi tắt là GĐ/TGĐ), Ban Kiểm soát (gọi tắt là
BKS) được phân định rõ ràng, giám sát thực hiện chặt chẽ.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tổ chức, quản lí công ty cổ phần bao gồm
một chuỗi các hành động của người quản lí, của cổ đông trong CTCP trong
việc đăng ký thành lập, tổ chức bộ máy của công ty, sắp xếp nhân sự, kí kết
hợp đồng, ra các quyết định… cho đến khi công ty chấm dứt hoạt động theo
quy định của pháp luật.
Nhằm mục đích bao quát được tất cả những rủi ro pháp lý có thể xảy ra
với CTCP, trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ phân tích khái niệm tổ chức,
quản lí công ty cổ phần theo nghĩa rộng nêu trên. Do đó, khái niệm “tổ chức,
quản lí Công ty cổ phần” ở đây có thể được hiểu trùng khớp với khái niệm “tổ
chức quản lí kinh doanh” và “quản trị doanh nghiệp”. Theo đó, tổ chức quản
lý kinh doanh là công tác sắp xếp, điều hành, quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp do GĐ hoặc Ban giám đốc (gọi tắt là BGĐ) thực
hiện. Quản trị doanh nghiệp được hiểu là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh
đạo, kiểm tra hoạt động của các thành viên nhằm thực hiện những mục tiêu
của doanh nghiệp. Còn tổ chức, quản lí công ty ở đây là việc tổ chức bộ máy
quản lý, công tác điều hành của công ty để duy trì và thúc đẩy hoạt động của
công ty, đảm bảo cho sự thành lập, hoạt động của công ty nhằm hoàn thành
được những mục tiêu nhất định đã đề ra. Đây là quá trình tác động của cổ
đông, của người quản lí, điều hành công ty tới hoạt động của toàn công ty
nhằm đảm bảo quyền lợi của mình. Như vậy, quản trị công ty và quản lý công
ty có sự trùng lắp nhất định. Mặc dù, quản trị công ty thường được xét dưới
góc độ kinh tế, còn quản lý nội bộ công ty là xét dưới góc độ pháp lý. Tuy
14
15
CTCP chính là cơ chế phân quyền và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực
trong công ty trên cơ sở tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh
công ty.
- Tổ chức, quản lý CTCP đảm bảo sự kiểm soát, giám sát giữa các cơ
quan quản lý: HĐQT và BGĐ được coi là cơ quan hành pháp, cơ quan điều
hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của Công ty; Còn BKS đóng vai trò
của cơ quan tư pháp, cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động của
HĐQT và BGĐ công ty. BKS trong công ty cổ phần ở Việt Nam được “thiết
kế” là một cơ quan (có thể hiểu đơn giản là “tư pháp”) riêng trong cơ cấu
HĐQT nội bộ của CTCP, cơ quan này có nhiệm vụ chuyên trách giám sát và
đánh giá HĐQT và những người quản lý điều hành nhân danh cổ đông vì lợi
ích của cổ đông của CTCP. Như vậy, vai trò của BKS trong mối quan hệ với
các bộ phận khác trong CTCP như ĐHĐCĐ, HĐQT, BGĐ, nhất là trong hoạt
động của CTCP thì BKS trong vai trò kiểm tra, giám sát và kiềm chế, đối
trọng với HĐQT và BGĐ để các hoạt động của công ty được hoạt động minh
bạch vì lợi ích của các cổ đông công ty.
c. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức, quản lý công ty cổ phần
* Các quy định pháp luật
Các quy định pháp luật về tổ chức quản lý CTCP tác động lên quan hệ
tổ chức quản lý CTCP. Trước hết các quy định pháp luật ghi nhận các nguyên
tắc cơ bản về quản lý CTCP, việc xây dựng trên cơ sở luật định và không
được trái với các quy định pháp luật.
Các quy định pháp luật tạo khung pháp lý cần thiết để bộ máy quản lý
nội bộ vận hành công ty. Với những quy định mang tính bắt buộc thì bộ máy
quản lý nội bộ CTCP nhất thiết phải tuân thủ. Với những quy định mang tính
mở, cho phép CTCP có quyền lựa chọn thì CTCP có quyền tự quyết định
trong khuôn khổ những quy định đó. Các quy định về điều kiện hoạt động, tổ
17
Trong quá trình thành lập cho đến bước vào hoạt động, CTCP có rất
nhiều văn bản theo quy định của pháp luật cũng như văn bản nội bộ như: Quy
chế làm việc, quy chế quản lý tài chính, quy chế quản lý nhân sự…
Quy chế làm việc là một trong những loại văn bản nội bộ vô cùng quan
trọng trong bất kỳ công ty nào, dù lớn hay nhỏ, dù đa ngành nghề hay đơn
ngành nghề. Bởi nếu không có quy chế làm việc thì hoạt động tổ chức, quản lí
công ty sẽ không đạt được kết quả ở mức tối đa. Quy chế làm việc sẽ quy
định các điều kiện như nguyên tắc làm việc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm
việc, quan hệ công tác và trình tự giải quyết công việc và công tác quản lý
thiết bị, tài sản, tài chính CTCP… tùy vào mục tiêu hoạt động của mỗi CTCP.
Quy chế quản lý tài chính CTCP sẽ đảm bảo mọi khoản chi tiêu đều theo quy
định, tránh sự tùy tiện hoặc lạm quyền của người quản lý, tạo được lòng tin,
giúp cổ đông gắn bó với công ty. Quản lý tài chính công ty không hiệu quả là
nguyên nhân chính khiến công việc kinh doanh của công ty kém hiệu quả,
mất đi niềm tin nơi thành viên và khiến họ muốn rời bỏ công ty nhằm bảo
toàn, cứu vãn vốn đầu tư đã bỏ ra. Quy chế quản lý nhân sự nhằm quản lý con
người – yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của mỗi công ty.
Các văn bản nội bộ này có giá trị áp dụng đối với công ty. Bên cạnh
Điều lệ công ty, các văn bản nội bộ có ảnh hưởng lớn đến bộ máy quản lý nội
bộ CTCP. Các văn bản này là “cánh tay nối dài” của Điều lệ công ty, cụ thể
hóa những quy định của Điều lệ. Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động của
mình, các công ty cổ phần cần phải tuân thủ chặt chẽ những văn bản này.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty
cổ phần
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro pháp lý trong công ty cổ phần
Khái niệm “rủi ro pháp lý trong công ty cổ phần” được cấu thành bởi