BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TRÀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TRÀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
bảo đảm thực hiện đúng hợp đồng của doanh nghiệp. .................................. 7
2. Phân biệt bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng với phạt vi phạm hợp
đồng .............................................................................................................. 12
3. Quan hệ giữa Bộ luật Dân sự 2015 với các luật khác trong việc xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng ................ 15
4. Sự phát triển của chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 ............................. 18
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 24
CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 .... 25
1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại .................................. 25
1.1. Hành vi vi phạm hợp đồng .................................................................... 26
1.1.1. Xác định hành vi vi phạm................................................................... 26
1.1.2. Những hình thái của hành vi vi phạm hợp đồng................................ 29
1.2. Có thiệt hại thực tế xảy ra..................................................................... 32
1.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra........ 33
1.4. Yếu tố lỗi ............................................................................................... 35
1.4.1. Khái niệm lỗi ...................................................................................... 35
1.4.2. Xác định lỗi của doanh nghiệp .......................................................... 39
2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng ........................... 40
3. Thiệt hại được bồi thường ........................................................................ 43
3.1. Những loại thiệt hại được bồi thường................................................... 43
3.2. Giá trị bồi thường thiệt hại ................................................................... 47
3.3. Nghĩa vụ chứng minh tổn thất và nghĩa vụ hạn chế tổn thất ................ 51
4. Trường hợp miễn bồi thường thiệt hại ..................................................... 53
4.1. Thoả thuận về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.......................... 54
4.2. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có sự kiện bất khả kháng ...... 56
4.2.1. Khái niệm sự kiện bất khả kháng ....................................................... 56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chế định hợp đồng là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng và
đồ sộ nhất của bất cứ Bộ luật Dân sự nào. Với tư cách là sự thỏa thuận giữa
các bên, hợp đồng là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể
tham gia quan vào quan hệ xã hội với nhau và thông qua việc thực hiện các
quan hệ xã hội đó, mà các chủ thể của đời sống dân sự thỏa mãn được các nhu
cầu vật chất và tinh thần của mình. Tuy nhiên, không phải mọi giao kết hợp
đồng đều có thể thực hiện một cách thuận lợi; việc một hoặc nhiều bên không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các điều khoản đã thỏa thuận là điều
thường xuyên diễn ra trong thực tế. Bởi hợp đồng chính là luật của các bên,
do đó, nếu hợp đồng không được thực hiện hoặc thực hiện sai lệch theo thỏa
thuận và gây ra sự thiệt hại thì người bị thiệt hại phải được đền bù xứng đáng.
Vì vậy, một trong những nhiệm vụ của bất cứ Bộ luật Dân sự nào cũng là xây
dựng cơ chế pháp lý để việc bồi thường thiệt hại đó được diễn ra một cách
thuận lợi. Trong cơ chế pháp lý đó, có các vấn đề như: thế nào là chế tài bồi
thường thiệt hại; căn cứ phát sinh chế tài bồi thường thiệt hại; những thiệt hại
nào được bồi thường; nguyên tắc bồi thường thiệt hại; những trường hợp miễn
trách nhiệm bồi thường thiệt hại…. Hiện nay, tại Việt Nam chế định về bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được quy định tại các văn bản pháp luật
khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo
hiểm,… Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các luật chuyên
ngành cần phải đảm bảo sự phù hợp với Bộ luật Dân sự với tư cách là luật gốc
của hệ thống luật tư.
Tuy nhiên, qua thực tiễn gần 10 năm triển khai thi hành, một số quy định
của Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại nói riêng đã dần trở nên không còn phù hợp với sự phát triển mạnh
1
- Quách Thúy Quỳnh (2005), Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong kinh doanh – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện,
Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Hoàng Thị Hà Phương (2011), Chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thu Huyền (2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, Luận văn thạc sỹ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Lê Thị Yến (2013), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu trên, hoặc là đã đề cập một cách khái quát các
hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung, hoặc là đã nghiên cứu
chuyên sâu về hình thức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Tuy
nhiên, tất cả các công trình này, lại nghiên cứu các vấn đề nêu trên trong bối
cảnh Bộ luật Dân sự 2005, do đó, tình thời sự đã có phần bị suy giảm.
Kể từ khi Bộ luật Dân sự 2015 ra đời và có hiệu lực, cũng đã có một số
công trình nghiên cứu về Bộ luật Dân sự 2015 nói chung, và về vấn đề trách
nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng, tuy nhiên, chỉ nghiên cứu một cách khát
quát. Đáng lưu ý nhất, trong số các công trình đó là các cuốn Bình luận khoa
học về Bộ luật Dân sự 2015 của PGS-TS Đỗ Văn Đại (2016, NXB. Hồng
Đức); của TS Nguyễn Minh Tuấn (2016, NXB. Tư pháp); của tập thể tác giả
khoa Dân sự, Đại học Luật Hà Nội mà chủ biên là PGS.TS Nguyễn Thị Huệ
và PGS.TS Nguyễn Văn Cừ (2017, NXB. Công an nhân dân). Như vậy, việc
nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập đến. Vì vậy, đề tài
„Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của doanh nghiệp
3
theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015” sẽ có tính mới và không bị trùng lặp
của pháp luật Việt Nam (đặc biệt là Bộ luật Dân sự 2015) về chế định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin về Nhà nước và pháp luật. Đồng thời, vận dụng những quan
điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới.
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như:
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh để đưa ra
những quan điểm, đánh giá khách quan và giải quyết các vấn đề khoa học.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại là vấn đề muôn thuở của tất cả
các Bộ luật Dân sự của thế giới cũng như của Việt Nam. Cũng chính vì tính
phổ biến và tầm quan trọng của chế định này, nên nó đã được nghiên cứu
nhiều ở nước ta. Tuy nhiên, Luận văn vẫn có nhiều điểm mới vì có những
đóng góp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, phân tích những điểm tiến bộ của Bộ luật Dân sự 2015, để mọi
người thấy được tầm quan trọng của Bộ luật Dân sự nói chung và các quy
định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng đối với các hoạt động của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Thứ hai, đã làm rõ được vai trò của các đạo luật chuyên ngành trong việc
ghi nhận chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Luận văn đã
chứng minh rằng, trong việc ghi nhận chế tài bồi thường thiệt hại thì vai trò
hàng đầu luôn thuộc về Bộ luật Dân sự với tư cách là luật gốc của hệ thống
luật tư. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận vai trò của các luật chuyên
ngành khác, trong đó, có Luật Thương mại. Như vậy, có thể khẳng định bồi
thường thiệt hại là một chế định pháp lý liên ngành.
5
Thứ ba, Luận văn cũng đã bước đầu nghiên cứu, phân tích và làm sáng
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM
BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
1. Bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng – công cụ pháp lý quan
trọng bảo đảm thực hiện đúng hợp đồng của doanh nghiệp.
Như chúng ta đã biết, khi hợp đồng bị vi phạm dưới hình thức không
thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng cam kết, bên vi phạm
sẽ phải gánh chịu một số biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với bên có quyền.
Pháp luật nước ta quy định hai hình thức chế tài vật chất cơ bản để bảo đảm
thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp nói riêng và các chủ thể quan hệ hợp
đồng nói chung, đó là bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng. Đây là
hai chế tài được quy định trong khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
nhau, nổi bật nhất là Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005. Phạt vi
phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó, bên vi phạm
nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm1. Trong khi đó, trên cơ
sở lý luận chung về bồi thường thiệt hại được quy định tại Bộ luật Dân sự,
Luật Thương mại 2005 định nghĩa bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm
phải bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra
cho bên bị vi phạm.2 Như vậy, có thể thấy, phạt vi phạm hợp đồng chỉ được
áp dụng khi có sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, còn bồi thường
thiệt hại là chế tài đương nhiên được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp
đồng và có thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm đó.
Về mối quan hệ giữa hai chế tài nêu trên, Khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân
sự 2015 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ
chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải
Khoản 1 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015
Khoản 1 Điều 302 Luật Thương mại 2005
1
2
8
tuyên bố vô hiệu. Một bên không được phép dùng hình thức phạt hợp đồng
như là một biện pháp răn đe hạn chế quyền tự do định đoạt của bên kia3.
Không chỉ Luật Hợp đồng của Hoa kỳ không có chế tài phạt hợp đồng mà Bộ
luật Dân sự của Cộng hòa Liêng bang Đức cũng không có quy định về chế tài
này. Khi vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, bên vi phạm chỉ phải bồi
thường thiệt hại cho bên bị vi phạm.4 Đối với hợp đồng thương mại quốc tế,
khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, một trong những chế tài được áp dụng
phổ biến là bồi thường thiệt hại. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa
quốc tế (Công ước CISG) cũng dành Mục II Chương 5 (Điều 74 đến Điều 77)
cho chế tài bồi thường thiệt hại, mà không có quy định nào về phạt hợp đồng.
Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế dành Mục 4
Chương 7 để thống nhất các vấn đề về bồi thường thiệt hại.
Để tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng với tư cách là công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo
đảm thực hiện hợp đồng, trước hết chúng ta cần tìm hiểu các quy định của Bộ
luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 về chế định trên.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, bồi thường thiệt hại được khai thác
theo hướng bồi thường do vi phạm nghĩa vụ, bởi lẽ, hợp đồng là một căn cứ
chủ yếu để phát sinh nghĩa vụ. Với tư cách là văn bản luật gốc điều chỉnh các
quan hệ tư, quy định của Bộ luật Dân sự là cơ sở để các văn bản luật khác quy
định về chế định bồi thường thiệt hại trong những lĩnh vực hoạt động đặc thù.
Trong quan hệ giữa các thương nhân (doanh nghiệp), pháp luật thương
mại ra đời là cần thiết để duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể
tham gia quan hệ hợp đồng. Khi một hợp đồng thương mại đã được giao kết
hợp pháp và phát sinh hiệu lực pháp luật, thì các bên phải thực hiện các nghĩa
vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu một bên có hành vi vi phạm
3
vi phạm hợp đồng
Trong quan hệ hợp đồng, nếu một bên không thực hiện, thực hiện không
đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng thì phải gánh chịu những hậu
quả bất lợi mang tính chất tài sản, căn cứ áp dụng là theo sự cam kết giữa các
bên hoặc theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Luật Thương mại
2005 có 06 hình thức chế tài được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng
trong đó có chế tài bồi thường thiệt hại.
10
Thứ hai, chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài mang tính chất tài sản
Khi thương nhân (doanh nghiệp) thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng,
thì họ phải gánh chịu những tác động xấu (bất lợi) từ phía Nhà nước và đối
tác. Mục đích của các biện pháp tác động này là nhằm nâng cao ý thức chấp
hành hợp đồng, bảo đảm trật tự kinh tế cũng như quyền và lợi ích của các chủ
thể trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, nên việc áp dụng các chế tài mang
tính tài sản trong đó có chế tài bồi thường thiệt hại là tất yếu, trừ khi chính
bản thân người bị vi phạm trong cùng quan hệ hợp đồng không muốn áp dụng
chế tài tài sản này đối với bên vi phạm. Tóm lại, doanh nghiệp sinh ra là để
thực hiện hoạt động sản xuất – kinh doanh, là để kiếm tiền một cách hợp
pháp. Vì vậy, các quan hệ hợp đồng mà doanh nghiệp xác lập với nhau chủ
yếu là quan hệ hàng hóa – tiền tệ và việc thực hiện thành công hay không
thành công các quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến mục đích hoạt động của
doanh nghiệp. Chính vì vậy, nhà lập pháp (Quốc hội) đã phải căn cứ vào nhu
cầu của các doanh nghiệp để xác định biện pháp chế tài nào là cần thiết phải
áp dụng khi một chủ thể nào đó “bội ước” (không thi hành hoặc thi hành
không đúng hợp đồng). Và nhà lập pháp đã đúng khi chọn chế tài bồi thường
thiệt hại là một chế tài tài sản. Đánh vào túi tiền của các bên vi phạm hợp
đồng và gây ra thiệt hại thì chỉ có biện pháp chế tài tài sản là hữu hiệu nhất.
Thứ ba, chủ thể lựa chọn và quyết định hình thức chế tài buộc bồi
để áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là phải có hành vi vi
phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm. Mặc dù có nhiều điểm giống nhau,
song vì bồi thường thiệt hại là dựa trên việc chứng minh tổn thất thực tế xảy
ra, chứ không phải là dự đoán của các bên nên chế tài phạt vi phạm hợp đồng
và bồi thường thiệt hại cũng có điểm khác nhau, cụ thể:
Thứ nhất, về mục đích áp dụng.
Phạt vi phạm hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động trực
tiếp vào ý thức của các chủ thể hợp đồng, nhằm giáo dục ý thức tôn trọng hợp
12
đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng. Còn mục đích của chế tài bồi thường
thiệt hại là buộc bên vi phạm phải bồi thường những tổn thất tài sản do hành
vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra cho bên bị vi phạm. Đối với bên bị vi
phạm hợp đồng, chế tài bồi thường thiệt hại là một biện pháp hữu hiệu nhất
nhằm khôi phục lợi ích về tài sản, bù đắp những tổn thất mà họ phải gánh
chịu do hành vi vi phạm của bên kia. Đó là toàn bộ những tổn thất thực tế,
trực tiếp cũng như những khoản lợi đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi
vi phạm hợp đồng. Nói một cách ngắn gọn, phạt vi phạm và bồi thường thiệt
hại có sự khác nhau về chức năng: nếu chức năng chủ yếu của chế tài phạt vi
phạm là trừng phạt, là cảnh cáo những ai coi thường nghĩa vụ thi hành hợp
đồng thì chức năng chủ yếu của bồi thường thiệt hại là khôi phục, bù đắp
những mất mát mà một bên phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng.
Thứ hai, về căn cứ (điều kiện) áp dụng biện pháp chế tài.
Theo quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, phạt vi phạm là sự
thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ phải
nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Như vậy, phạt vi phạm được áp dụng
khi có vi phạm hợp đồng, có lỗi của bên vi phạm và đặc biệt chế tài này phải
được các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
Đối với chế tài bồi thường thiệt hại, Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 quy
thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu
do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được
hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại
không áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất, bên vi phạm hợp đồng có
quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ
có thể hạn chế được.6
Điều 301 Luật Thương mại 2005
Khoản 2 Điều 302; Điều 305 Luật Thương mại 2005
5
6
14
Như vậy, nếu như trong trường hợp áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp
đồng, các bên có quyền tự do thỏa thuận về mức giá trị vật chất mà bên vi
phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm thì mức giá trị vật chất trong chế
tài bồi thường thiệt hại lại không thể như vậy mà được xác định trên cơ sở giá
trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do hành vi vi phạm
gây ra.
Thứ tư, về tính ưa dùng của chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Như phần trên đã trình bày, có hai hình thức chế tài tài sản được Bộ luật
Dân sự 2015 ghi nhận, đó là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Trong hai
biện pháp chế tài tài sản này thì biện pháp phạt vi phạm luôn được các bên
quan tâm vì tính đơn giản, thuận tiện trong việc ghi nhận và thực hiện trong
thực tế. Trong khi muốn áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thì bên bị vi
phạm phải làm rất nhiều việc, đặc biệt là phải chứng minh có thiệt hại thực tế
xảy ra, có thiệt hại gián tiếp (thu nhập không thu được hay còn giọi là thu
nhập bị bỏ lỡ…) đây là việc không hề dễ chút nào trong thực tế. Trong khi đó,
Ngoài những quy định chung mang tính chất nguyên tắc về căn cứ phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, các loại
thiệt hại được bồi thường… được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật
Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định của pháp
luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của doanh nghiệp còn có thể
tìm thấy trong các luật chuyên ngành quy định về hoạt động thương mại trong
từng lĩnh vực cụ thể như: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006
(sửa đổi, bổ sung năm 2014) trong đó có quy định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
(Chương VII Luật Hàng không dân dụng); Bộ luật hàng hải Việt Nam năm
2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vận
chuyển hàng hóa bằng đường biển (Chương VII Hợp đồng vận chuyển hàng
16
hóa bằng đường biển); Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung
năm 2010) quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
bảo hiểm,... Như vậy, trong từng lĩnh vực cụ thể như kinh doanh bảo hiểm,
hàng hải, hàng không dân dụng… chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng đều có các văn bản pháp luật tương ứng - thường được gọi là luật
chuyên ngành, điều chỉnh.
Đối với quan hệ hợp đồng, giai đoạn từ 01/01/2006 đến nay, luật chung
là Bộ luật Dân sự, còn luật chuyên ngành là Luật Thương mại, Luật Kinh
doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng…Việc xác định luật chung và luật chuyên
ngành còn phụ thuộc vào từng quan hệ hợp đồng. Ví dụ, trong một số trường
hợp, Luật Thương mại là luật chuyên ngành trong mối quan hệ với Bộ luật
Dân sự, trong một số trường hợp khác, Luật Thương mại lại là luật chung
trong mối quan hệ với các luật chuyên ngành khác.
Trong trường hợp luật chuyên ngành có những quy định khác với luật
chung thì ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành. Nếu có vấn đề không được quy
Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01/01/2017. Với việc sửa đổi, bổ sung gần như toàn bộ các quy định (chỉ
giữ nguyên 81 điều)7, Bộ luật Dân sự 2015 đã có nhiều điểm mới phát triển,
tiến bộ hơn so với Bộ luật Dân sự 2005, đặc biệt là chế định bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 “Hợp đồng là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”. Hợp đồng hợp pháp là một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ
giữa các bên chủ thể của hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, khi
bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của
mình, thì bên đó sẽ phải gánh chịu một số hậu quả pháp lý bất lợi mà dưới
7
Đinh Trung Tụng (chủ biên, 2016), Bối cảnh xây dựng và một số nội dung mới chủ yếu của Bộ
luật Dân sự 2015 (So sánh với Bộ luật Dân sự 2005), NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 17.
18
góc độ khoa học pháp lý được gọi là trách nhiệm dân sự. Trong đó, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những trách nhiệm dân sự được ghi
nhận tại Điều 11 Bộ luật Dân sự 2015.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là một trong
những nội dung được bổ sung một cách cơ bản so với quy định tại Bộ luật
Dân sự 2005. Thay vì chỉ quy định chung trong một điều luật (Điều 307 Bộ
luật Dân sự 2005), Bộ luật Dân sự 2015 dành tới 04 (bốn) điều luật để quy
định về nội dung này (từ Điều 360 đến Điều 363 Bộ luật Dân sự 2015). Từ
quy định tại những điều này có thể thấy một số nội dung mới phát triển, nổi
bật như sau:
Thứ nhất, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được ghi nhận đầy đủ