Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở việt nam - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

BÙI THANH HƢƠNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

BÙI THANH HƢƠNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Thị Hằng



Người sử dụng lao động


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƢƠNG 1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT
BUỘC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC .............. 6
1.1.Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc.................................................... 6
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc ................................................ 6
1.1.2.Ý nghĩa của bảo hiểm xã hội bắt buộc............................................... 9
1.2. Khái niệm và nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ............ 11
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ......................... 11
1.2.2. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ........................... 11
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 29
CHƢƠNG 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 30
2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ...................................... 30
2.2. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc .............................................................. 32
2.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc ................................................... 34
2.3.1. Chế độ bảo hiểm ốm đau ................................................................ 34
2.3.2. Chế độ bảo hiểm thai sản ............................................................... 39
2.3.3. Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ................... 46
2.3.4. Chế độ bảo hiểm hưu trí ................................................................. 54
2.3.5. Chế độ bảo hiểm tử tuất .................................................................. 62
2.4. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc . 65
2.4.1. Xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................... 65
2.4.2. Giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc ....................... 68
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 72


xã hội bắt buộc nhằm phát huy đầy đủ vai trò trụ cột của bảo hiểm xã hội, góp
phần quan trọng không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn nhằm mục tiêu ổn
định xã hội và an sinh cho mọi người dân. Những nội dung này đã được cụ
thể hóa tại Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành
Trung ương khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 –
2020. Nghị quyết này nêu rõ: “Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn
diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân
cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng và với
mục tiêu Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham
gia bảo hiểm xã hội”. Tiếp đó, tại Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày
22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 tiếp tục khẳng
định và đặt ra mục tiêu “Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo
hiểm xã hội”.
Để tổ chức thực hiện các chính sách này, ngày 20/11/2014 Quốc hội đã
thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2104, có hiệu lực thi hành từ ngày


2

1/1/2016 thay thế Luật bảo hiểm xã hội năm 2006. Có thể nói, Luật Bảo hiểm
xã hội năm 2014 ra đời đã khắc phục được nhiều điểm bất cập trong Luật Bảo
hiểm xã hội năm 2006, đặc biệt, sự thay đổi quy định trong các chế độ trợ cấp
của bảo hiểm xã hội bắt buộc được nhiều chuyên gia đánh giá là sự thay đổi
có lợi cho người lao động. Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện dù chưa
thật dài, bên cạnh những thành tựu đã đạt được không thể phủ nhận, một số
quy định pháp luật hiện hành đã bộc lộ hạn chế, bất cập.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở
Việt Nam để từ đó hoàn thiện các chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt

về bảo hiểm xã hội, góp phần hoàn thiện chiến lược an sinh xã hội,
Tạp chí Cộng sản, số 11/2012; PGS. TS. Nguyễn Hữu Chí và Ths.
Bùi Thị Kim Ngân, Một số bình luận pháp lý liên quan đến Đ. 60
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Tạp chí Luật học, số 6/2015.
Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đề cập ở mức độ khác
nhau pháp luật về bảo hiểm xã hội nói chung, hoặc một vài khía cạnh của
pháp luật bảo hiểm xã hội, hoặc về bảo hiểm xã hội bắt buộc với thực tiễn
thực hiện pháp luật trong phạm vi một địa phương nhất định, tùy theo mục
đích nghiên cứu của mỗi công trình. Với đề tài này tác giả sẽ tập trung đi sâu
vào nghiên cứu và phân tích nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về
bảo hiểm xã hội bắt buộc, có gắn với thực tiễn thực hiện chủ yếu từ những
năm gần đây để từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như thực
hiện hiệu quả chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc trên thực tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở các nghiên cứu về lý luận và các đánh
giá về nội dung quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm xã hội bắt buộc
cũng như thực tiễn thực hiện, luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện
pháp luật và tổ chức thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về bảo
hiểm xã hội bắt buộc trong thực tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài xác định
các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:


4

- Luận giải một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp
luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Phân tích và đánh giá nội dung quy định pháp luật bảo hiểm xã hội
bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam.
- Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện

nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp
luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm xã
hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam.


6

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc
Để tồn tại và phát triển, trước hết con người phải lao động. Thông qua
lao động, con người tác động vào thế giới khách quan để tạo ra của cải vật
chất, tinh thần th a mãn nhu cầu của mình. Tuy nhiên, trong quá trình lao
động sản xuất, song song với những thuận lợi, con người thường gặp phải
những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công
việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh
hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào các trường hợp đó, các
nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi, trái lại, có nhu cầu
còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới. Bởi vậy, muốn tồn
tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách
giải quyết khác nhau. Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn

là vấn đề của mỗi quốc gia, nó xuất hiện từ rất lâu và mầm mống của nó từ
thế kỉ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu
phát triển. Tuy nhiên, ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai với phạm vi
nh hẹp.
Hệ thống BHXH đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỉ XIX là
công trình của Chính phủ Đức dưới thời thủ tướng Bismark (1883 – 1889).
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin,
rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh
thế giới thứ hai, BHXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu
Á, châu Phi và vùng Caribê. BHXH dần dần đã trở thành một trụ cột cơ bản
của hệ thống An sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong
những quyền con người. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc
(10/12/1948) đã ghi nhận: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã
hội có quyền hưởng BHXH”. Công ước số 102 năm 1952 về an sinh xã hội


8

của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng khẳng định các nước phải tiến
hành BHXH cho NLĐ và gia đình họ. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều thực hiện chính sách BHXH và coi đó là một trong những chính sách
quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội.
Khi bàn về khái niệm BHXH, tùy vào góc độ nghiên cứu mà khái niệm
BHXH được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa BHXH là sự bảo đảm những quyền lợi
vật chất cho công nhân viên chức khi không làm việc vì ốm đau, sinh đẻ, già
yếu, bị tai nạn lao động1.
Theo Từ điển Giải thích từ ngữ Luật học thì BHXH là bảo hiểm cho
thu nhập của NLĐ trong một số trường hợp, do Nhà nước tổ chức quản lý2.
Đặc trưng cơ bản để phân biệt BHXH với các hình thức bảo hiểm khác là sự

tượng này dù muốn hay không muốn cũng bắt buộc phải tham gia BHXH.
BHXH bắt buộc do nhà nước tổ chức thực hiện, được áp dụng với phạm vi
đối tượng rộng; tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi quốc
gia quy định về đối tượng tham gia, các chế độ BHXH khác nhau.
Như vậy, có thể khái quát về BHXH bắt buộc như sau: BHXH bắt buộc
là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức, thực hiện, được bắt buộc áp dụng
đối với một số đối tượng là NLĐ và NSDLĐ theo quy định của pháp luật.
1.1.2.Ý nghĩa của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Đối với người lao động
BHXH bắt buộc giúp ổn định cuộc sống NLĐ, trợ giúp NLĐ khi gặp
rủi ro. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn
thiện quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một
cách thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi
ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho NLĐ vế cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh
hưởng không tốt cho cả cộng đồng.
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những NLĐ gặp phải rủi ro,
bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện
lao động thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ
một niềm tin vào tương lai.
Đối với người sử dụng lao động


10

Việc tham gia BHXH bắt buộc thể hiện trách nhiệm của NSDLĐ đối
với NLĐ. Khi NLĐ gặp phải những rủi ro nảy sinh trong quá trình lao động
như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, NSDLĐ đương nhiên phải có trách
nhiệm với NLĐ mà mình thuê mướn. Ngoài ra, NSDLĐ cũng cần chia sẻ

trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội của các quốc gia.
Pháp luật về BHXH bắt buộc là tổng hợp các quy định của Nhà nước
điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và sử dụng
một quỹ tiền tệ tập trung, dựa trên sự đóng góp bắt buộc của NSDLĐ và
những NLĐ nhất định nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần cho
NLĐ và gia đình khi họ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập.
Các quốc gia đều xác định BHXH bắt buộc có vai trò vô cùng quan
trọng, song sự điều chỉnh pháp luật đối với BHXH bắt buộc ở các quốc gia
cũng có sự khác nhau nhất định, thậm chí ở một quốc gia trong những giai
đoạn phát triển khác nhau cũng khác nhau. Sự khác nhau này phụ thuộc vào
quan niệm về BHXH bắt buộc, mô hình BHXH bắt buộc, điều kiện kinh tếxã hội để thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều xác định đối tượng điều chỉnh của
pháp luật về BHXH bắt buộc là các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình
tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung, do sự đóng góp bắt buộc của
NSDLĐ và những NLĐ nhất định nhằm đảm bảo các điều kiện vật chất và
tinh thần cho NLĐ và gia đình khi họ gặp rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập.
Ngoài ra, các quốc gia đều xác định nội dung cơ bản của pháp luật
BHXH bắt buộc bao gồm: đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc, các chế độ
BHXH bắt buộc và tài chính đảm bảo thực hiện trợ cấp BHXH bắt buộc.
1.2.2. Nội dung pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc


12

Xuất phát từ nhu cầu của NLĐ, NSDLĐ và nhà nước, BHXH ra đời
như một biện pháp hữu hiệu nhất bảo vệ NLĐ trước những biến cố về thu
nhập. Từ việc xác định BHXH là quyền của mọi NLĐ nên đối tượng áp dụng
BHXH được pháp luật hầu hết các quốc gia quy định chung là mọi NLĐ trong
xã hội, không có sự phân biệt theo tiêu chí nào. Tuy nhiên, trên thực tế do

Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia có những quy định
khác nhau về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Có quốc gia quy định đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc là những người tham gia quan hệ lao động
một cách thường xuyên, ổn định như Việt Nam. Bên cạnh đó, có một số quốc
gia lại quy định đối tượng tham gia không phụ thuộc vào quan hệ lao động
như pháp luật BHXH Đan Mạch có quy định mọi người dân được hưởng chế
độ bảo hiểm từ hệ thống chăm sóc sức kh e quốc gia, trợ cấp gia đình và trợ
cấp người già mà không phụ thuộc vào hoạt động nghề nghiệp. Hay như tại
Hà Lan, có hai loại hình BHXH là BHXH đối với những người làm công ăn
lương và BHXH quốc gia. BHXH của những người làm công ăn lương bảo
đảm chi phí duy nhất cho những người làm công ăn lương và những người
tương tự như vậy. Để được thụ hưởng chế độ BHXH này, phải có một hợp
đồng lao động, ít nhất giống như người làm công ăn lương. Đó là những
trường hợp học nghề, những NLĐ tại nhà hoặc trong các phân xưởng được
bảo hiểm. Những NLĐ thật sự độc lập không giống người làm công ăn lương
và công chức có chế độ riêng4.
1.2.2.2. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Để đảm bảo tài chính chi trả các chế độ BHXH bắt buộc, thường thiết
lập một quỹ BHXH.
Quỹ BHXH bắt buộc là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, nằm ngoài
ngân sách nhà nước.
Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.Tuy nhiên, một
trong những nguồn cơ bản là sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ. Về phía
NSDLĐ, sự đóng góp một phần BHXH cho NLĐ sẽ tránh được những thiệt
hại kinh tế do phải chi ra một khoàn tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ
mà mình thuê mướn và thể hiện trách nhiêm đối với NLĐ mà họ đang sử
dụng. Về phía NLĐ, sự đóng góp thể hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của
4

Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới,

thời kỳ, Nhà nước có thể quy định một mức trần chi quản lý, tương đương với
chất lượng dịch vụ BHXH, quy mô hệ thống và thời gian hoạt động.
5

Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới,
Nbx. Tư pháp, Hà Nội, tr.329.


15

Về tổ chức và quản lý quỹ BHXH, tùy thuộc vào mô hình tổ chức quỹ
BHXH mà các quốc gia quy định việc quản lý quỹ BHXH. Do điều kiện kinh
tế – xã hội và chính trị của mỗi nước khác nhau nên hệ thống BHXH của các
nước được xây dựng khác nhau và vì vậy không có mô hình tổ chức BHXH
chung cho tất cả các nước. Thông thường các quốc gia thiết lập hệ thống các
cơ quan từ trung ương đến địa phương để quản lý quỹ BHXH.Có một số nước
lại giao cho một bộ nào đó đảm nhận cả chức năng quản lý Nhà nước về
BHXH và tổ chức thực hiện các nghiệp vụ BHXH.
1.2.2.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Về nguyên tắc, BHXH phải đảm bảo an toàn kinh tế cho mọi NLĐ
trong mọi trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động. Tuy nhiên, tùy theo
điều kiện kinh tế-xã hội của từng quốc gia trong từng giai đoạn mà các chế độ
BHXH được quy định khác nhau.
Theo Công ước số 102 ngày 25/6/1952 của ILO thì hệ thống BHXH
bao gồm 9 chế độ gồm: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp,
trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình,
trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp mất người nuôi dưỡng. Bên cạnh đó,
ILO cũng khuyến nghị mỗi quốc gia tham gia công ước có thể quy định các
chế độ bắt buộc khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, mỗi
quốc gia phải thực hiện ít nhất 3 chế độ và phải có một trong năm chế độ là

ro (mà không phải tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp).
Khi ốm đau, NLĐ và gia đình họ tạm thời mất đi một phần thu nhập từ
lao động, trong khi đó họ phải gánh chịu thêm rất nhiều chi phí khác để khám,
chữa bệnh. Vì vậy, bảo hiểm ốm đau sẽ hỗ trợ một phần chi phí chữa trị bệnh
tật cho NLĐ, duy trì cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình NLĐ. Từ
đó giúp ổn định thu nhập, ổn định đời sống cho NLĐ, tạo tâm lý yên tâm cho
NLĐ trong quá trình làm việc.
Đối với NSDLĐ, bảo hiểm ốm đau gắn trách nhiệm của NSDLĐ với
NLĐ khi sử dụng lao động. Khi thu nhập, đời sống của NLĐ được đảm bảo


17

thì họ sẽ thoải mái phát huy tinh thần sáng tạo, tăng năng suất lao động, góp
phần vào sự phát triển chung của doanh nghiệp.
Đối với Nhà nước, xã hội, bảo hiểm có ý nghĩa về mọi mặt chính trị,
kinh tế, xã hội.
Đối tượng áp dụng của chế độ bảo hiểm ốm đau là NLĐ tham gia
BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp NLĐ bị ốm
đau hay tai nạn rủi ro họ đều được hưởng bảo hiểm mà phải đáp ứng đầy đủ
các điều kiện luật định.
Bị ốm đau (không phải bệnh nghề nghiệp) được coi là điều kiện tiền đề
của chế độ bảo hiểm ốm đau, nhưng chỉ những trường hợp ốm đau mang tính
khách quan (không phải do lỗi của NLĐ) mới trở thành điều kiện hưởng bảo
hiểm ở chế độ bảo hiểm ốm đau. Còn những trường hợp NLĐ nghỉ việc do họ
tự hủy hoại sức kh e của mình, do say rượu, dùng các chất ma túy hay các
chất gây nghiện khác thì họ sẽ không được hưởng bảo hiểm ở chế độ này. Khi
NLĐ bị ốm đau hệ quả thường xảy ra là họ phải nghỉ việc để điều trị
bệnh.Đây cũng là điều kiện quan trọng để xác định nhu cầu bảo hiểm thực sự
của NLĐ đồng thời đảm bảo nguồn chi đúng mục đích và phát huy tác dụng

Mức hưởng trợ cấp ốm đau được ILO đề xuất khiêm tốn cho các quốc
gia phê chuẩn Công ước số 102 bằng 45% tiền lương và thời gian hưởng từ
13 đến 26 tuần trong một năm tùy từng trường hợp ốm đau (Điều 67 Công
ước số 102). Trong Công ước số 130 năm 1960 về chăm sóc y tế và trợ cấp
ốm đau, đã ấn định mức 60% tiền lương và coi đây là quy chuẩn. Trong khu
vực, Thái Lan quy định bằng 50% tiền lương, tối đa 250 bath/ngày, Philippin
quy định bằng 90% tiền lương, Malaysia quy định bằng 80% tiền lương,
Trung Quốc quy định 60% đến 100% tiền lương tùy thuộc thời gian đóng bảo
hiểm6.
Bảo hiểm thai sản

6

Ts. Nguyễn Hiền Phương, (2010), Pháp luật an sinh xã hội những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Tư
Pháp, Hà Nội, Tr.71.


19

Trong xã hội, lao động nữ chiếm một tỷ lệ lớn trong lực lượng lao
động. Lao động nữ vừa tham gia lao động trong mọi ngành nghề, lĩnh vực của
xã hội vừa phải thực hiện thiên chức làm mẹ. Trong thời gian mang thai, sinh
đẻ, họ phải nghỉ việc trong một khoảng thời gian nhất định, sức kh e thì suy
giảm nên ảnh hưởng không nh đến đời sống của bản thân họ và gia đình. Vì
vậy, để bảo vệ NLĐ nói chung, lao động nữ và trẻ sơ sinh nói riêng, hầu hết
các quốc gia trên thế giới đều có chính sách về bảo hiểm thai sản. Tuy nhiên,
tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội mà mỗi quốc gia có quy định
khác nhau về chế độ bảo hiểm thai sản. Dù khác nhau về đối tượng hưởng,
thời gian nghỉ và mức trợ cấp nhưng pháp luật các nước đều giống nhau về
mục đích hướng tới của chế độ bảo hiểm thai sản là thông qua việc bù đắp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status