I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................
2 .Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.........................................................
3. Đối tuợng nghiên cứu ................................................................................
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài...........................................................................
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài...................................................................
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận................................................................................................
2. Thực trạng...................................................................................................
2.1 Thuận Lơi - khó khăn................................................................................
2.2 Thành Công - Hạn Chế..............................................................................
2.3 Mặt Mạnh - Mặt Yếu.................................................................................
2.4 Các Nguyên Nhân - Các Yếu Tố Tác Động..............................................
2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
3. Giải pháp, biện pháp.................................................................................
3.1 Mục tiêu cac giải pháp-biện pháp..............................................................
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp.........................................
3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp....................................................................
3.4 Mối quan hệ giữa giải pháp và biện pháp..................................................
3.5 Kết quả khảo nghiệm.................................................................................
4. Kết quả thu được khi nghiên cứu................................................................
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận………………………………………………………………
2. Kiến nghị…………………………………………………………….
1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÍ NGHIỆM GIÚP TRẺ HỨNG THÚ
HƠN TRONG KHÁM PHÁ KHOA HỌC
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
1.Lý do chọn đề tài:
Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu của quá trình giáo dục, giáo viên mầm
trẻ. Thông qua cac môn học giúp trẻ làm quen và tiếp xúc với thế giới xung quanh,
hình thành ở trẻ những biểu tượng, phong phú, đa dạng hơn.
Ở trường mầm non, các môn học đều hướng tới một mục tiêu giáo dục chung
đó là phát triển toàn diện nhân cách của trẻ trong đó không thể thiếu môn học:
Khám phá khoa học là một nội dung mới trong chương trình giáo dục mầm non
(ban hành tháng 7/2009) thay cho nội dung “Làm quen với Môi trường xung
quanh” (MTXQ) trong chương trình trước đó. Khám phá MTXQ là một quá trình
tiếp xúc, tìm tòi tích cực từ phía trẻ nhằm phát hiện những cái mới, những cái ẩn
dấu trong các sự vật, hiện tượng xung quanh.
Môn học này nhằm hình thành những biểu tượng đúng đắn về các sự vật hiện
tượng xung quanh, cung cấp cho trẻ những tri thức đơn giản có hệ thống về thế giới
xung quanh và giáo dục thái độ ứng xử đúng đắn với thiên nhiên, với xã hội cho
trẻ. Đồng thời môn học này góp phần giúp trẻ phát triển và hoàn thiện các quá trình
tâm lý, góp phần quan trọng trong việc giáo dục tình cảm, thẩm mỹ, đạo đức, hình
thành ở trẻ những cảm xúc tích cực và tích luỹ những tri thức, kinh nghiệm của
cuộc sống làm tiền đề cho trẻ sau này.
Thế nhưng việc thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục mầm non ngày nay
đòi hỏi sự phát huy tính sáng tạo của giáo viên và khuyến khích sự ham thich học
hỏi của trẻ đã đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo viên mầm non trong quá trình
lựa chon và tổ chức các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ. Nếu như chương
trình giáo dục mầm non cải cách trước đây giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp
trực quan và dùng lời để dạy trẻ thì trong chương trình giáo dục mầm non mới lại
3
yêu cầu giáo viên phải tăng cường sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để lôi cuốn
trẻ vào hoạt động, các phương pháp thí nghiệm, thực nghiệm để trẻ được trải
nghiệm, được khám phá khi tham gia các hoạt động khám phá khoa học. Vì vậy để
làm tốt những yêu cầu đó tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp thí nghiệm giúp
trẻ hứng thú hơn môn khám phá khoa học” làm đề tài nghiên cứu cho mình.
Với tình hình thực tiễn hiện nay việc tổ chức các hoạt động cho trẻ mẫu giáo
khám phá khoa học của giáo viên còn nhiều vướng mắc. Trẻ tham gia vào hoạt động
khám phá khoa học chủ yếu trong giờ hoạt động chung môn khám phá khoa học và
tại
hai góc là góc thiên nhiên và góc em yêu khoa học ở các lớp học
- Tạo môi trường học tập cho trẻ.
- Hướng dẫn trẻ khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ.
- Các biện pháp, hình thức hỗ trợ.
- Các trò chơi thực nghiệm qua đó giúp trẻ phát triển toàn diện tạo cơ sở
bước đầu vững chắc cho tương lai của trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp thí nghiệm sư phạm nhằm mục đích phát triển hứng thú
cho trẻ học tốt môn khám phá khoa học
4. Giới hạn Phạm vi nghiên cứu:
Trẻ 3-5 tuổi trường mầm non Sơn ca
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp làm mẫu
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp tham khảo các tài liệu sách báo có liên quan môi trường xung
quanh
II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lý luận:
5
Tâm lý học và giáo dục học đã chứng minh rằng quá trình nhận thức của trẻ
là hình ảnh “thu nhỏ” của quá trình nhận thức loài người. Cho trẻ làm quen với bộ
môn khám phá khoa học có một tầm quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ mầm
non. Đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Vì thông qua việc dạy trẻ khám phá môi
cứu trong đề tài này sẽ là minh chứng cho những biện pháp khắc phục nhược điểm
của việc giúp trẻ khám phá khoa học.
Trong quá trình làm việc chăm sóc giáo dục trẻ tại lớp và nhìn chung vào
thực tế khi làm việc bản thân tôi cũng thấy được một số thuận lợi và khó khăn nhất
định:
2.1. Thuận lợi và khó khăn
* Thuận lợi
- Được sự quan tâm của Phòng GD&ĐT, sự chỉ đạo kịp thời của nhà trường,
thường xuyên quan tâm bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.
- Nhà trường luôn nâng cao chất lượng cơ sở vật chất lên hàng đầu vì đây là
một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường
đạt hiệu quả cao.
- Trường có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi, tivi, máy
tính… phục vụ giảng dạy.
- Nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên được tập huấn chuyên môn
- Ban giám hiệu luôn sát sao chỉ đạo giáo viên về chuyên môn, thường xuyên
dự giờ thăm lớp để nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Các chương trình truyền thông, internet vô cùng phong phú tạo diều kiện
cho giáo viên tìm tòi sưu tầm
7
- Bản thân luôn yêu nghề mến trẻ, ham học hỏi nâng cao chuyên môn. Tìm
tòi và tự làm một số đồ dùng, đồ chơi để phục vụ tiết dạy vào hoạt động vui chơi
của trẻ.
- Trẻ chăm ngoan, có nề nếp và hứng thú, ham học hỏi
- Đồng nghiệp trong trường luôn chia sẻ lẫn nhau về cách thức chăm sóc
giáo dục trẻ
- Trường tạo môi trường cho trẻ được hòa mình với thiên nhiên thông qua
các trò chơi…
* Khó Khăn:
nghề truyền thống hoặc đi tham quan sở thú tìm hiểu về các con vật thật…
- Mất nhiều thời gian để chuẩn bị
- Vốn hiểu biết về môi trường thiên nhiên cũng như xã hội của trẻ còn hạn
chế.
2.3. Mặt mạnh - mặt yếu
* Mặt Mạnh:
- Khám phá khoa học trong giáo dục mầm non tạo ra một môi trường dạy học
tương tác cao, sống động, hứng thú và đạt hiệu quả cao của quá trình dạy học đa
giác quan cho trẻ.
- Nội dung, tư liệu bài giảng giới thiệu cho trẻ mang tính chân thực, phong
phú. Qua khám phá khoa học trẻ có thể làm quen với những hiện tượng tự nhiên,
hiện tượng xã hội xảy ra xung quanh trẻ.
*Mặt yếu:
Để có thể cho trẻ được trải nghiệm các hoạt động với môi trường thiên
nhiên, hay môi trường xã hội thì không phải trường nào cũng có điều kiện để thực
hiện được vì mỗi trường có những điều kiện về mặt bằng, cơ sở vật chất khác nhau.
- Từ những thực trạng nêu trên, bên cạnh những thành công và hạn chế,
những mặt mạnh và mặt yếu mà bộ môn khám phá khoa học mang lại thì lòng yêu
9
trẻ, yêu nghề luôn thôi thúc tôi hãy làm một điều gì đó để góp phần nhỏ bé của
mình vào công việc “trồng người” của đất nước.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
- Tạo được sự thu hút, sự ham thích học hỏi, kích thích trẻ tìm tòi, khám phá,
trải nghiệm trong học tập, vui chơi, và trong cuộc sống.
- Thu hút và tạo được sự quan tâm trong quá trình học tập, vui chơi của phụ
huynh đối với trẻ.
2.5. Phân tích đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
- Đối với trẻ mầm non, kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu
- Chính vì vậy mà giáo viên luôn xác định lấy trẻ làm trung tâm, làm kim chỉ
nam trong công tác của mình, luôn luôn cố gắng tìm tòi, nghiên cứu để tạo ra nhiều
bài thực tập hay để phục vụ tốt cho công tác phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ.
3. Giải pháp, biện pháp:
3.1. Mục tiêu của giải pháp và biện pháp
- Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, giúp trẻ lĩnh hội tri thức
một cách trọn vẹn nhất.
- Nhằm cung cấp kiến thức một cách chính xác giúp trẻ hứng thú trong học
tập đồng thời phát triển toàn diện về thể chất cũng như trí tuệ cho trẻ.
- Nhằm góp phần tạo nên những chủ nhân tương lai của đất nước có đầy đủ
phẩm chất, nhân cách, tri thức con người mới xã hội chủ nghĩa.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
Hiểu và nắm bắt được những giá trị mà bộ môn khám phá khoa học mang
lại, tôi đã mạnh dạn đưa một số kiến thức, áp dụng một số biện pháp, phương pháp,
trò chơi giúp trẻ khám phá khoa học vào việc tổ chức các hoạt động khám phá khoa
học cho trẻ từ 3 - 5 tuổi tại trường Mầm Non Sơn Ca
Sau đây là một số biện pháp, phương pháp, trò chơi giúp trẻ khám phá khoa
học mà tôi đã sử dụng trong quá trình công tác và giảng dạy của mình trong những
năm học vừa qua:
11
* Biê n ̣ pháp thực hiê n ̣ :
Sau khi xác định được mục đích và yêu cầu cần đạt tôi đã tiến hành giải
quyết các nhiệm vụ từng bước như sau:
1. Làm sao để tạo được môi trường tốt cho trẻ hoạt động? Như chúng ta
đã biết muốn trẻ học tốt một vấn đề nào đó thì trước hết cần phải có môi trường cho
trẻ hoạt động, khám phá, tìm tòi và trải nghiệm. Môi trường cho trẻ hoạt động là
nơi có các nguồn thông tin phong phú, khuyến khích tính độc lập và hoạt động tích
cực cho trẻ.
sát, đàm thoại, luyên tập trò chơi và làm thí nghiệm hay mô hình.
Trước khi cho trẻ tìm hiểu một sự vật hiện tượng nào đó tôi xác định
- Nội dung đề tài là gì?
- Mục đích yêu cầu của đề tài.
- Với đề tài này cần phải chuẩn bị những gì?
- Sử dụng phương pháp, biện pháp nào phù hợp để tiến hành.
Chẳng hạn với đề tài “Một số loại quả” để chuẩn bị tốt cho tiết học này,
trước đó và mỗi lần ăn tráng miệng sau mỗi bữa ăn tôi cho trẻ quan sát loại quả đó,
cho trẻ cầm nắm, tìm hiểu về màu sắc, hình dáng, dặn trẻ chú ý khi bổ ra bên trong
có gì? Ăn vào thấy có mùi vị như thế nào?... Sưu tầm những hình ảnh về các loại
quả có trong sách báo, tranh ảnh, tạp chí… Để vào tiết học tôi có thể khai thác ở trẻ
những kinh nghiệm sống nhiều hơn giúp trẻ hoạt động tích cực hơn.
Trước khi cho trẻ tìm hiểu về một sự vật nào đó tôi luôn cho trẻ quan sát,
khảo sát, tìm hiểu kỹ sự vật đó.
Ví dụ: Quan sát lòng trắng trứng lúc chưa chín và khi đã chín để trẻ có thể
thấy được sự đổi màu của chúng. Tiếp đến đặt ra những câu hỏi để giúp trẻ nắm
vững và có khái niệm về chúng một cách chính xác, rõ ràng. Chẳng hạn với đề tài
“Một số loại quả” thường thì các cháu được ăn thường xuyên các loại quả. Đầu tiên
tôi cho trẻ chơi trò chơi “Chiếc túi kỳ lạ” trẻ được khảo sát nhận biết sự vật qua các
giác quan và bằng kinh nghiệm sống của mình. Tiếp đến để giúp trẻ phát triển tư
duy, ngôn ngữ… tôi đặt ra những câu hỏi kích thích tư duy, kinh nghiệm sống của
13
trẻ: Con ăn thấy có vị gì? Quả có hình dáng như thế nào? Vỏ nhẵn hay sần sùi?
Chúng giống và khác nhau ở những điểm nào? Con hãy chia các loại quả này thành
2 nhóm theo đặc điểm riêng của chúng về hình dáng, màu sắc, mùi vị…
Để củng cố lại những kiến thức đã học tôi cho trẻ chơi các trò chơi vận động
sôi nổi, hoặc những trò chơi mang tính tập thể cao tập cho trẻ biết cách làm việc
theo nhóm hay cho trẻ làm thí nghiệm đối với các đề tài như:
- “Sự phát triển của cây từ hạt” tôi cho trẻ làm thí nghiệm bằng cách gieo hạt
đậu xanh vào đất hoặc bông gòn tẩm nước hàng ngày cho trẻ tưới nước và quan sát
ích trong việc dạy trẻ. Sau đây tôi cũng xin trình bày một vài biện pháp mà tôi đã
vận dụng trong quá trình giảng dạy trẻ, giúp trẻ hứng thú hơn và học tốt và môn
học khám phá khoa học.
* Biện pháp hổ trợ:
- Biện pháp sử dụng vật thật: Đối với trẻ mẫu giáo tư duy của trẻ là tư duy
hình tượng không thể dạy trẻ về một sự vật, một con vật hay đồ vậy nào đó khi chỉ
nói
suông mà không đưa ra một hình ảnh nào để trẻ trực quan thì không thể được. Nhưng
nếu chỉ sử dụng tranh đơn thuần cho các tiết học thì cũng không mang lại kết quả
cao.
Vì thế đối với trẻ phải sử dụng vật thật cho trẻ quan sát.
Ví dụ: Với đề tài “Một số động vật sống dưới nước” tôi sử dụng con cá thật
để trẻ có thể quan sát được rõ ràng chính xác con cá bơi như thế nào? Bơi được nhờ
cái gì? Môi trường sống của nó là ở đâu?... Với con cua trẻ quan sát được cấu tạo
đặc trưng là có 8 chân, 2 cái càng, biết được đặc tính nổi bật của con cua là bò
ngang…
- Biện pháp sử dụng câu đố: Câu đố chiếm một vai trò quan trọng trong
công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Sử dụng câu đố trong giờ học không chỉ nhằm
củng cố kiến thức trẻ về sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh, phát triển ngôn
từ mà còn giúp trẻ hiểu được ngôn ngữ, hình ảnh của đồ vật. Mỗi câu đố là một bức
tranh sinh động về thế giới xung quanh. Để có thể giải đáp được câu đố trẻ cần phải
nắm được đặc điểm của đối tượng, biết so sánh, đối chiếu. Nhìn thấy được cái
chung giữa hai đối tượng được nói đến và biết vận dụng kinh nghiệm sống của
15
mình. Tôi thường sử dụng câu đố vào đầu tiết học nhằm kích thích trẻ sự hứng thú
tìm tòi, học hỏi cái mới và sử dụng câu đố vào cuối giờ học nhằm củng cố kiến
thức vừa học. Chẳng hạn để dẫn dắt trẻ tìm hiểu quả dưa hấu tôi đọc câu đố:
“Quả gì ruột đỏ vỏ xanh.
động như thế nào? Gió mạnh thì sự vật chuyển động ra sao? Tác hại của gió…
Từ những hình thức, phương pháp, biện pháp trên tôi đã xây dưng một tiết
học đạt kết quả cao được tiến hành cụ thể như sau:
Đề tài: Mưa
*Hoạt động 1: Bé biết gì về mưa
Cô cũng trẻ vận động đọc thơ về mưa
“Ông trời bỗng hắt xì hơi
Lộp đa lộp độp mưa rơi đầu mùa
Xoè tay bé hứng giọt mưa
Mát từ da thịt mát đưa vào lòng”
Trò chuyện với trẻ về mưa:
Con biết gì về trời mưa, kể cho cô và các bạn cùng nghe
Khi trời mưa có hiện tượng gì xảy ra? (Mây đen, gió, sấm chớp, mưa
có nước)
Cô cùng trẻ tiếp tực trò chuyện về mưa qua hình ảnh trên tivi (Sấm, chớp,
mưa, quang cảnh trước và sau khi mưa, âm thanh…)
* Hoạt động 2: Bé tìm hiểu về mưa.
- Tranh các loại mưa phùn, mưa rào, mưa đá, mưa bão
- Đặc điểm các loại mưa giống và khác nhau ở điểm nào?
- Ngôi trong nhà nghe tiếng mưa rơi như thế nào?
- Trước khi mưa có sét, sấm chớp. Vậy làm thế nào để tránh sét đánh được?
- Khi sấm sét xảy ra mọi vật xung quanh như thế nào?
- Khi mưa xuống nhìn ra sân thấy có hiện tượng gì xảy ra?
- Có nên chơi ngoài mưa không? Vì sao?
- Mưa có ích lợi gì đối với đời sống con người?
17
* Hoạt động 3: Thí nghiệm “Mưa từ đâu có”
Đổ nước sôi vào bình thuỷ tinh đậy nắp kính sẽ thấy hiện tượng gì xảy ra? Vì
- Dạy trẻ về không khí
- Trứng chìm trứng nổi
- Sự bay hơi của nước
- Đổi màu…
Mục đích: Tạo cho trẻ tính ham hiểu biết, kích thích tính tò mò ở trẻ.
- Sự hứng thú, tò mò, thích khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh.
- Hình thành cho trẻ 1 số kỹ năng, thao tác thử nghiệm trong góc khoa học.
- Trẻ ngày càng có kỹ năng quan sát tốt, biết suy đoán, phán đoán nhằm tìm
ra một kết quả chính xác.
- Không chỉ khám phá trong góc khoa học hoặc trong các hoạt động khoa
học mà cháu còn khám phá, áp dụng và phát hiện được rất nhiều điều qua các môn
học khác.
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:
- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị…
- Giáo viên phải rất linh hoạt và nhạy bén kịp thời, có năng lực và có tính
chủ động sáng tạo, đầu tư chuyên môn, yêu nghề, mến trẻ, có nhiệt huyết trong
công việc
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp và biện pháp
Giải pháp và biện pháp luôn có mối quan hệ chặt chẽ và đi đôi với nhau đề
ra giải pháp thì phải thực hiện các biện pháp đó như thế nào để đạt hiệu quả
3.5. Kết quả khảo nghiệm giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Với việc nghiên cứu đề tài này trong quá trình thực hiện tôi thấy mình được
nâng cao hơn về chuyên môn, phương pháp, đặc biệt là hình thức dạy trẻ linh hoạt,
tự tin và sáng tạo hơn.
19
Đối với bản thân: tôi đã rút ra được nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn
các trò chơi, các hình thức phong phú và đặc biệt tạo cho trẻ các tình huống hấp
dẫn, lôi cuốn trẻ vào hoạt động tích cực, có hiệu quả mà không thấy nhàm chán khi