Nghiên cứu giải pháp kiểm soát chất cấm nhóm beta agonist (clenbuterol, salbutamol, ractopamine) trong chăn nuôi lợn - Pdf 53

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT CẤM
NHÓM BETA-AGONIST (CLENBUTEROL, SALBUTAMOL,
RACTOPAMINE) TRONG CHĂN NUÔI LỢN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP- 2018


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------***---------

NGUYỄN XUÂN DƢƠNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT CẤM
NHÓM BETA-AGONIST (CLENBUTEROL, SALBUTAMOL,
RACTOPAMINE) TRONG CHĂN NUÔI LỢN

Chuyên ngành

: Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi

Mã số

: 9.62.01.07

Người hướng dẫn : 1. GS.TS. VŨ DUY GIẢNG

tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức, công chức Cục Chăn
nuôi, Viện Chăn nuôi đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, ngƣời thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./.

Hà Nội, ngày.... tháng.... năm 2018
Nghiên cứu sinh

Nguyễn Xuân Dƣơng

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục chữ viết tắt


Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3

1.3.

Phạm vi nghiên cứu

3

1.4.

Những đóng góp mới của đề tài

4

1.5.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

6

2.1.

Bản chất hóa học và cơ chế tác động của beta-agonist


2.3.

Tồn dƣ của beta-agonist và tác hại của chúng

15

2.4.

Quản lý và kiểm soát việc sử dụng beta-agonist trong chăn nuôi ở một số

6

quốc gia trên thế giới

17

2.5.

Một số nghiên cứu về sử dụng chất cấm trong chăn nuôi

23

2.6.

Các phƣơng pháp phân tích chất cấm beta-agonist trong chăn nuôi

24

2.6.1.


32

3.1.

Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

32

3.1.1.

Đối tƣợng

32

3.1.2.

Địa điểm

32

3.1.3.

Thời gian

32

3.2.

Nội dung nghiên cứu


3.3.

Phƣơng pháp nghiên cứu

33

3.3.1.

Xác định phƣơng pháp phân tích định lƣợng chất cấm nhóm beta-agonist
để đề xuất phƣơng pháp phân tích tiêu chuẩn cho các phòng thử nghiệm
trong nƣớc

3.3.2.

33

Đánh giá thực trạng sử dụng và kiểm soát chất cấm trong chăn nuôi tại
Việt Nam

3.3.3.

38

Nghiên cứu xác định mức độ tồn dƣ và thời gian đào thải của các chất
cấm nhóm beta-agonist trong chăn nuôi lợn

3.3.4.
3.3.5.

Đề xuất quy trình kiểm soát chất cấm beta-agonist trong chăn nuôi lợn


45

Tổ chức chƣơng trình thử nghiệm thành thạo đánh giá năng lực thực tế
các phòng và đánh giá phƣơng pháp đề xuất

4.2.

52

Đánh giá thực trạng sử dụng chất cấm và công tác kiểm soát chất cấm
nhóm beta-agonist trong chăn nuôi tại Việt Nam

65

4.2.1.

Kết quả điều tra hệ thống văn bản quản lý về chất cấm tại địa phƣơng

65

4.2.2.

Tình hình quản lý và kiểm soát chất cấm tại địa phƣơng giai đoạn 20112016

4.2.3.

67

Đánh giá thực trạng về sử dụng chất cấm trong chăn nuôi lợn tại một số

79

86

Đề xuất hoàn thiện quy trình kiểm soát chất cấm trong chăn nuôi và đề
xuất sửa đổi một số nội dung quản lý Nhà nƣớc có liên quan

89

4.4.1.

Đề xuất hoàn thiện quy trình kiểm soát chất cấm trong chăn nuôi

89

4.4.2.

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý chất cấm trong
chăn nuôi

95

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

98

5.1.

Kết luận


Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

CLEN

Clenbuterol

CSCN

Cơ sở chăn nuôi

DLD

Cục Phát triển chăn nuôi của Thái Lan

ĐC

Đối chứng

EU

Cộng đồng Châu Âu

FAO

Tổ chức Lƣơng thực và Nông lâm thế giới

FDA

Cơ quan quản lý thực phẩm và dƣợc phẩm


Giới hạn phát hiện

LOQ

Giới hạn định lƣợng

ME

Năng lƣợng trao đổi

MH

Móc hàm

MRL

Giới hạn tồn dƣ tối đa cho phép

NN&PTNT

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

PPĐX

Phƣơng pháp hội đồng đề xuất

PPPTN

Phƣơng pháp phòng thử nghiệm


Tổ chức Y tế thế giới

vi


DANH MỤC BẢNG
STT
2.1.

Tên bảng
Trang
Ảnh hƣởng của một số chất thuộc nhóm beta-agonist đến một số chỉ tiêu
năng suất và chất lƣợng thịt gà

2.2.

11

Ảnh hƣởng của cimaterol đến một số chỉ tiêu năng suất và chất lƣợng
thân thịt lợn

2.3.

13

Giới hạn tồn dƣ tối đa cho phép đối với RAC hydrochloride trong các
mô khác nhau của bò và lợn

2.4.


mẫu nƣớc tiểu lợn

38

3.5.

Khẩu phần thức ăn cho lợn thí nghiệm (dạng sử dụng)

41

4.1.

Kết quả điều tra số lƣợng mẫu thử nghiệm và phƣơng pháp phân tích
chất cấm nhóm beta - agonist của 15 phòng thử nghiệm giai đoạn 20112015 (mẫu/năm)

4.2.

46

Tài liệu tham khảo để xây dựng phƣơng pháp nội bộ phân tích betaagonist của các phòng thử nghiệm

4.3.

Quy trình xử lý mẫu thức ăn chăn nuôi và nƣớc tiểu lợn để phân tích chất
cấm beta -agonist của các phòng thử nghiệm

4.4.

47


Hàm lƣợng phân tích định lƣợng các chất beta-agonist trong mẫu nƣớc
tiểu lợn thịt

4.9.

60

Kết quả điều tra về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan quản
lý chất cấm trong chăn nuôi

4.10.

66

Kết quả điều tra về việc triển khai hoạt động kiểm tra chất cấm trong
chăn nuôi giai đoạn 2011 - 2016 tại địa phƣơng (tỉnh)

4.11.

69

Kết quả điều tra số mẫu phân tích chất cấm trong chăn nuôi phân theo
loại hình sản xuất và loại mẫu

4.13.

71

Kết quả điều tra về tỷ lệ mẫu dƣơng tính (%) với SAL bằng phƣơng
pháp phân tích định lƣợng (mẫu)

77

4.17.

Ảnh hƣởng của việc bổ sung RAC và SAL vào thức ăn đến sinh trƣởng
và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn giai đoạn vỗ béo

4.18.

Ảnh hƣởng của việc bổ sung RAC và SAL vào thức ăn đến một số chỉ
tiêu về chất lƣợng thịt ở lợn giai đoạn vỗ béo

4.19.

86

Hàm lƣợng RAC và SAL trong một số mô ở lợn giai đoạn vỗ béo khi
đƣợc ăn thức ăn có bổ sung 2 chất này trong thức ăn (ppb)

4.21.

83

Hàm lƣợng RAC và SAL trong nƣớc tiểu (ppb) ở lợn giai đoạn vỗ béo
khi đƣợc ăn thức ăn có bổ sung 2 chất này trong thức ăn

4.20.

80


2.4.

Kít miễn dịch thử nhanh chất cấm

25

2.5.

Nguyên tắc đọc kết quả thử nghiệm khi dùng kit thử nhanh

26

2.6.

Cách thử và đọc kết quả khi thử bằng kít thử nhanh

26

4.1.

Giá trị z-score của các phòng thí nghiệm phân tích chỉ tiêu CLEN mẫu

8

thức ăn chăn nuôi 10ppb - Phƣơng pháp đề xuất (bên trái) và Phƣơng
pháp phòng thử nghiệm (bên phải)
4.2.

56


57

Giá trị z-score của các phòng thí nghiệm phân tích chỉ tiêu RAC mẫu
thức ăn chăn nuôi 20 ppb - Phƣơng pháp đề xuất (bên trái) và Phƣơng
pháp phòng thử nghiệm (bên phải)

4.7.

57

Giá trị z-score của các phòng thí nghiệm phân tích chỉ tiêu CLEN mẫu
nƣớc tiểu2 ppb - Phƣơng pháp đề xuất (bên trái) và Phƣơng pháp phòng
thử nghiệm (bên phải)

4.8.

62

Giá trị z-score của các phòng thí nghiệm phân tích chỉ tiêu CLEN mẫu
nƣớc tiểu 5 ppb - Phƣơng pháp đề xuất (bên trái) và Phƣơng pháp phòng
thử nghiệm (bên phải)

62

ix


4.9.

Giá trị z-score của các phòng thí nghiệm phân tích chỉ tiêu SAL mẫu


Kết quả điều tra về việc triển khai hoạt động kiểm tra chất cấm trong
chăn nuôi giai đoạn 2011 đến 2016 tại địa phƣơng (tỉnh)

4.14.

Kết quả về tần xuất kiểm tra chất cấm trong chăn nuôi tại địa phƣơng
(đợt/tỉnh/năm)

4.15.

69

70

Kết quả điều tra về tỷ lệ (%) số mẫu TACN dƣơng tính (hình bên trên) và
mẫu nƣớc tiểu dƣơng tính (hình bên dƣới) với SAL bằng phƣơng pháp
phân tích định lƣợng (mẫu/năm)

4.16.

73

Ảnh hƣởng của việc bổ sung RAC và SAL vào thức ăn đến sinh trƣởng
(hình bên trên) và hiệu quả sử dụng thức ăn (hình bên dƣới) của lợn giai
đoạn vỗ béo

4.17.

81

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu xây dựng đƣợc các giải pháp kiểm soát và quản lý chất cấm thuộc
nhóm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thích hợp với điều kiện thực tiễn ở nƣớc ta và
thông lệ quốc tế.
Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá đƣợc thực trạng và năng lực trong công tác quản lý chất cấm nói chung
và beta-agonist nói riêng.
- Lựa chọn đƣợc phƣơng pháp và xây dựng đƣợc quy trình phân tích định lƣợng
nhóm beta-agonist (CLEN, SAL, RAC) trong TACN, trong nƣớc tiểu phù hợp điều kiện
thực tiễn, đồng thời đảm bảo độ chính xác và thống nhất giữa các phòng thử nghiệm.
- Xây dựng đƣợc quy trình kiểm soát chất cấm nhóm beta-agonist trong chăn nuôi
lợn thịt và đề xuất sửa đổi một số văn bản pháp luật hiện hành có liên quan.
Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp phân tích định lƣợng chất cấm thuộc nhóm beta-agonist đƣợc lựa
chọn là phƣơng pháp sắc ký khối phổ hai lần (LC-MS/MS).
- Phƣơng pháp lựa chọn áp dụng trên các nền mẫu khác nhau đã đƣợc thẩm định
và đánh giá giới hạn phát hiện (LOD: Limit of Detection) và giới hạn định lƣợng (LOQ:
Limit of Quantitation) từ một phòng thử nghiệm có thiết bị hiện đại và kinh nghiệm.
- Để hoàn thiện quy trình phân tích định lƣợng chất cấm, đề tài tiếp tục đánh giá
liên phòng đối với mẫu chuẩn. Các phòng thử nghiệm trong nƣớc đã đƣợc mời tham gia
đánh giá trên hai nền mẫu là TACN và nƣớc tiểu. Mẫu chuẩn bao gồm mẫu trắng
(không có chất cấm) và mẫu củng cố (mẫu có chất cấm) đƣợc mã hóa.
- Thực trạng về sử dụng và kiểm soát chất cấm đƣợc đánh giá dựa vào kết quả
phân tích 160 mẫu đƣợc lấy ở một số địa phƣơng đại diện (80 mẫu TACN và 80 mẫu
nƣớc tiểu lợn) và thu thập thông tin thứ cấp từ các địa phƣơng. Thông tin thứ cấp từ các
địa phƣơng đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp hồi cứu từ thu thập thông tin trực tiếp và
gián tiếp từ 63 Sở NN& PTNT từ năm 2011 đến năm 2016.
- Mức độ tồn dƣ và tốc độ đào thải các chất thuộc nhóm beta-agonist đƣợc xác

- Tốc độ đào thải SAL qua nƣớc tiểu lợn chậm hơn so với RAC (7 ngày so với 5
ngày). Sau 5 ngày ngừng ăn thức ăn bổ sung beta-agonist, trong mô nạc, mô mỡ hết tồn
dƣ RAC và SAL, trong khi mô gan, mô thận phải sau 14 ngày ngừng ăn mới hết.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tốc độ đào thải beta-agonist, quy trình kiểm soát
chất cấm cần bổ sung một số điểm sau:
Nếu nồng độ RAC trong nƣớc tiểu nhỏ hơn 3 ppb cần yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu 9
ngày, từ 3 đến dƣới 7 ppb yêu cầu nuôi lợn tiếp tối thiểu 11 ngày, từ 7 đến dƣới 18 ppb
thì yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu 13 ngày, từ 18 ppb trở lên thì yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu
14 ngày. Sau thời gian nuôi tối thiểu cần định lƣợng lại hàm lƣợng RAC trong nƣớc tiểu
nếu thực sự cho kết quả âm tính thì mới cho giết thịt.
- Nếu nồng độ SAL trong nƣớc tiểu nhỏ hơn 2 ppb thì yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu 5
ngày, từ 2 đến dƣới 5 ppb nuôi tiếp tối thiểu 7 ngày, từ 5 đến dƣới 19 ppb nuôi tiếp tối
thiểu 9 ngày, từ 19 đến dƣới 70 ppb thì yêu cầu nuôi tiếp tối thiểu 11 ngày, từ 70 đến

containing free beta-agonist; Lot 2 (RAC), pigs were fed diet supplemented with
Ractopamin at 10 ppm and Lot 3 (SAL) using feed with 8 ppm salbutamol
supplementation. After 30 experimental days, the pigs of experimental groups given feed
of control group and then the samples of urine, lean meat, fat, liver and kidneys were
taken and analyzed for beta-agonist at different times until the samples were no longer
positive with beta-agonist.

xiii


- Propose a procedure to control banned beta-agonist substances in feeding pig
and propose the amendments of relevant legal regulations base on research result.
Main findings and conclusions
- The validated LC-MS/MS method, a most suitable method was chosen for
evaluation. The results evaluation shown that this method ensures accuracy and is
consistent with laboratory conditions. On both standard samples (blank and spiked
samples), 100% of the laboratories using this method did not give false positive results
(with blank samples) and false negatives (with spiked samples). Thus, the selected
method can be used to analyze beta-agonists in feed and urine.
The legal documents concerning the monitoring of using banned substances in
animal production is quite adequate, however, it is also adjusted and supplemented many
times and not fully suitable. The Law 2015 is still difficult to pinpoint criminal offenses
related to the use of banned substances in livestock production. The level of
administrative penalty on using and trading animal feed containing banned substances is
still low. There is no regulation about number of animals sampled for testing banned
substances during transportation. The time to keep pigs from positive results to negative
results in urine is not clarified... Provinces paid attention to inspect prohibited substances
in livestock and the number of tested samples increased from 2011 to 2016, especially in
2015 and 2016. The proportion of positive urine samples is higher than that of feed
samples.

clenbuterol) trong chăn nuôi đã ảnh hƣởng đến chất lƣợng và an toàn thực phẩm
của sản phẩm chăn nuôi, gây ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe cộng đồng. Để ngăn
chặn tình trạng này, các quốc gia trên thế giới đều ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật riêng để quản lý. Tuy nhiên, quy định của mỗi nƣớc cũng có
những điểm khác biệt. Trong khi cộng đồng Châu Âu (EU) cấm sử dụng tất cả
các chất beta agonist trong chăn nuôi do lo ngại về an toàn thực phẩm thì Mỹ và
25 quốc gia khác vẫn cho phép sử dụng ractopamine (RAC) trong thức ăn chăn
nuôi (TACN) nhƣ một chất kích thích sinh trƣởng, nhằm tăng năng suất và hiệu
quả chăn nuôi (Vincent, 2012).
Tại Việt Nam, các chất beta agonist đã bị cấm sử dụng trong chăn nuôi từ
năm 2002 tại Quyết định số 54/2002/QĐ-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (Quyết định 54/2002, 2002). Quyết định này đƣợc thay thế
bằng Thông tƣ số 28/2014/TT-BNNPTNT (Thông tƣ 28/2014, 2014) ngày
04/9/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Danh mục hóa chất,
kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn
nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam và Thông tƣ số 10/2016/TT-BNNPTNT ngày
01/6/2016 về Danh mục các chất cấm sử dụng trong thuốc thú y (Thông tƣ
10/2016, 2016). Mặc dù quy định pháp lý đã đƣợc ban hành nhƣng tình trạng sử
dụng chất cấm nhóm beta-agonist trong TACN vẫn bị phát hiện, đặc biệt xảy ra
cao điểm vào các năm 2006, 2012 và 2015. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng bùng phát lại việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, nhƣng trong đó có 02
nguyên nhân quan trọng liên quan đến giải pháp thực thi, đó là (i) giải pháp kỹ
thuật (phƣơng pháp phân tích để xác định hành vi sử dụng chất cấm) và (ii) giải
pháp quản lý (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về kiểm soát
sử dụng chất cấm trong chăn nuôi).
Về giải pháp kỹ thuật: Việc thử nghiệm, phân tích để xác định sự có mặt
các chất cấm trong vật tƣ nông nghiệp (TACN, thuốc thú y, nƣớc tiểu vật nuôi)
hay trong sản phẩm chăn nuôi là công cụ cần thiết để giúp cơ quan quản lý xác
định hành vi vi phạm của ngƣời sử dụng và đƣa ra hình thức xử phạt, ngăn chặn


hiện nay đã khá đầy đủ từ Luật, Nghị định, Thông tƣ… Tuy nhiên, kết quả của
công tác quản lý, kiểm soát sử dụng chất cấm trong chăn nuôi thời gian qua chƣa
thực sự hiệu quả. Nguyên nhân của tình trạng này là do trách nhiệm quản lý của
các cơ quan quản lý các cấp chính quyền chƣa cao, nhận thức của ngƣời dân
chƣa đầy đủ và đặc biệt tính thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật chƣa thực
sự phù hợp. Một số nội dung trong văn bản quy phạm pháp luật còn quy định
chung chung nên khó thực thi. Điển hình là quy định khi phát hiện nƣớc tiểu gia

2


súc dƣơng tính với chất cấm thì buộc cơ sở chăn nuôi nuôi tiếp đến khi kiểm tra
lại nếu âm tính mới đƣợc xuất bán. Vấn đề đặt ra là nuôi trong thời gian bao lâu
thì sẽ lấy lại mẫu nƣớc tiểu phân tích, đồng thời khi mẫu nƣớc tiểu âm tính thì
liệu mẫu sản phẩm chăn nuôi nhƣ thịt, gan, thận có còn tồn dƣ chất cấm hay
không? Để công tác kiểm soát sử dụng chất cấm có hiệu quả rất cần các nghiên
cứu về đánh giá tốc độ đào thải và mức độ tồn dƣ chất cấm ở gia súc để hoàn
thiện khung quy định pháp lý, đồng thời đánh giá thực trạng quản lý và kiểm soát
chất cấm trong chăn nuôi tại các cấp chính quyền địa phƣơng, đánh giá tính thực
tiễn của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan.
Câu trả lời cho giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý nêu trên sẽ là cơ sở
khoa học và thực tiễn để đề xuất quy trình kiểm soát và quản lý chất cấm betaagonist trong chăn nuôi, từ đó đề xuất sửa đổi một số văn bản quy phạm pháp luật
hiện hành có liên quan đến kiểm soát và quản lý chất cấm thuộc nhóm beta-agonist
trong chăn nuôi. Đây chính là mục đích cần đạt đƣợc của Nghiên cứu này.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu xây dựng đƣợc các giải pháp kỹ thuật và quản lý sử dụng chất
cấm thuộc nhóm beta-agonist trong chăn nuôi lợn thích hợp với điều kiện thực
tiễn ở Việt Nam và thông lệ quốc tế.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể

- Xác định đƣợc phƣơng pháp phân tích định lƣợng chất cấm nhóm betaagonist trong TACN và nƣớc tiểu bằng thiết bị phân tích LC-MS/MS có giới hạn
phát hiện (LOD) và giới hạn định lƣợng (LOQ) phù hợp, tƣơng thích với năng
lực các phòng phân tích trong nƣớc.
- Xác định đƣợc tốc độ và thời gian đào thải chất cấm nhóm beta-agonist
trong các mô: thịt, gan và thận của lợn, cũng nhƣ mối quan hệ giữa tốc độ và thời
gian đào thải các chất cấm trong các mô này với tốc độ và thời gian đào thải của
chất cấm trong nƣớc tiểu. Nghiên cứu đầu tiên, công phu và khoa học cung cấp
kết quả tin cậy là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các qui định quản lý chất
cấm beta - agonist tại Việt Nam.
- Các phát hiện mới là những cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho
việc xây dựng quy trình kiểm tra, kiểm soát sử dụng chất cấm beta-agonist trong
chăn nuôi lợn. Đƣa ra đƣợc một số kiến nghị cụ thể trong điều chỉnh các văn bản
pháp quy hiện hành liên quan đến hoạt động quản lý, kiểm soát chất cấm nhóm
beta-agonist trong chăn nuôi lợn thịt, hiện nay đã có kiến nghị đƣợc áp dụng hiệu
quả trong thực tiễn quản lý.
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp căn cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp quản lý nhà
nƣớc về chất lƣợng và an toàn thức ăn cũng nhƣ các sản phẩm chăn nuôi.

4


- Đề xuất xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia về phƣơng pháp phân tích định
lƣợng các chất CLEN, RAC, SAL trong thức ăn chăn nuôi và nƣớc tiểu vật nuôi
bằng kỹ thuật sắc ký lỏng ghép khối phổ (LC/MS-MS).
- Kết quả nghiên cứu đóng góp thêm tƣ liệu cho giảng dạy, nghiên cứu
khoa học về mức độ đào thải và tồn dƣ beta-agonist trong chăn nuôi lợn thịt.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đƣợc ứng dụng trực tiếp tại các cơ

đặc biệt có tác hại đối với những ngƣời có bệnh tim.
Hiện nay trên thế giới hầu hết các chất thuộc nhóm beta-agonist đã bị cấm
sử dụng làm phụ gia kích thích tăng trƣởng trong TACN. RAC đƣợc FDA – Hoa
Kỳ và 25 nƣớc khác cho phép sử dụng với những quy định rất chặt chẽ về liều
lƣợng và thời gian sử dụng. Tuy vậy, 160 nƣớc khác trên thế giới, trong đó có
các nƣớc thuộc EU, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam… vẫn xếp RAC vào danh
mục chất cấm nhƣ những beta-agonist khác.
2.1. BẢN CHẤT HÓA HỌC VÀ CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA BETAAGONIST
Beta-agonist là từ viết tắt của thuật ngữ beta-adrenergic agonist (BAA),
chúng là những chất có ảnh hƣởng đến các thụ thể beta-agonist (beta-agonist
receptors). Thụ thể beta-agonist đƣợc chia thành 3 nhóm; đó là thụ thể beta 1agonist, thụ thể beta 2-agonist và thụ thể beta 3-agonist (Korthumarit, 1999; dẫn
theo Suppadit, 2003). Các thụ thể beta có trong tất cả các mô của cơ thể. Thụ thể
beta 1 thấy nhiều trong cơ tim; thụ thể beta 2 có ở cơ trơn của mạch máu, khí
quản, niệu quản, đƣờng sinh sản, đƣờng ruột, gan và cơ xƣơng; thụ thể beta 3
thấy chủ yếu ở mô mỡ. Các chất thuộc nhóm BAA có công thức hóa học giống
nhƣ adrenalin (Hình 2.1) và hoạt động sinh học tƣơng tự nhƣ adrenalin và

6


noradrenalin. Adrenalin (tên mới: epinephrine) và noradrenalin (tên mới:
norepinephrine) là hai chất thuộc nhóm catecholamine [một hợp chất hữu cơ có
một nhóm cathechol (benzene với hai nhóm hydroxyl ở vị trí carbon 1 và 2) cùng
với nhóm amin cạnh bên].

Hình 2.1. Công thức hóa học của adrenalin và một số beta-agonist
Nguồn: Phạm Kim Đăng (2017)
Các thụ thể beta chia thành β1 và β2; tỷ lệ của thụ thể β1 và β2 hoàn toàn
khác nhau ở những cơ quan khác nhau và mỗi một kiểu có một chức năng riêng.
Theo Lands et al. (1967) thì thụ thể β1 kích thích sự phân giải mỡ (lipolysis) và

Theo con đƣờng thụ thể β-adrenergic, adrenalin tăng cao hàm lƣợng
adenosine monophosphate vòng (AMPc) thông qua việc kích thích enzyme
adenyl cyclase. AMPc sau đó đƣợc thủy phân để cho ATP nhờ enzyme
phosphodiesterase (hình 2.2). Guanine triphosphate (GTP) đóng vai trò quan
trọng trong việc điều khiển adenyl cyclase. Nó điều khiển theo cơ chế hai pha, có
nghĩa là ở nồng độ thấp nó hoạt hóa adenyl cyclase, nhƣng ở nồng độ cao nó lại
ức chế enzyme này. Khi nồng độ AMPc tăng cao, nó hoạt hóa enzyme protein
kinase, từ đó hoạt hóa enzyme lipase phân giải triglyceride và cuối cùng axit béo
đƣợc hình thành, làm hàm lƣợng axit béo trong máu tăng lên. Cơ chế này bị ức
chế bởi insulin, nhƣng insulin có kích thích hay ức chế hoạt tính của
phosphodiesterase hay không thì chƣa rõ. Theo Fain and Garcĩa-Sáinz (1983) thì
giảm tiết hormone tăng trƣởng có thể làm tăng hoạt tính phosphodiesterase (hoạt
tính enzyme này tăng có nghĩa là hàm lƣợng AMPc tăng).
Cơ chế điều khiển sự chuyển hóa của các chất thuộc nhóm beta-agonist

8


thông qua việc nâng cao AMPc cũng tƣơng tự nhƣ cơ chế điều khiển của
adrenalin (Stiles et al., 1984).
Ảnh hƣởng của các chất thuộc nhóm beta-agonist thông qua những con
đƣờng khác nhau. Do kết quả của quá trình lipolysis, mỡ thân thịt giảm. Ở loài
chim lipolysis bị kích thích bởi glucagon, nhƣ vậy các chất thuộc nhóm betaagonist có thể có ảnh hƣởng gián tiếp đến sự tiết glucagon. Ức chế sự tiếp nhận
và este hóa axit béo của CLEN trong mô mỡ của cừu cùng với lipolysis tăng đã
đƣợc Thornton et al. (1985) báo cáo từ năm 1985. Ảnh hƣởng của CLEN đến
lipolysis ở cừu đã thấy cả ở thí nghiệm in vivo và in vitro. Tuy nhiên ở lợn,
Mersmann et al. (1987) lại thấy rằng CLEN không kích thích lipolysis ở mô mỡ
trong thí nghiệm in vitro, nhƣng axit béo tự do plasma và nồng độ glycerol trong
máu tăng cao khi lợn đƣợc truyền CLEN. Những quan sát này xác định rằng cơ
chế in vivo có thể khác nhau theo loài: CLEN có tác động trực tiếp và gián tiếp ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status