Quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

ĐẶNG THỊ KIM QUYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

ĐẶNG THỊ KIM QUYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI


hoàn thành luận văn. Em chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Hành
chính nhà nƣớc; các thầy cô giáo Khoa Sau đại học Trƣờng Đại học Luật Hà
Nội đã hết lòng truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện học tập tốt nhất cho chúng
em trong hai năm học vừa qua.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị đồng nghiệp Bộ phận một
cửa, phòng Kiểm soát thủ tục hành chính – Sở Tƣ pháp thành phố Hà Nội đã
giúp đỡ, hƣớng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để em có thời gian hoàn thành luận
văn.
Cuối cùng em kính chúc cô giáo, TS.Trần Kim Liễu cùng quý thầy cô
giáo dồi dào sức khỏe và đạt đƣợc nhiều thành công trong sự nghiệp cao quý.
Đồng kính chúc các anh chị, bạn bè đạt đƣợc nhiều tốt đẹp trong công việc và
cuộc sống.
Học viên

Đặng Thị Kim Quyên


BẢNG DANH MỤC CHỮ VIÊT TẮT
Tên đầy đủ
Hiến pháp Nƣớc Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2014
Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
Bộ luật Tố tụng Dân sự
Ủy ban thƣờng vụ quốc hội
Tòa án nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân

HÀ NỘI ........................................................................................................... 42
2.1. Thực trạng pháp luật quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có
yếu tố nƣớc ngoài. ......................................................................................... 42
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và
gia đình có yếu tố nƣớc ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội. .................... 53
2.3. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong quản lý nhà nƣớc
về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài.............................................. 69
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...................................................... 73
3.1. Quan điểm của Nhà nƣớc tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về hôn nhân
và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài. ................................................................. 73
3.2. Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có
yếu tố nƣớc ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội. ....................................... 75
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 89
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cùng với quá trình lịch sử của đất nƣớc, quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nƣớc ngoài đƣợc pháp luật điều chỉnh khác nhau qua từng giai đoạn,
phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của từng thời kỳ.
Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn
luôn đổi mới các chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự quốc tế
nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài nói riêng.

này, học viên tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và
gia đình có yếu tố nƣớc ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội”, với mong
muốn đƣa ra những phân tích và đề xuất những giải pháp để tăng cƣờng việc
quản lý nhà nƣớc trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài
trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và nâng cao chất lƣợng quản lý nhà
nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài trong phạm vi toàn quốc
nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài, đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ “Quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, NXB Tƣ pháp,
năm 2006 của TS. Nông Quốc Bình và TS. Nguyễn Hồng Bắc; “Pháp luật
điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới”, năm 2003, luận án tiến sĩ, tác giả Nguyễn Hồng Bắc;“Chế định kết
hôn trong Luật hôn nhân và gia đình, vấn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2015,
luận văn tiến sỹ luật học, tác giả Bùi Thị Mừng; “Pháp luật Việt Nam về quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài”, tạp chí Luật học số 09/2011 của tác giả
Lê Thị Hoàng Thanh, Trƣơng Quang Hồng;“Một số quy định pháp luật Việt
Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ hội
nhập”, năm 2015, luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Nguyễn Thị Thu Phƣơng;
“Pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc
Giang”, năm 2016, luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Nguyễn Thị Đà; “Vấn
đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực
tiễn”, năm 2014, luận văn thạc sỹ luật học, tác giả Tạ Tùng Hoa,…Nhìn
chung, các đề tài nghiên cứu, bài viết của các tác giả trên đều khai thác nghiên
cứu vấn đề quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài trong tƣ pháp
quốc tế, giải quyết xung đột pháp luật, bàn về quan hệ hôn nhân và gia đình
dƣới góc độ quan hệ pháp luật dân sự. Với đề tài “Quản lý nhà nƣớc về hôn



phƣơng pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phƣơng pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trong phần Chƣơng 1 về một số vấn đề lý
luận, học viên sử dụng phƣơng pháp hệ thống, liệt kê, phân tích và tổng hợp


4

để làm rõ các khái niệm, nội dung của quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia
đình có yếu tố nƣớc ngoài. Tại Chƣơng 2 nêu thực trạng quản lý nhà nƣớc,
học viên sử dụng phƣơng pháp lịch sử, thống kê, phân tích, so sánh và tổng
hợp để nêu lên thực trạng quản lý trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó sử
dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp để đƣa ra những giải pháp tăng cƣờng
quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài tại Chƣơng 3.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
Luận văn tổng hợp những nội dung lý luận cơ bản về quản lý nhà nƣớc
trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài nên luận văn sẽ
cung cấp những kết luận khoa học luật hành chính về một số nội dung lý luận
liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Luận văn có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu lý luận và thực trạng
quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài và có ý nghĩa
về thực tiễn cho cơ quan quản lý nhà nƣớc khi xây dựng và thực hiện các giải
pháp quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài trên địa
bàn thành phố Hà Nội. Luận văn cũng là nguồn tƣ liệu tham khảo cho những
ngƣời nghiên cứu các đề tài liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố
nƣớc ngoài.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
kèm theo, luận văn đƣợc chia làm 03 chƣơng, có bố cục nhƣ sau:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và
gia đình có yếu tố nƣớc ngoài.

trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thƣờng
gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”1. Theo giải thích của Oxford advanced
Learner’s Dictionary do Oxford University Press xuất bản năm 1992 thì “gia
đình” là nhóm ngƣời bao gồm cha mẹ và con cái của họ. Theo Từ điển giải
thích thuật ngữ luật học “gia đình là tập hợp những ngƣời cùng chung sống
gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dƣỡng, có

1

Từ điển tiếng Việt (1994), Trung tâm từ điển , NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.94


6

quyền và nghĩa vụ tƣơng xứng với nhau”2. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3
Luật HN&GĐ 2014 “gia đình là tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau do hôn
nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dƣỡng, làm phát sinh các quyền
và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”. Đây là khái niệm
pháp lý đầy đủ nhất về gia đình, là sự tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau
do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dƣỡng, từ đó làm
phát sinh nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật về
hôn nhân và gia đình và các quy tắc của đạo đức xã hội biểu hiện qua những
phong tục tập quán, truyền thống đạo lý của gia đình.
Có thể thấy “hôn nhân” và “gia đình” là hai khái niệm có mối quan hệ
gắn bó mật thiết với nhau, cùng tồn tại và cùng phát triển trong sự phát triển
của xã hội. Hiện nay, do sự phát triển của các mối giao lƣu dân sự quốc tế nên
tập hợp những ngƣời tạo nên gia đình trong xã hội Việt Nam không chỉ bó
hẹp giữa các thành viên có cùng quốc tịch và cùng cƣ trú ở các nƣớc khác
nhau. Trong gia đình này có thể là vợ chồng khác quốc tịch hoặc có thể là vợ,
chồng, con (và các thành viên khác) khác quốc tịch. Họ có thể là những ngƣời

điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình phát sinh giữa ngƣời Việt Nam định cƣ
ở nƣớc ngoài với công dân Việt Nam ở trong nƣớc; lƣợc bỏ yếu tố nƣớc ngoài
“giữa ngƣời nƣớc ngoài với nhau thƣờng trú ở Việt Nam”. Quan điểm này về
hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài là khá hợp lý, với tiêu chí xác định
yếu tố nƣớc ngoài trên đã khẳng định sự phát triển về cơ sở lý luận của pháp
luật Việt Nam trong việc điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến quan hệ hôn
nhân gia đình có yếu tố nƣớc ngoài.
Từ đó, có thể định nghĩa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc
ngoài nhƣ sau:
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài là quan hệ hôn nhân
và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam
định cƣ ở nƣớc ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là
công dân Việt Nam nhƣng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó
theo pháp luật nƣớc ngoài, phát sinh tại nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nƣớc ngoài.
Theo định nghĩa trên, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài
bao gồm:
Thứ nhất, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014, “kết hôn là việc
nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về
điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Kết hôn là thủ tục bắt buộc để xác lập
mối quan hệ giữa vợ chồng. Dựa vào điều kiện chính trị, kinh tế, phong tục


8

tập quán khác nhau mà pháp luật các nƣớc đƣa ra các quy định khác nhau cho
việc xác định tính hợp pháp của việc kết hôn. Dù có sự khác nhau trong nội
dung của quy phạm pháp luật, nhƣng nhìn chung khi quy định về vấn đề kết
hôn, pháp luật của các nƣớc đều tập trung vào hai vấn đề pháp lý cơ bản đó là


Nam định cƣ ở nƣớc ngoài là công dân Việt Nam và ngƣời gốc Việt Nam cƣ
trú, sinh sống lâu dài ở nƣớc ngoài. Quan hệ kết hôn giữa người Việt Nam với
nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Thứ hai, quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài.
Sự kiện kết hôn hợp pháp làm phát sinh quan hệ giữa vợ chồng bao gồm
hai nhóm quan hệ là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Nội dung của quan
hệ pháp luật đó bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý về nhân thân và tài
sản đƣợc pháp luật bảo hộ. Nói đến quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng có yếu
tố nƣớc ngoài là nói đến quan hệ giữa vợ và chồng xảy ra trong những trƣờng
hợp có yếu tố nƣớc ngoài nhƣ:
Chủ thể là vợ và chồng có quốc tịch khác nhau.Trong trƣờng hợp này, có
ít nhất một bên vợ chồng là ngƣời nƣớc ngoài hoặc trƣờng hợp cả hai bên vợ
chồng là ngƣời Việt Nam nhƣng định cƣ lâu dài ở nƣớc ngoài. Khách thể liên
quan đến quan hệ đó ở nƣớc ngoài. Trƣờng hợp này vợ, chồng đều là ngƣời
Việt Nam nhƣng tài sản đang tranh chấp lại nằm ở nƣớc ngoài. Ví dụ nhƣ hai
vợ chồng là công dân Việt Nam nhƣng đang tranh chấp với nhau về một ngôi
nhà hiện đang tồn tại ở Mỹ. Sự kiện pháp lý làm căn cứ xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng xảy ra ở nƣớc ngoài. Trƣờng hợp này vợ,
chồng đều là ngƣời Việt Nam nhƣng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan
hệ giữa họ xảy ra ở nƣớc ngoài. Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với
nhau tại Ba Lan, theo pháp luật Ba Lan và chung sống tại Ba Lan 10 năm, sau
đó chuyển về Việt Nam sinh sống. Sau một thời gian giữa họ phát sinh mâu
thuẫn và có yêu cầu ly hôn tại Toà án Việt Nam. Hai vợ chồng cùng quốc tịch
cƣ trú ở hai nƣớc khác nhau. Ví dụ nhƣ tranh chấp về tài sản giữa vợ, chồng
là công dân Việt Nam nhƣng vợ cƣ trú ở Việt Nam, chồng cƣ trú ở Trung
Quốc.
Từ phân tích trên, có thể khái quát: Quan hệ vợ chồng có yếu tố nƣớc
ngoài là quan hệ giữa vợ và chồng trong đó ít nhất một bên tham gia là ngƣời

Thứ tư, quan hệ giữa cha, mẹ và con có yếu tố nước ngoài.
Quan hệ giữa cha, mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện pháp lý là sự
kiện sinh đẻ hoặc sự kiện nhận nuôi con nuôi. Quan hệ giữa cha, mẹ và con
do họ sinh ra là quan hệ huyết thống. Quan hệ giữa cha, mẹ và con có yếu tố
nƣớc ngoài là quan hệ giữa cha, mẹ và con xảy ra trong các trƣờng hợp: Cha,
mẹ và con có quốc tịch khác nhau hoặc cùng quốc tịch nhưng có ít nhất một
người cư trú ở nước ngoài, ví dụ, cha, mẹ là công dân Việt Nam yêu cầu con


11

là công dân Nga cấp dƣỡng. Cha, mẹ và con có cùng quốc tịch nhưng tài sản
liên quan đến quan hệ giữa họ ở nước ngoài, ví dụ, cha, mẹ và con đều là
công dân Việt Nam tranh chấp với nhau về tài sản ở Nga. Sự kiện pháp lý làm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ cha, mẹ và con xảy ra ở nước ngoài, ví
dụ, nhận con ngoài giá thú ở nƣớc ngoài, cấp dƣỡng cho con ở nƣớc ngoài.
Ngoài ra, quan hệ giữa cha, mẹ và con còn phát sinh qua sự kiện nhận
nuôi con nuôi. Theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật nuôi con nuôi 2010,
“Nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam với ngƣời nƣớc ngoài, giữa ngƣời nƣớc ngoài với nhau thƣờng trú ở
Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cƣ ở nƣớc
ngoài”. Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha, mẹ và con
bằng con đƣờng nuôi dƣỡng để phân biệt với việc hình thành quan hệ giữa
cha, mẹ và con trên cơ sở huyết thống.
Thứ năm, quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài.
Cấp dƣỡng là việc một ngƣời có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản
khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của ngƣời không sống chung với mình mà
có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dƣỡng trong trƣờng hợp ngƣời
đó là ngƣời chƣa thành niên, ngƣời đã thành niên mà không có khả năng lao
động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc ngƣời gặp khó khăn, túng

điều khiển học đƣa ra. Theo đó “quản lý là tác động định hƣớng bất kỳ lên
một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hƣớng nó phát triển phù hợp với
những quy luật nhất định”4. Là tác động định hƣớng nên quản lý có các yếu tố
cấu thành gồm chủ thể là nơi phát sinh tác động quản lý, khách thể là cái mà
tác động quản lý hƣớng đến – đó là hành vi của đối tƣợng bị quản lý và mục
đích, nhiệm vụ quản lý là đích mà chủ thể hƣớng tới.
Quản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu theo hai phạm vi gồm nghĩa rộng và nghĩa
hẹp. Theo đó “quản lý nhà nƣớc theo nghĩa rộng” là toàn bộ mọi hoạt động
của nhà nƣớc nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nƣớc, nhằm thực
hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nƣớc. Chủ thể của quản lý nhà nƣớc
theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan nhà nƣớc của bộ máy nhà nƣớc, tức là
tất cả ba hệ thống cơ quan: lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Nhân dân cũng là
chủ thể của quản lý nhà nƣớc theo nghĩa rộng khi thực hiện quyền trƣng cầu
dân ý – bỏ phiếu toàn dân, hoặc tham gia quản lý nhà nƣớc bằng các hình
Học viện Hành chính Quốc gia (2011), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, NXB Lao
động, Hà Nội, tr.48
4


13

thức khác. Các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội,… cũng là chủ thể của quản
lý nhà nƣớc theo nghĩa rộng nếu đƣợc nhà nƣớc trao quyền thực hiện chức
năng nhà nƣớc.Quản lý nhà nƣớc theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành hiến
pháp, luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và các luật. Do đó, quản lý nhà
nƣớc theo nghĩa rộng bao hàm quản lý nhà nƣớc theo nghĩa hẹp. Cách hiểu
này chính là nghĩa vốn có của thuật ngữ “quản lý nhà nƣớc” trong khoa học
luật hành chính xã hội chủ nghĩa cũng nhƣ ở Việt Nam từ trƣớc đến nay.
Chủ thể chủ yếu của quản lý nhà nƣớc theo nghĩa hẹp là toàn bộ hệ
thống các cơ quan hành chính nhà nƣớc đứng đầu là Chính phủ và các cơ

chức năng của nhà nƣớc theo quy định của pháp luật.
Quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài là sự tác
động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nƣớc đối với các quá trình hình
thành, tồn tại và phát triển của hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài; do
các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền tiến hành, nhằm đảm bảo cho các hoạt
động về hôn nhân và gia đình đƣợc thực hiện đầy đủ các chức năng và vận
hành theo đúng mục tiêu, định hƣớng của Nhà nƣớc mong muốn. Quản lý nhà
nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài đƣợc thực hiện bởi cơ
quan quyền lực nhà nƣớc nhƣ Quốc hội ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết
để điều chỉnh quản lý về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài; hệ thống
cơ quan hành chính nhà nƣớc gồm Chính phủ, Bộ và cơ quan ngang Bộ;
UBND các cấp, Sở, phòng, ban, thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà
nƣớc đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài; Tòa án thực
hiện quản lý nhà nƣớc thông qua hoạt động xét xử các vấn đề nhƣ ly hôn, xác
định cha mẹ con có yếu tố nƣớc ngoài,... Viện kiểm sát nhân dân thực hiện
quản lý nhà nƣớc thông qua hoạt động kiểm sát xét xử để bảo vệ quyền và lợi
ích của cá nhân, tổ chức trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc
ngoài.
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa quản lý nhà nƣớc về hôn
nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài nhƣ sau:
Quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài là hoạt
động quản lý nhà nƣớc đƣợc thực hiện trƣớc hết và chủ yếu bởi cơ quan hành
chính nhà nƣớc, có nội dung là việc chấp hành pháp luật và tổ chức điều hành
pháp luật về quản lý nhà nƣớc đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nƣớc ngoài.
1.1.2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài.
Quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài là một
hoạt động quản lý nhà nƣớc, vì vậy nó mang các đặc điểm chung của quản lý
nhà nƣớc nhƣ sau:

Thứ hai, pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nƣớc ngoài là pháp luật đƣợc lựa chọn để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã
hội nhất định - đó là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài. Pháp
luật đƣợc lựa chọn này rất đa dạng, có thể là pháp luật quốc gia (đơn phƣơng)
hoặc có thể là điều ƣớc quốc tế song phƣơng hoặc đa phƣơng do các bên liên


16

quan ký kết, nhƣng dù là quy phạm pháp luật quốc gia hay quy phạm điều
ƣớc quốc tế thì pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nƣớc ngoài là phƣơng tiện để bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, xã hội và các bên
tham gia quan hệ. Pháp luật này bao gồm một tổng thể các quy phạm xung
đột và quy phạm pháp luật thực chất. Trong các quy phạm pháp luật đó, quy
phạm xung đột là quy phạm cơ bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nƣớc ngoài.
Thứ ba, chủ thể quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố
nƣớc ngoài gồm nhiều cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức
xã hội…Tất cả các chủ thể quản lý đều hƣớng đến mục đích quản lý quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài, đảm bảo quyền và lợi ích của các
bên tham gia quan hệ này.
1.2. Nguyên tắc, hình thức và chủ thể quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và
gia đình có yếu tố nƣớc ngoài.
1.2.1. Nguyên tắc quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài.
Xét về khái niệm quản lý nhà nƣớc theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp
hành, điều hành, cũng chính là quản lý hành chính nhà nƣớc. Nguyên tắc
trong quản lý nhà nƣớc là tập hợp các quy phạm pháp luật có nội dung là tƣ
tƣởng chủ đạo làm cơ sở cho việc tổ chức và thực hiện hoạt động quản lý
hành chính nhà nƣớc. Có thể thấy, nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về hôn nhân

chính trị - xã hội và nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật. Tuy nhiên, sự
phân chia này cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối vì yếu tố tổ chức kỹ thuật và
chính trị trong quản lý hành chính nhà nƣớc có mối liên hệ chặt chẽ nhau.
Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật là để thực hiện một cách đúng
đắn các nguyên tắc chính trị - xã hội và việc thực hiện các nguyên tắc chính
trị - xã hội là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật.
Hệ thống các nguyên tắc quản lý nhà nƣớc bao gồm hai nhóm nguyên
tắc. Thứ nhất, nhóm những nguyên tắc chính trị - xã hội, gồm nguyên tắc
Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nƣớc; nguyên tắc nhân dân tham
gia vào quản lý hành chính nhà nƣớc; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên
tắc bình đẳng giữa các dân tộc và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thứ
hai, nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật, gồm nguyên tắc quản lý theo
ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ; nguyên tắc quản lý theo ngành kết
hợp với quản lý theo chức năng và nguyên tắc phân định chức năng quản lý
nhà nƣớc về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh.


18

Bên cạnh những nguyên tắc chung về quản lý nhà nƣớc, thì quản lý nhà
nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài phải tuân theo các nguyên
tắc cơ bản của hôn nhân và gia đình, các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài cụ thể gồm nguyên tắc hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; hôn nhân giữa công
dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa ngƣời theo tôn giáo với ngƣời
không theo tôn giáo, giữa ngƣời có tín ngƣỡng với ngƣời không có tín
ngƣỡng, giữa công dân Việt Nam với ngƣời nƣớc ngoài đƣợc tôn trọng và
đƣợc pháp luật bảo vệ; nguyên tắc xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh
phúc;…Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
ở Việt Nam phù hợp các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ƣớc quốc

phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân.”. Trong
trƣờng hợp này có hai vấn đề đặt ra: về điều kiện kết hôn, chị B phải tuân
theo quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ Việt Nam 2014, anh Piatkowski phải
tuân theo điều kiện kết hôn quy định của nƣớc Ba Lan; về hình thức kết hôn
sẽ theo các quy định của pháp luật Việt Nam, bởi hai ngƣời tiến hành thủ tục
kết hôn trên lãnh thổ Việt Nam.
1.2.2. Hình thức quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài.
Hình thức quản lý nhà nƣớc là biểu hiện có tính chất tổ chức – pháp lý
của những hoạt động cụ thể cùng loại của chủ thể quản lý nhà nƣớc nhằm
hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra trƣớc đó. Trong thực tiễn quản lý nhà
nƣớc, hoạt động quản lý nhà nƣớc đƣợc tiến hành dƣới hai hình thức đó là
hình thức pháp lý và hình thức không pháp lý. Hiện nay các hình thức pháp lý
đƣợc chiếm ƣu thế nhƣng việc sử dụng các hình thức không pháp lý ngày
càng phổ biến trong hoạt động của chủ thể quản lý.
Trong quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài,
hình thức quản lý đƣợc áp dụng nhƣ sau:
Một là ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước
đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài, Nhà
nƣớc đã ban hành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định các
quy tắc xử sự chung, quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các
chủ thể quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài nhƣ
Chính phủ, Bộ Tƣ pháp, Bộ Ngoại giao, Cơ quan đại diện ở nƣớc ngoài,
UBND cấp tỉnh – cấp huyện – cấp xã,… Xác định rõ thẩm quyền và thủ tục



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status