Hoạt động công tác trong việc thực hiện chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn huyện hiệp hoà, tỉnh bắc giang - Pdf 53

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ
NHÂN VĂN

NGÔ VĂN TRUNG

• ••

HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HÔI

TRONG VIỆC THựC HIỆN CHÍNH SÁCH
• ••

ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP
HOÀ, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ
NHÂN VĂN

Hà Nội - 2014


NGÔ VĂN TRUNG
LỜI CAM ĐOAN

HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI

• ••

TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
• ••

Xin chân thành cảm ơn tập thể lớp CH - CTXH2 - K2012 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để
tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này. c Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cán
bộ lãnh đạo và người dân huyện Hiệp Hòa, đặc biệt là lãnh đạo, cán bộ nhân viên Phòng Lao
động - TB&XH huyện Hiệp Hòa đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu
tại địa phương.
Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài nhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực
nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô giáo để
khóa luận của tôi được hoàn chỉnh và chất lượng hơn.
Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2014 Học viên thực hiện luận văn

Ngô Văn Trung
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH

An sinh xã hội

BHXH

Bảo hiểm xã hội


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
BHYT

Bảo hiểm y tế

BLĐTBXH


UNICEF

Qũy nhi đồng liên hợp quốc
DANH MỤC BẢNG BIỂU


1. Lý do chọn đề tài
Con người khi sinh ra ai cũng mong muốn mình được mạnh khỏe, có được một cuộc sống
MỞ ĐẦU

đầy đủ, sung túc. Nhưng lại có những người chỉ mong mình có được một cơ thể lành lặn, có thể đi
lại, sinh hoạt, học tập, làm việc như bao người bình thường khác. Vậy mà những mong ước đó
với họ lại trở nên khó khăn vô cùng. Đó chính là những người khuyết tật.
Người khuyết tật hiện nay đã không còn trở nên xa lạ khi ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh một
người khuyết tật đang đi trên đường phố với đôi chân không lành lặn hay bị thiếu đi đôi bàn tay
mà lại đang bán những món hàng do họ tự làm. Hoặc ở một nơi nào đó ta từng nhìn thấy một
người mù mà đôi bàn tay lại vô cùng linh hoạt khi làm các sản phẩm thủ công và một người điếc
lại tạo nên những bức tranh thêu rất đẹp... Như tuân theo một quy luật thông thường, mỗi con
người đều phải có việc làm, đều phải lao động để sinh tồn để bù đắp những khiếm khuyết, đều
mong muốn được đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình. Nhưng với người khuyết tật thì cơ hội
việc làm cũng như các sinh hoạt bình thường hàng ngày, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của họ lại
không được rộng mở như bdO người bình thường khác. Chính bởi những khiếm khuyết trên cơ thể
mà họ bị hạn chế và khó có cơ hội được tiếp cận và phát triển. Nhu cầu cơ bản của người khuyết
tật càng trở nên cấp bách và cần thiết khi chúng ta ai cũng nhận thấy rằng họ có tiềm năng và có
nghị lực, khát vọng được sống, làm việc, được học tập, được đối xử như người bình thường khác
như bao người.
Hiện nay, hiểu rõ nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của người khuyết tật, Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật. Trong đó có Luật Người
khuyết tật, Đề án trợ giúp Người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020, điều đó đã khẳng định hơn nữa

Năm 2011, trong một báo cáo của Liên Hợp Quốc (UN) và tổ chức lao động quốc tế ILO
cũng đã chỉ rõ rằng có khoẳng 75% dân số thế giới (chiếm khoảng 5 tỷ người) không được hưởng
các chế độ an sinh xã hội phù hợp. Trợ lý Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đồng thời là tổng giám đốc
cơ quan Liên Hợp Quốc phụ trách các vấn đề về phụ nữ - Bà Michelle Buchelet cho biết: Trong
suốt tập kỷ qua, nền kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh mẽ và tổng sản phẩm quốc nội của thế giới
cũng tăng gấp 10 lần nhưng việc tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân vẫn còn hạn chế.
6


Bởi vậy bà Michelle Buchelet cho rằng: “Đảm bảo an sinh xă hội là thách thức cho tất cả các
quốc gia. Mỗi quốc gia cần thi hành các chính sách việc làm cho phụ nữ và thanh niên” Báo cáo
của UN và ILO cho thấy, có khoảng 38% dân số thế giới (tương đương khoảng 2,6 tỷ người)
MỞ ĐẦU

không được hưởng các hệ thống chăm sóc sức khỏe thỏa đáng 884 triệu người không được dùng
nước sạch. Thêm vào đó có khoảng 1,4 tỷ người vẫn phải sống ở mức dưới 1,25 USD/ngày. Báo
cáo cũng đề xuất các nguồn trợ cấp xã hội cộng đồng dành cho những gia đình nghèo, trong đó
bao gồm trợ cấp cho những người già cả, người khuyết tật và khoản trợ cấp dành cho trẻ em và
những người thất nghiệp. Bên cạnh đó chăm sóc y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh dịch tế cũng
nên được đảm bảo cho tất cả mọi người.
Trong Công ước Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật, trong đó đã
cũng đã nhấn mạnh đến các quyền về chăm sóc sức khỏe... đảm bảo

7


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi

thu nhập và an sinh xã hội, đặc biệt Công ước cũng nhấn mạnh nguyên tắc chống phân biệt đối
xử, bảo vệ phụ nữ và trẻ em khuyết tật. Nước Việt Nam cũng đã ký kết tham gi thực hiện công

__

__

F

Bảng 1. Tỷ lệ NKT vừa và nặng trên thế giới năm 2000 và dự báo năm 2035
Năm
2000
2035
Dân số thế giới

6.091 triệu người

8.669 triệu người

335 triệu người

667 triệu người

101 triệu người

142 triệu người

triển
Số lượng tại các nước phát triển 234 triệu người

525 triệu người

Số lượng NKT vừa và nặng

Ket-noi.com kho tai lieu mien phi

đã tiến hành nghiên cứu về “Thực trạng trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 2007 và khuyến nghị tới năm 2015” [20]. Năm 2013, Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người
khuyết tật tại Việt Nam đã có báo cáo năm 2013 về hoạt động trợ giúp người khuyết tật tại Việt
Nam [1]. Năm 2013, Nguyễn Thị Hà biên soạn tập bài giảng “Công tác xã hội với người khuyết
tật” [23]
Những tài liệu nghiên cứu trên đã phân tích, đánh giá trợ giúp người khuyết tật trên các
khía cạnh khác nhau về khía cạnh khoa học, về khía cạnh thực tiễn.
Trong báo cáo về khảo sát nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam của Tổ chức
lao động thế giới - ILO [12], đã chỉ rõ Chính phủ Việt Nam chú trọng rất nhiều đến tầm quan
trọng của vấn đề hòa nhập trong đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp. Hiện nay, các
sáng kiến dành cho phụ nữ bị khuyết tật còn hạn chế mặc dù Chính phủ Việt Nam cũng đã nhận
thấy những nhu cầu riêng của họ. Việt Nam nghiêm túc thực hiện cam kết khung thiên niên kỷ
Biwako của Chương trình thập kỷ thứ hai vì người khuyết tật khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
của Uỷ ban kinh tế xã hội của Liên Hợp Quốc (ESCAP). Gần đây, Việt Nam đã tham gia ký
nhưng chưa phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật. Trong báo
cáo về khảo sát nghề của người khuyết tật tại Việt Nam của Tổ chức lao động thế giới - ILO đã
cho thấy tại Việt Nam rất ít được đào tạo nghề và hướng dẫ về việc làm cũng như phát triển
doanh nghiệp. Chính phủ cũng như bản thân người khuyết tật nhận thấy cần có chính sách đào tạo
riêng cho người khuyết tật, các dịch vụ bố trí việc làm riêng và các kế hoạch và hoạt động phát
triển doanh nghiệp riêng cho người khuyết tật. Tuy nhiên pháp luật về đào tạo nghề và việc làm
của Việt Nam không nêu rõ ràng các hoạt động chủ đạo và Chính phủ cũng chưa có chính sách
khuyết khích đào tạo nghề hòa nhập riêng cho người khuyết tật ngoài chính sách giáo dục hòa
nhập. Tuy nhiên các trung tâm trước đây đào tạo riêng cho người khuyết tật này đều mở cửa đối
với mọi sinh viên (trên thực tế các trung tâm này vẫn chủ yếu phục vụ người khuyết tật, trẻ em
mồ côi, cựu chiến binh và những người có hoàn cảnh không may mắn khác). Nhờ có một số ưu
tiên riêng, đã có nhiều trường, nhiều trung tâm dạy nghề dành riêng cho người khuyết tật được
thành lập. Nhưng trên thực tế chỉ phục vụ các khu vực thành thị. Tại các khu vực nông thôn, việc
tiếp cận đào tạo nghề rất bị hạn chế. Các dịch vụ bố trí việc làm thường gắn liền với cơ sở đào tạo
10

lĩnh vực như trợ cấp hàng tháng đối với người khuyết tật, hộ gia đình nuôi dưỡng người khuyết
tật, số người khuyết tật có việc làm, số người khuyết tật được tiếp cận với các công trình giao
thông công cộng. Từ đó đề ra những giải pháp để giúp công tác thực hiện pháp lệnh người khuyết
tật được tốt hơn.
Năm 2010, tác giả Nguyễn Ngọc Toản đã có nghiên cứu về đề tài
"Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam". Tác giả
cũng đã có viết một phần về người khuyết tật. Trong đề tài tác giả đã đưa ra
cách hiểu mới về trợ gúp xã hội không chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực cho
cá nhân, hộ gia đình chịu hậu quả thiên tai, chiến tranh mà mở rộng thành các
hợp phần chính sách lại bao gồm các chính sách bộ phận đặc biệt như chính
sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng gồm các chính sách bộ phận
là: trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ giúp về y tế, trợ giúp về giáo dục, trợ giúp về
việc làm, trợ giúp về học nghề. Đồng thời trong bài viết cũng chỉ ra số lượng
người khuyết tật năm 2008 trên cả nước và phạm vi phân bổ người khuyết tật,
dạng khuyết tật và số lượng người khuyết tật cũng như nhu cầu của người
khuyết tật và việc đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật... Kết quả nghiên cứu
8

phát hiện nhu cầu trợ giúp tương đối đông, tính chung 16,22% dân số cần trợ giúp xã hội. Các
nhu cầu trợ giúp (đời sống, sức khỏe, giáo dục) là khác nhau, tùy thuộc vào các nhóm đối
tượng cụ thể. Các công cụ chính sách được quy định đồng bộ (bao gồm trợ cấp xã hội, trợ giúp


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi

về y tế, trợ giúp về giáo dục). Tính hiệu quả của chính sách này ngày càng cao theo thời gian.
Tuy nhiên tính hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng và bền vững của chính sách còn chưa đảm
bảo đảm.
_


29,78

46,1

3

Tai nạn lao động

1,97

2,74

1,35

4

Tai nạn giao thông

5,5

6,75

3,38

5

Do chiên tranh

19,1



___

động

Tỉ lệ

29,47

ss

tật đang gặp phải và tính cấp thiết của việc thực hiện chính sách xã hội cho người khuyết tật. Đặc
biệt, trong các vấn đề về chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ trợ cấp hàng tháng, dạy nghề tạo việc làm, hỗ
trợ về pháp lý... Trong đó, tiêu biểu phải kể đến các báo cáo, bài viết và hội thảo về người khuyết
tật, về các vấn đề liên quan đến chính sách người khuyết tật như: đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu mô
hình hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại cộng đồng ” do Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em
mồ côi Việt Nam thực hiện năm 2012. Đề tài đã đưa ra được mô hình hỗ trợ sinh kế cho người
khuyết tật tại cộng đồng có hiệu quả nhất để áp dụng rộng rãi nhằm nâng cao hiệu quả công tác
hỗ trợ, đảm bảo ổn định cuộc sống lâu dài cho người khuyết tật, thực hiện chính sách xóa đói
giảm nghèo bền vững của Đảng và Nhà nước.
Hay “Báo cáo chính sách giảm thiểu kỳ thị và phân biệt đối xử với người khuyết tật ”
(trong hai năm 2011 và 2012) của Viện Nghiên cứu Dư luận Xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung
ương phối hợp với Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội. Báo cáo đã chỉ ra mối quan hệ tương tác
giữa khuyết tật, kỳ thị và nghèo đói. Khẳng định việc xây dựng và thực hiện các chính sách,
chương trình giảm thiểu, tiến tới xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến khuyết tật sẽ hạn
chế được các chi phí liên quan đến khuyết tật, thúc đẩy sự hòa nhập bình đẳng của người khuyết
tật, giảm thiểu các tác động tiêu cực của khuyết tật và xóa bỏ được tình trạng nghèo đói liên quan
đến khuyết tật.
Hay về vấn đề hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật cũng đã được rất nhiều hội thảo đề cập
tới. Tiêu biểu như: hội thảo “Đánh giá kết quả và hiệu quả thực hiện thí điểm mô hình hỗ trợ sinh


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi

kế cho người khuyết tật tại cộng đồng ” của Hội Bảo trợ người tàn tật và Trẻ mồ côi Việt Nam.
Hội thảo đã đánh giá hiệu quả của một số mô hình thí điểm hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại
một vài địa phương. Trong đó, đã rút ra được những bài học kinh nghiệm từ những mô hình đã
được triển khai và đề ra những giải pháp mới cho việc thực hiện các mô hình tiếp theo. Và ngày
24/6/2013, tại Hà Nội, Cục Bảo trợ Xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) đã phối hợp
với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tổ chức hội thảo “Phát triển mô hình dạy nghề gắn với tạo
việc làm cho người khuyết tật”. Tại hội thảo này, các đại biểu đã được chia sẻ một số mô hình dạy

nhìn mới về việc thực hiện chính sách xã hội cho người khuyết tật tại một địa
bàn cụ thể trên thực tế và đề xuất các giải pháp để người khuyết tật được tiếp
cận và thụ hưởng các chế độ chính sách xã hội đối với nhóm người khuyết tật.
Đánh giá đúng về nhu cầu và cơ hội của người khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa,
12


tỉnh Bắc Giang. Qua đó, sẽ đưa ra được những khuyến nghị để trợ giúp cho người khuyết tật được
hiệu quả, thiết thực và phù hợp hơn.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1.

Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trên cơ sở tiếp cận của Công tác xã hội, đề tài nghiên cứu này sẽ vận dụng những nội dung

kiến thức trong hệ thống lý thuyết và khái niệm của CTXH để làm cơ sở mô tả, phân tích và giải
thích cho vấn đề nghiên cứu.
Đề tài này sẽ góp phần làm phong phú hơn các cách tiếp cận và phương pháp làm việc cụ
thể với đối tượng là người khuyết tật. Hơn nữa, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu sâu về hệ thống các
chế độ chính sách dành cho người khuyết tật và làm rõ hơn các giải pháp của Công tác xã hội với
hỗ trợ cho người khuyết tật.
3.2.

Ỷ nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu sẽ góo phần làm rõ hơn thực trạng người khuyết tật cũng như thực trạng

việc thực hiện các chế độ chính sách xã hội của địa phương dành cho người khuyết tật tại huyện
Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Qua đó mang đến một cái nhìn toàn diện hơn về người khuyết tật đặc
biệt là ở lĩnh vực giải quyết các chế độ chính sách xã hội. Giúp cộng đồng có những nhìn nhận
đúng đắn về người khuyết tật, cũng như có sự quan tâm nhiều hơn tới những đối tượng yếu thế

viêc tiêp cân và thu huong cac chinh sach xâ hôi. Tù do, tac giâ dè ra cac giâi phap cüa Công tac
xâ hôi dê nhâm nâng cao hiêu quâ cüa hoat dông hô tro dành cho nguôi khuyêt tât dê ho co thê
tiêp cân và thu huong cac chê dô chinh sach xâ hôi tai dia phuong.
5.2.

Nhiêm vu nghiên cüu

Tim hiêu thuc trang cüa NKT tai huyên Hiêp Hoa, tînh Bâc Giang. Danh gia duoc mât
duoc, mât chua duoc tù do tim ra nguyên nhân.
Tim hiêu viêc vai tro cüa nhân viên công tac xâ hôi thuc hiên cac chê dô chinh sach xâ hôi
dành cho nguôi khuyêt tât tai huyên Hiêp Hoa, tînh Bâc Giang. Nhu vai tro cüa can bô lao dông
thuong binh xâ hôi, cüa hôi phu nü, cüa doàn thanh niên, cüa hôi cuu chiên binh, cüa hôi nông
dân...
14


Đánh giá được những ảnh hưởng (kể cả tích cực và tiêu cực) của công tác xã hội đối với
người khuyết tật xem việc thực hiện chính sách có công bằng không.
Đề xuất các giải pháp của Công tác xã hội nhằm hỗ trợ việc thực hiện các chế độ chính
sách xã hội cho người khuyết tật tại địa phương.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, người khuyết tật tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã và đang nhận được sự
quan tâm từ phía các cơ quan chính quyền và từ cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, đời sống cũng như
vấn đề nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của họ, việc tiếp cận và thụ hưởng các chính
sách xã hội dành cho người khuyết tật tại địa phương thì còn nhiều hạn chế.
Vai trò của công tác xã hội với người khuyết tật: chưa có tính chuyên môn nên hiệu quả
chưa cao; Vai trò của các tổ chức (hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội nông dân...) chủ yếu là bán
chuyên nên hoạt động chưa làm cho người dân hiểu rõ; Ảnh hưởng đến người khuyết tật: Mặc dù
đã được hưởng các chế độ chính sách xã hội như: trợ cấp hàng tháng, y tế, giáo dục .... Nhưng
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu.

8.1.

Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu dựa trên các tư liệu, các văn bản, các báo cáo

tổng kết năm, các tác phẩm (sách, báo, công trình nghiên cứu) liên quan nhằm phục vụ cho công
việc nghiên cứu.
Trước khi tiến hành khảo sát thực địa, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu có
sẵn như: Các công trình, đề tài nghiên cứu, giáo trình, sách báo liên quan, báo cáo của địa phương
về đánh giá việc thực hiện chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn.
Tài liệu được tác giả sử dụng để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình là giáo trình các
môn học như giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật, Chính sách xã hội, An sinh xã hội...
Bên cạnh đó, còn có các tài liệu như các trang mạng: Cổng thông tin điện tử chính phủ, trang
thông tin điện tử của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trang mạng Socialwork.vn, đề tài
nghiên cứu và khóa luận đã được công bố. Qua tìm hiểu và phân tích các tài liệu kể trên sẽ giúp
nghiên cứu thêm khoa học, chính xác hơn. Đặc biệt, là ứng dụng vào quá trình nghiên cứu với
người khuyết tật và các đối tượng có liên quan.
Kết quả của phương pháp này là xác định được tổng quan của vấn đề nghiên cứu và cơ sở
lý luận cũng như các giá trị chuẩn mực trong nghiên cứu chính sách đối với người khuyết tật.
Trên cơ sở đó, giúp cho việc chọn mẫu được chính xác hơn. Đồng thời, phương pháp này giúp
cho việc tìm hiểu những khía cạnh mà biến phụ thuộc đưa ra và khám phá những khía cạnh
nghiên cứu chưa được đề cấp. Tức là, dựa vào kết quả phân tích tài liệu có sẵn, áp dụng các
phương pháp thu thập, xử lý thông tin thích hợp để phân tích các nội dung cơ bản đã nêu trên.

20


8.2. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là một phương pháp thu thập thông tin thực nghiệm mà thông qua
các tri giác như: nghe, nhìn, cầm... để thu nhận thông tin về các quá trình, các hiện tượng xã hội

Chương 3: Công tác xã hội trong việc triển khai chính sách dành cho người khuyết tật
tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1.

Các khái niệm công cụ

1.1.1.

Khái niệm khuyết tật
Có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau về khuyết tật
Định nghĩa về khuyết tật theo cuốn Từ điển Tiếng Việt: từ “khuyết” có nghĩa là không đầy

đủ, thiếu một bộ phận, một phần. Từ “tật” có nghĩa là có “điều gì đó không được bình thường, ít
nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn
ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được, của một cơ quan ừong cơ thể do bẩm
sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” [13, ừ 80], Định nghĩa này chỉ ra rằng khuyết tật là
khiếm khuyết thực thể ở mộc bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết về chức năng của một hoặc
nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm ừọng đến cuộc
sống. Hiện nay, ừong các văn bản pháp quy cụm từ “khuyết tật” dần được sử dụng thay cho cụm
từ “tàn tật” bởi sử dụng hai từ “khuyết tật” nghe nhẹ nhàng hơn, mang ý nghĩa nhân văn hơn hai
từ “tàn tật”. Từ “khuyết” mang ý nghĩa chỉ suy giảm một chức năng nào đó, còn các chức năng
khác vẫn hoạt động bình thường.
1.1.2.

Khái niệm về người khuyết tật
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 thì “Người khuyết tật (people

with disabilities) bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần
kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ

phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiên cho lao đông , sinh
hoạt, học tập gặp khó khăn”[11].
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, tác giả lựa chọn khái niệm người khuyết tật
theo Luật Người khuyết tật của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm cơ sở
trong nghiên cứu đề tài.
Trong giới hạn nghiên cứu khuyết tật ở địa phương, tác giả chủ yếu tập trung vào nhóm
khuyết tật vận động, khuyết tật nghe, khuyết tật nhìn, khuyết tật thần kinh, tâm thần.

23


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi

1.1.3. Chính sách xã hội
- Khái niệm chính sách xã hội (Social Policy) là gì? Đây là vấn đề còn đang tranh luận.
“Chính xác như thế nào được coi là một chính sách xã hội còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Thuật ngữ chính sách thường được chỉ một hệ quan điểm ít nhiều ăn khớp với nhau về những gì
cần được thể hiện ừong một phạm vi cụ thể, các quan điểm này thường được ghi lại dưới dạng
văn bản và được các cơ quan ra quyết định hữu quan chính thức thừa nhận” [15, Tr.72]. Để làm rõ
khái niệm này, chúng ta cần phân tích hai khái niệm sau:
Chính sách: Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu trước đây, thì đó là hình thức cua
những mối Bên hệ, tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội gắn liền với các tổ chức, hoạt
động của nhà nước của các đảng phái hay các thiết chế khác của hệ thống chính trị nhằm thực
hiện các lợi ích, mục tiêu, nhiệm vụ của cá nhân và tập đoàn ấy. “Chính sách thường được thể
hiện trong các quyết định, trọng hệ thống pháp luật và các quy chuẩn hành vi khác” [27, Tr.207].
Xã hội: Theo nghĩa rộng “Xã hội” được hiểu như là tất cả những gì gắn bó với xã hội loài
người, nhằm phân biệt với “cái tự nhiên” [27, Tr.207].
Theo nghĩa hẹp “Xã hội” được hiểu mối quan hệ của con người, của cộng đồng thể hiện
trên nhiều mặt của đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính tri, văn hoá tư tưởng. Tuy nhiên nó không
phải là yếu tố bao trùm lên những mặt nêu trên mà là yếu tố con người là khía cạnh nhân văn của


Khái niệm vai trò

Theo lý thuyết vai trò: Vai trò là bao gồm một chuỗi các luận lệ hoặc các chuẩn mực như là
một bản kế hoạch hoặc đề án để chỉ đạo hành vi. Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt
được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt động cần thiết
đòi hỏi phải có trong một bối cảnh hoặc tình huống có sẵn.
1.1.6.

Khái niệm hòa nhập cộng đồng

Khi bàn về khái niệm hòa nhập cộng đồng thì tôi chưa tìm ra được một khái niệm cụ thể và
chung nhất, mà chỉ có thể nêu ra một jể ý kiến, cụ thể:
Hòa nhập xã hội hay liên kết xã hội theo nghĩa chung là nói lên sự kết hợp thích ứng với
nhau giữa các yếu tố cấu thành một hệ thống, cho phép các yếu tố đó tạo thành một chỉnh thể cân
đối. Theo Durkhei, sự hòa nhập hay sự kết hợp một bộ phận của ý thức tập thể với ý thức cá nhân
và với phương thức lệ thuộc lẫn nhau của các yếu tố khác nhau của xã hội (tín ngưỡng, tôn giáo,
nhóm, phái... ) trong một chỉnh thể có tổ chức, tạo thành sự hòa nhập xã hội (liên kết xã hội).
Cách hiểu cơ bản về định nghĩa hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật là những kỳ vọng
rằng người khuyết tật có thể có cùng một cơ hội để sống trong cộng đồng như mọi người khác.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status