VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ KIM PHƯỢNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT
TẬT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM KỲ,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – năm 2020
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ KIM PHƯỢNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT
TẬT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM KỲ,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI – năm 2020
lá lành đùm lá rách, giúp NKT vươn lên trong cuộc sống, làm chủ bản thân,
hòa nhập với cộng đồng, xã hội.
Ở nước ta, sau chiến tranh hàng triệu người bị thương và tàn tật, những
người còn sống tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng về kinh tế,
xã hội và môi trường mà cuộc chiến đã gây ra. Ngoài hậu quả của chiến tranh,
việc gây ra khuyết tật còn do ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh, tai
nạn…Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Việt Nam đã có
nhiều chương trình đề án hỗ trợ NKT nhưng trong thời kỳ đó nước ta còn
nghèo do đó việc hỗ trợ , chăm sóc cho NKT là rất hạn chế.
Nhà nước đặc biệt quan tâm những người yếu thế trong xã hội, trong đó
có NKT. Chính sách xã hội dành cho NKT đã được hình thành cùng với
những chính sách xã hội cho các đối tượng khác. Hiện nay có rất nhiều chính
sách dành cho NKT. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật, Nghị định liên
quan đến NKT như: Luật NKT năm 2010, Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày
10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT,
Nghị định 136/20143/NĐ-CP ngày 21/10/2013 về quy định chính sách trợ
giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; đề án giúp NKT giai đoạn 20122020, nhiều chính sách cho NKT đã được xây dựng và tổ chức thực hiện. Các
văn bản đã quy định rất rõ những chính sách dành cho NKT, nhưng vẫn chưa
đáp ứng được cuộc sống tối thiểu của NKT, hiệu quả thực hiện chính sách
chưa cao. Hiện nay, có rất nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm tới đời
sống NKT, các chính sách trợ cấp Nhà nước không được triển khai hoặc thực
sự chưa hiệu quả, còn có nhiều NKT không hề biết về các chính sách, quyền
lợi mà họ đáng được hưởng.
Thành phố Tam Kỳ là một thành phố thuộc trung tâm tỉnh lỵ Quảng
Nam. Tổng diện tích tự nhiên 9.281,93 ha với dân số khoảng 122.374 người.
Theo thống kê của phòng Lao động và Thương binh Xã hội, hiện nay thành
2
3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong nhiều năm qua, các vấn đề về NKT luôn nhận được sự quan tâm
đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả, các chuyên gia với
nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, nhiều luận văn, các đề tài khoa học và các
công trình dưới dạng tài liệu tham khảo. Song, các công trình, đề tài nghiên
cứu nêu trên chỉ dừng lại ở một khía cạnh như: Đào tạo việc làm đối với
NKT; Thực trạng và giải pháp đối với NKT.... chưa thấy có công trình nào
nghiên cứu đầy đủ: Thực hiện chính sách đối với NKT.
Đề tài “Thực hiện chính sách đối với NKT trên địa bàn TP Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam” là một đề tài khá mới mẻ trong bối cảnh Việt Nam nói chung và
Tam Kỳ nói riêng đang tập trung nguồn lực để thực hiện có hiệu quả các
chính sách đối với NKT.
- Viện nghiên cứu phát triển xã hội (2008) đã công bố báo cáo nghiên
cứu Người khuyết tật ở Việt Nam từ kết quả điều tra xã hội tại Thái Bình,
Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục
đích giúp chúng ta hiểu sâu hơn những khó khăn đa dạng và nhiều mặt mà
người khuyết tật hiện đang gặp phải. Nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở thông
tin giúp cho việc hoàn thiện chính sách cũng như thiết kế các chương trình hỗ
trợ hiệu quả [34].
- Đề tài ”Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt
Nam”, của Nguyễn Hữu Toàn (2010). Tác giả cho rằng trợ giúp xã hội không
chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực, cho cá nhân, hộ gia đình chịu hậu quả thiên
tai, chiến tranh, tai nạn, mà còn mở rộng thành các hợp phần chính sách là trợ
giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên. Đồng thời trong bài viết cũng chỉ ra
được số lượng người khuyết tật (2008) .
Tác giả Trần Nam, trong Mục chính sách và pháp luật, Hội nạn nhân
Chất độc Da cam/Dioxin – Việt Nam, năm 2012, “Chính sách đối với người
ta giai đoạn 2008 - 2010. Từ kết quả đánh giá thực tiễn đã xây dựng và đề
5
xuất mô hình phù hợp trong giai đoạn tới, bao gồm cả việc xác định mục tiêu,
tiêu chí, đối tượng, phương thức, cách thức tổ chức thực hiện, nguồn lực và
các giải pháp kèm theo. Đề xuất quan điểm, định hướng về công tác hỗ trợ
cho NKT giai đoạn 2011 - 2020 và nghiên cứu, xây dựng mô hình hỗ trợ sinh
kế cho NKT, cùng với hệ thống các giải pháp vĩ mô và vi mô để đưa ra mô
hình áp dụng để các địa phương trong phạm vi cả nước. Trong đó có đề cập
đến một số lĩnh vực liên quan đến các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ
sinh kế cho NKT [10].
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về người khuyết tật, nhưng chưa
có một nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống việc thực hiện chính sách
đối với người khuyết tật ở TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, do đó việc lựa chọn
của em không trùng với các công trình nghiên cứu khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống chính sách hiện có và thực trạng về thực hiện chính
sách đối với người khuyết tật tại TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất
giải pháp tăng cường thực hiện chính sách đối với NKT nói chung và tại TP
Tam Kỳ nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Rà soát và đánh giá lại cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với
NKT.
Hệ thống hóa chính sách của Việt Nam đối với NKT.
- Đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách đối với NKT tại TP
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam nói riêng và cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
bảng hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi xã hội tại địa
phương cũng như đối chiếu với tình hình, phân tích kết quả kết quả thực hiện
chính sách để đưa ra đánh giá chung.
7
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp
quan sát, phương pháp so sánh, diễn giải, quy nạp, phương pháp phân tích, tổng
hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thực hiện chính
sách đối với NKT, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm về cách nhìn
nhận, đánh giá về thực hiện chính sách đối với NKT trên địa bàn TP Tam Kỳ
tỉnh Quảng Nam nói riêng và trên cả nước nói chung. Các phát hiện nghiên
cứu gợi mở các vấn đề về phát triển lý thuyết thực hiện chính sách công.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đối với địa phương: nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về t́ình h́ ình
thực tế của NKT, góp phần giúp địa phương có những điều chỉnh, quy hoạch,
hỗ trợ phù hợp trong quá tŕnh ban hành các chính sách phát triển kinh tế xă
hội, thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội, an sinh xã hội, góp phần nâng cao
đời sống người dân.
Đối với bản thân người nghiên cứu, thông qua quá trình nghiên cứu, bản
thân học viên có cơ hội áp dụng những lí thuyết và phương pháp đã được học
vào thực tiễn quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, từ đó tìm kiếm và đề
xuất các giải pháp góp phần thúc đẩy việc thực hiện chính sách với NKT ở
tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn được chia làm ba chương:
lớn nhất thế giới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất;
NKT có ở mọi nơi trên thế giới và các quốc gia phải có trách nhiệm bảo vệ
NKT.
Về nguyên nhân dẫn đến khuyết tật:
Nếu như giai đoạn trước đây, các nguyên nhân như: bẩm sinh, bệnh tật,
chiến tranh là nguyên nhân chính dẫn tới khuyết tật. Thì trong những năm tới,
các nguyên nhân như: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ô nhiễm môi
trường sẽ khiến cho số lượng NKT có xu hướng ngày một gia tăng.
1.1.1.2. Vấn đề của người khuyết tật
Phân loại khuyết tật
10
Theo phân loại khuyết tật ở Việt Nam được cụ thể hóa trong Luật Người
khuyết tật năm 2010, phân loại mức độ khuyết tật thường được dựa trên nhiều
tiêu chí khác nhau: dựa vào các dạng tật và dựa vào các mức độ khuyết tật
[8].
* Các dạng khuyết tật:
Theo quy định tại khoản 1, Điều 3, Luật Người khuyết tật Việt Nam
2010 các dạng tật được quy định cụ thể:
a. Khuyết tật vận động: tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động
đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
b. Khuyết tật nghe, nói: là khó khăn khi nói hoặc không nói được, khó
khăn khi nghe hoặc không nghe được, bị biếng dạng ở vùng tai, mũi, miệng.
c. Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm
nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi
trường bình thường.
d. Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ,
cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành
thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần và nhu cầu hoàn
thiện chính bản thân mình như những người bình thường khác. Người khuyết
tật luôn muốn được hòa nhập xã hội, mong muốn được học tập, muốn được
tôn trọng để xóa đi những mặc cảm tự tị, mặc cảm với bản thân mình.
1.1.2. Chính sách đối với người khuyết tật
1.1.2.1. Khái niệm chính sách đối với NKT
- Chính sách đối với NKT: là các quan điểm, cách thức, biện pháp của
nhà nước nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng cầm quyền tác động đến lĩnh
vực giáo dục, bảo vệ và chăm sóc NKT. Đó là các chính sách và chương trình
hỗ trợ nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế; trợ giúp giáo dục, y tế, chỉnh hình,
phục hồi chức năng; hỗ trợ học nghề, tạo việc làm; chính sách và chương
trình tiếp cận công trình công cộng, tham gia giao thông và công nghệ thông
12
tin đối với NKT; chính sách và chương trình hỗ trợ gia đình NKT có hoàn
cảnh đặc biệt; các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có hợp phần hoặc
nội dung bảo vệ NKT; các chương trình dành riêng cho NKT.
1.1.2.2. Nội dung chính sách đối với NKT
a.Chính sách giáo dục
Khoản 3, Điều 61, Hiến pháp năm 2013 khẳng định .Người khuyết tật,
đặc biệt là trẻ em khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi
quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được
miễn, giảm một số môn học mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng;
được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét
cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập.
* Phương thức giáo dục người khuyết tật
- NKT, cha, mẹ hoặc người giám hộ NKT lựa chọn phương thức giáo dục
phù hợp với sự phát triển của cá nhân NKT.
Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động cho cơ
sở chăm sóc người khuyết tật công lập.
c. Chính sách chăm sóc y tế
Như những người bình thường, NKT có quyền được chăm sóc, bảo vệ
và nâng cao sức khỏe, được khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng,được
chăm sóc sức khỏe ban đầu, được tham gia và hưởng BHYT như mọi công
dân khác trong xã hội.
Điều 21 Luật Người khuyết tật 2010 quy định việc chăm sóc sức khỏe
cho NKT như sau:
Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm sau đây:
- Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho người
khuyết tật.
*Phục hồi chức năng:
Theo quy định của pháp luật về người khuyết tật, cụ thể tại Điều 24 và
14
Điều 25 Luật người khuyết tật 2010 quy định nội dung phục hồi chức năng
người khuyết tật bao gồm: Phục hồi chức năng thông qua các cơ sở chỉnh
hình, phục hồi chức năng và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
•
Viện chỉnh hình, phục hồi chức năng;
•
Trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng;
•
15
nhiệm trợ giúp, hướng dẫn, sắp xếp chỗ ngồi thuận tiện cho người khuyết tật;
hỗ trợ người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng khi lên, xuống
phương tiện và sắp xếp hành lý khi cần thiết.
*Thực hiện miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ cho người khuyết tật khi
tham gia giao thông bằng phương tiện giao thông công cộng:
- NKT nặng, NKT đặc biệt nặng khi tham gia giao thông bằng phương
tiện giao thông công cộng được miễn, giảm giá vé theo quy định tại Điều 12
Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
- Mức giảm giá vé, giá dịch vụ cho NKT do tổ chức, cá nhân quản lý,
kinh doanh vận tải hành khách bằng phương tiện giao thông công cộng tự xây
dựng và công bố thực hiện nhưng không thấp hơn mức giảm giá vé quy định
tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
- NKT sử dụng xe lăn thông dụng không gắn động cơ hoặc sử dụng
các dụng cụ cầm tay để phục vụ việc đi lại của bản thân thì được miễn cước
hành lý đối với xe lăn, dụng cụ đó khi tham gia giao thông bằng phương tiện
giao thông công cộng.
- NKT đồng thời thuộc đối tượng được giảm giá vé, giá dịch vụ theo
các chế độ khác nhau thì chỉ được hưởng một mức giảm giá vé cao nhất.
- Tổ chức, cá nhân quản lý, kinh doanh vận tải hành khách bằng
phương tiện giao thông công cộng có trách nhiệm bố trí thiết bị, công cụ và
nhân viên để trợ giúp NKT lên, xuống phương tiện được thuận tiện. Phương
án trợ giúp này phải được thông báo ở những nơi dễ nhận biết tại các bến, nhà
ga để NKT tiếp cận, sử dụng.
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân quản lý, kinh doanh điểm dừng, đỗ,
bến, nhà ga; kinh doanh vận tải hành khách bằng phương tiện giao thông công
cộng tổ chức bộ phận, cổng thông tin để tiếp nhận phản ảnh, hướng dẫn, trả
thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng: kế hoạch tổ chức điều hành, kế
hoạch về các nguồn lực, kế hoạch thời gian triển khai, kế hoạch kiểm tra, đôn
17
đốc thực thi chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; đồng
thời phải đảm bảo tuân thủ theo đúng quan điểm, mục tiêu, yêu cầu của chủ
thể ban hành. Kế hoạch triển khai thực thi chính sách đối với người khuyết tật
bao gồm những nội dung cơ bản.
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách. Nội quy, quy chế
trong thực thi chính sách đối với người khuyết tật bao gồm nội quy, quy chế
về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ,
công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về
các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi
chính sách đối với NKT.
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách có giá trị pháp lý khi được
mọi người đồng ý thực hiện, sau khi các lĩnh vực quyết định thông qua. Kế
hoạch này có thể điều chỉnh nếu nó không phù hợp với thực tế.
b.Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Trong quá trình thực hiện chính sách, trước tiên phải tuyên truyền,vận
động nhân dân tham gia thực hiện chính sách đối với người khuyết tật cần
được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách công đang được
thi hành, để mọi đối tượng cần được tuyên truyền thực thi chính sách.
Phổ biến, tuyên truyền chính sách điều này cũng giúp các cơ quan và
cán bộ, công chức thực thi chính sách rút ngắn thời gian, triệt để, đạt đến mục
tiêu đề ra. Nếu đối tượng thụ hưởng không hiểu chính sách thì thời gian thực
hiện kéo dài, bổ sung nhiều lần, gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá
nhân và các cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách trong quá trình
tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách.
hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi chính sách nêu cao ý thức trách
nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách. Kiểm tra tổ
chức thực hiện chính sách đối với NKT với mục đích phòng ngừa các vi phạm
sai sót có thể xảy ra; xử lý nghiêm khắc vi phạm và chấn chỉnh sai sót đã xảy
19
ra. Vì vậy, việc kiểm tra thực hiện chính sách đối với NKT cần được tiến
hành đúng kế hoạch, bảo đảm các yêu cầu, các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá;
kết luận các vi phạm sai sót phải chính xác và khách quan, xem xét xử lý
nghiêm khắc, chấn chỉnh và đúng mực.
f. Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm trong thực hiện chính sách đối với
người khuyết tật
Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm là quá trình xem xét, kết luận về
công tác chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách của các cơ quan và cá
nhân liên quan được phân công thực hiện chính sách; những lợi ích mang đến
cho xã hội và hiệu quả cho đối tượng hưởng lợi từ chính sách.
Hằng năm, phải tiến hành tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm một lần.
Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị
– xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách đối với người
khuyết tật.
1.1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đối với NKT
a. Thể chế chính sách
Chính sách đối với NKT là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội,
thể hiện trong việc nghiên cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách,
chế độ và tổ chức thực hiện. Nhằm nâng cao và cải thiện hơn nữa đời sống vật
chất và tinh thần cho NKT, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân
dân đối với NKT.
Nếu có sự phối kết hợp giữa các ngành, các cấp có liên quan về việc chỉ
Ngày 1-11-2019, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 39-CT/TƯ về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước và xã hội luôn quan tâm đến công tác
người khuyết tật, đã ban hành, triển khai nhiều chủ trương, chính sách chăm
lo, bảo đảm quyền và phát huy vai trò của người khuyết tật, góp phần thúc
đẩy tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Công tác người khuyết tật đạt được
21
nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính
quyền, đoàn thể các cấp đối với người khuyết tật được nâng cao hơn, người
khuyết tật ngày càng tự tin, thuận lợi hơn hòa nhập vào đời sống xã hội.
Các cơ quan nhà nước triển khai nhiều hoạt động trợ giúp người khuyết
tật, phát huy trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trong
việc chăm lo cuộc sống của người khuyết tật, tạo cơ hội bình đẳng nhằm đáp
ứng tốt hơn quyền lợi chính đáng, hợp pháp, động viên để người khuyết tật
phát huy năng lực, vươn lên hòa nhập, đóng góp cho xã hội.
Việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động trợ giúp người khuyết tật đã huy
động được sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và đông đảo các tầng lớp
nhân dân, trong đó có các tổ chức tôn giáo, nhân đạo, từ thiện. Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên có nhiều hình thức hỗ trợ, tạo điều kiện để
các tổ chức người khuyết tật đẩy mạnh hoạt động chăm sóc, trợ giúp người
khuyết tật.
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 trình bày tổng quan về người khuyết tật. Thông qua việc tìm
hiểu các khái niệm có liên quan trong phạm vi như khái niệm về người khuyết
tật, tác giả đã đưa ra được nhận thức chung nhất về khái niệm người khuyết
tật và chính sách đối với người khuyết tật như chính sách giáo dục, y tế, bảo
trợ xã hội, văn hóa, thể dục, thể thao cho người khuyết tật… Bên cạnh đó tác