Quản lý thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THAO

QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI – năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THAO

QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 834 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. BÙI QUANG TUẤN


2.3. Phân tích thực trạng quản lý Bảo hiểm thất nghiệp ở các doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố Tam Kỳ ................................................................................... 45
2.4. Phân tích thực trạng Bảo hiểm thất nghiệp của các doanh nghiệp khảo sát .......... 56
2.5. Đánh giá chung về quản lý thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp trên
địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam ...................................................... 58
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ĐỐI VỚI
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM ............................................. 63
3.1. Bối cảnh và định hướng hoàn thiện quản lý thực hiện chính sách BHTN .. 63
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp đối


với Người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam đến năm 2025 ................................................................................... 66
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN
ASXH
BHTN
BHXH
BHYT
CMTND
CNTT
CSDN
ĐH KTQD

: Hợp đồng lao động
: Hội đồng nhân dân
: International Labour Organization
: Lao động - Thương binh và Xã hội
: Người lao động
: Người sử dụng lao động
: Ngân sách nhà nước
: Người thất nghiệp
: Nhà xuất bản
: Quản lý nhà nước
: Trợ cấp thất nghiệp
: The Trans-Pacific Partnershi
: Trung tâm giới thiệu việc làm
: Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1.

Lực lượng lao động phân theo địa phương trên địa
bàn thành phố Tam Kỳ năm 2017

Trang

36


10 doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành

56

phố Tam Kỳ (năm 2017)
2.7.

Điều tra nhận thức của người lao động về bảo hiểm
thất nghiệp

57


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội mà các nước trên thế giới đều
gặp phải. Thất nghiệp một mặt thúc đẩy bộ phận lao động đang làm việc phải
làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn và từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh hơn,
hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, thất nghiệp là tình trạng không tốt. Đối với người
thất nghiệp là mất thu nhập, đời sống không đảm bảo và có thể dẫn đến tha hóa,
đối với xã hội là tình trạng không tạo ra toàn dụng lao động và từ đó không tạo
ra tăng trưởng kinh tế theo mong muốn.
Có thể nói, thất nghiệp là vấn đề mang tính hai mặt, trong đó mặt tiêu cực
là nổi trội và ảnh hưởng xấu tới tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và phát triển
con người. Do đó, chính phủ các nước đặc biệt phải quan tâm đến vấn đề thất
nghiệp, có trách nhiệm phải quản lý tốt tình trạng thất nghiệp, không để thất
nghiệp xảy ra quá lớn và ảnh hưởng xấu tới nguồn lực lao động cũng như tới đời
sống của người lao động. Tuy nhiên, việc quản lý thất nghiệp không đơn giản, vì
phụ thuộc vào lợi ích và cách hành xử của các chủ sử dụng lao động đối với việc

Tuy nhiên, BHTN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ còn nhiều bất cập liên
quan đến BHTN như: bảo hiểm chưa phủ khắp các đối tượng; chưa có sự kết hợp
chặt chẽ giữa cơ quan bảo hiểm, trung tâm giới thiệu việc làm và cơ quan lao động
để nắm chắc số lượng người thất nghiệp; chưa nắm chắc tình trạng thất nghiệp thật
sự của BHTN; chi trả bảo hiểm còn chậm trễ… Điều đó đã ảnh hưởng nhiều tới
cuộc sống của người bị thất nghiệp, cũng như tình hình an sinh xã hội (ASXH).
Thực trạng trên xuất phát từ nhiều lý do như: do thực hiện BHTN trong thời gian
chưa nhiều; nhận thức của Người sử dụng lao động (NSDLĐ) và Người lao động
(NLĐ) còn hạn chế; chính sách BHTN chưa thật sự hướng tới lợi ích của NLĐ;
thanh tra, kiểm tra BHTN chưa thật sự hiệu quả...
Chính vì thế, tác giả chọn đề tài “Quản lý thực hiện chính sách bảo hiểm
thất nghiệp đối với người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay liên quan đến đề tài về quản lý thực hiện chính sách BHTN đã có
nhiều công trình khoa học ở nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ như đã có một số đề
tài nghiên cứu như:
Cuốn sách: “Bảo hiểm xã hội – Những điều cần biết” do NXB Thống kê
phát hành năm 2001, Nguyễn Văn Kỵ có bài: “Luật BHXH và vấn đề BHTN”.
Nội dung tập trung vào khía cạnh: Khi xây dựng Luật BHXH ở Việt Nam có nên
hay không nên đề cập đến vấn đề BHTN?
Tại Hội thảo khoa học “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh
xã hội” do Bộ Tài Chính tổ chức năm 2003, Đặng Anh Duệ có bài báo “Để xây
dựng và thực hiện chế độ BHTN ở Việt Nam”. Bài báo chủ yếu tập trung vào sự
cần thiết phải có chế độ BHTN trong hệ thống các chế độ BHXH ở Việt Nam và
điều kiện về mặt tài chính nhằm xây dựng và thực hiện chế độ này.
Tạp chí Cộng sản số 124/2014 có bài viết: “Thực hiện chính sách bảo hiểm

Người sử dụng lao động thông qua hoạt động môi giới. Trung tâm GTVL là nơi
cung cấp các dịch vụ tư vấn cho NLĐ.
Công trình nghiên cứu:“Thực trạng, giải pháp phòng chống lạm dụng quỹ
BHTN trên địa bàn tỉnh Bình Dương” của tác giải Lê Minh Lý. Công trình này
chủ yếu phân tích thực trạng quỹ và giải pháp chống lạm dụng quỹ Bảo hiểm
thất nghiệp trên địa bàn Bình Dương.
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài nghiên cứu
khác... Tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu quản lý thực hiện chính sách BHTN
đối với người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam. Việc nghiên cứu này hết sức quan trọng trong việc quản lý
thực hiện chính sách BHTN tại thành phố Tam Kỳ, góp phần nâng cao hiệu quả
quản lý về thực hiện chính sách BHTN tại tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ thực trạng, đánh giá những thành công, hạn chế và
4


nguyên nhân của quản lý thực hiện chính sách BHTN đối với người lao động
trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, luận văn đề xuất giải
pháp hoàn thiện quản lý thực hiện chính sách BHTN trên địa bàn thành phố
trong giai đoạn tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý thực hiện chính sách BHTN
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý thực hiện chính sách BHTN đối
với người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ 5
năm qua.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý thực hiện chính sách BHTN đối với
người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ giai đoạn
đến năm 2025.

khác nhau như báo cáo tổng kết ngành, niên giám thống kê và trên mạng
Internet, bao gồm thông tin thứ cấp khác. Ngoài ra luận văn cũng tiến hành khảo
sát để có thông tin sơ cấp.
* Thông tin thứ cấp
Luận văn sử dụng những thông tin đã có sẵn, được cơ quan, đơn vị tổng
hợp từ trước và và được công bố. Thông tin thứ cấp bao gồm các thông tin về số
doanh nghiệp, số lao động tham gia BHTN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ trong
giai đoạn 2012 – 2017 và thông tin tổng hợp thông qua qua các sách, tạp chí,
niên giám thống kê, các báo cáo tổng kết của cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố,
Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh, Internets...
* Thông tin sơ cấp
Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập qua các cuộc điều tra, khảo sát,
phỏng vấn đối tượng nghiên cứu, lãnh đạo đơn vị liên quan, các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh và người lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đóng trên địa thành phố Tam Kỳ.

6


Bảng mẫu điều tra doanh nghiệp
Chia ra

Đơn vị
tính

Số
mẫu
điều
tra



2

1

1

Doanh nghiệp nước ngoài

DN

1

1

10

5

Đối tượng điều tra

Tổng số

5

Nguồn: Tác giả
- Điều tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Chọn một số loại hình
doanh nghiệp ở địa bàn khác nhau để tiến hành khảo sát lấy ý kiến về nhu cầu
tham gia BHTN của các doanh nghiệp.
- Điều tra người lao động: Mỗi doanh nghiệp chọn mẫu lấy ý kiến của 5

15

Doanh nghiệp tư nhân

10

5

5

Doanh nghiệp nước ngoài

5

5

50

25

Tổng số
Nguồn: Tác giả

7

25


Bảng mẫu điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin (lãnh đạo)


Thông tin thu được trong quá trình điều tra, phỏng vấn được xử lý bằng
phần mềm Excel.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa các vấn đề lý
luận và xây dựng khung phân tích của quản lý thực hiện chính sách BHTN, nhất
là về nội dung, phương thức, công cụ và biện pháp tăng cường quản lý thực hiện
hiện chính sách về BHTN.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu đề tài là góp phần nâng cao nhận thức,
thúc đẩy sự tham gia của NLĐ, tăng cường và hoàn thiện quản lý thực hiện
chính sách BHTN nhằm đảm bảo ASXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được kết cấu gồm 3 chương

8


Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp đối với người lao động trong các doanh nghiệp.
Chương 2. Thực trạng quản lý thực hiện chính sách BHTN đối với người
lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, giai đoạn 2013
– 2017.
Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thực hiện chính
sách BHTN đối với người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

9



- Thất nghiệp do bỏ việc, họ là người tự ý xin thôi việc vì những nguyên
nhân khác nhau như công việc không phù hợp, địa điểm làm việc xa, tiền công
thấp...
- Thất nghiệp do mất việc, là NLĐ không có việc làm vì chủ sử dụng lao
động cho thôi việc do nguyên nhân nào đó.
- Thất nghiệp do mới vào, họ là người lần đầu tiên tham gia vào lực lượng
lao động, nhưng chưa tìm được việc làm, đang cố gắng tìm kiếm việc làm.
- Thất nghiệp do trở lại, họ là NLĐ đã rời khỏi lực lượng lao động, nay
muốn trở lại làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
Căn cứ vào nguồn gốc thất nghiệp, có thể thấy những loại thất nghiệp sau:
- Thất nghiệp dai dẵng, là mức thất nghiệp tối thiểu khó có thể giảm được
trong một nền kinh tế sôi động. Dạng thất nghiệp này là những người tạm thời
không có việc làm trong thời gian chuyển công việc trong nền kinh tế mà lực
lượng lao động và công việc tìm người luôn thay đổi.
- Thất nghiệp do cơ cấu, là thất nghiệp không có sự đồng bộ giữa tay nghề,
trình độ đào tạo với cơ hội có việc làm khi nhu cầu và sản xuất thay đổi. Thất
nghiệp xảy ra khi có thay đổi cơ cấu kinh tế làm mất cân đối giữa cung - cầu cục
bộ trên thị trường lao động.
- Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi cầu chung về lao động giảm xuống.
Lý do chính của hiện tượng này là nền kinh tế suy thoái, tổng cầu giảm, kéo theo
cầu lao động cũng giảm.
- Thất nghiệp do yếu tố thị trường xảy ra khi tiền công bị ấn định cao hơn
mức tiền lương cân bằng. Để đảm bảo quyền lợi cho bộ phận lao động yếu thế
trên thị trường, mức tiền lương này do Chính phủ ấn định hoặc do sức ép của
nghiệp đoàn, công đoàn.
- Thất nghiệp do công nghệ: Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công
nghệ vào sản xuất, máy móc thiết bị thay thế cho con người, chỉ cần một số
người vận hành sẽ có một bộ phận NLĐ trong các dây chuyền sản xuất bị dư ra,

đắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp để
12


đưa người thất nghiệp trở lại làm việc.
Như vậy, có thể nhận thấy:
+ Chủ thể quản lý của BHTN là Nhà nước
+ Đối tượng BHTN là những NLĐ tham gia đóng BHTN và chủ sử dụng
lao động. NLĐ nào tham gia đóng BHTN mà bị thất nghiệp thì mới được hưởng
lợi từ BHTN. Chủ sử dụng lao động được coi là đối tượng của chính sách BHTN
khi họ phải tuân thủ những quy định của Nhà nước về nghĩa vụ đóng góp tài
chính hỗ trợ NLĐ khi họ bị thất nghiệp.
BHTN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính qua việc đóng góp
của NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước để hỗ trợ về mặt thu nhập cho
NLĐ trong thời kỳ họ mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới
trong thị trường lao động.
Có thể nói rằng, BHTN vừa là công cụ góp phần giải quyết thất nghiệp vừa
là một chính sách xã hội rất quan trọng. Với cách tiếp cận này, BHTN có hai
chức năng chính, đó là chức năng bảo vệ và chức năng khuyến khích. Với chức
năng bảo vệ, BHTN tổ chức bù đắp thu nhập cho người thất nghiệp, tạo điều
kiện cho họ có cơ hội quay trở lại thị trường lao động được thuận lợi. Với chức
năng khuyến khích, BHTN khích thích người thất nghiệp tích cực tìm việc làm
và sẵn sàng đi làm việc. Qua đó cho thấy BHTN không chỉ có ý nghĩa đối với
NLĐ mà còn có ý nghĩa đối với cả NSDLĐ và nhà nước. Đối với NSDLĐ, do có
BHTN, nên khi thất nghiệp xảy ra đối với NLĐ, NSDLĐ không tăng thêm chi
phí để trả trợ cấp mất việc làm cho họ. Hơn nữa, khi NLĐ biết rõ nếu thất
nghiệp, bản thân sẽ được trợ cấp thất nghiệp và họ sẽ yên tâm làm việc cho
doanh nghiệp. Điều này khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động có hiệu
quả hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Đối với nhà nước, nhờ có
BHTN nên gánh nặng ngân sách sẽ giảm khi thất nghiệp xảy ra (thường vào thời

Thất nghiệp có tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế của quốc gia, ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống của NLĐ. Hoạt động quản lý BHTN giúp cho hệ
thống BHTN hoạt động hiệu quả nhất, giảm rủi ro về thu chi nợ BHTN, NLĐ
14


được hưởng tối ưu nhất các trợ cấp. Nhà nước thông qua quản lý BHTN để:
Một là, ổn định chính trị xã hôi: Thất nghiệp là một vấn đề nan giải với bất
kỳ một quốc gia nào, thất nghiệp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, NLĐ lâm vào
hoàn cảnh túng thiếu và nghèo đói. Để giải quyết vấn đề thất nghiệp và ASXH thì
cần phải có các chính sách, trong đó có chính sách BHTN, vì không chỉ đảm bảo
cho NLĐ mất việc làm có một khoản thu nhập để giúp ổn định cuộc sống trong
một khoảng thời gian nhất định mà còn giúp họ sớm quay trở lại công việc, trong
quá trình làm việc họ được chăm sóc y tế miễn phí.
Hai là, mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế : Thất nghiệp gia tăng làm
cho tình hình kinh tế, chính trị bất ổn, lãng phí nguồn nhân lực của xã hội, làm
nền kinh tế trì trệ, BHTN giúp NLĐ sớm trở lại với việc làm, giúp họ có thu
nhập, ổn định cuộc sống và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.2. Nguyên tắc quản lý bảo hiểm thất nghiệp
Một là, quản lý thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương,
BHXH cấp dưới có trách nhiệm thực hiện quyết toán thu, chi quỹ BHTN theo
quy định và gửi Hội đồng quản trị cấp trên kiểm tra, xét duyệt; gửi Cơ quan lao
động thẩm định, tổng hợp và trình thông qua, báo cáo Bộ Tài chính, Bộ
LĐTB&XH. Khi báo cáo quyết toán thu, chi quỹ BHTN phải thể hiện đầy đủ
từng khoản thu, chi theo quy định.
Hai là, đảm bảo tính kịp thời, đúng đắn và đầy đủ cho đối tượng hưởng.
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong quản lý quỹ BHTN nhằm đảm
bảo thực hiện mục tiêu của chính sách BHXH nói chung và chế độ BHTN nói
riêng. Đảm bảo tính kịp thời, đúng đắn và đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho NLĐ khắc
phục những sự cố gặp phải khi mất việc làm, đồng thời còn tránh được tình trạng

Người lao động tham gia BHTN được hưởng trợ cấp BHTN đúng định mức
và đúng thời hạn, người tham gia BHTN được tạo cơ hội tìm kiếm việc làm sớm
nhất, phù hợp với năng lực, nguyện vọng.
1.3.3. Tác động đối với xã hội
Quản lý BHTN tốt sẽ dẫn đến chất lượng cuộc sống của NLĐ được đảm
16


bảo, yên tâm về mặt tinh thần, ASXH được đảm bảo, trật tự xã hội được ổn định.
Trước tiên, xét đến đối tượng được hưởng lợi ích trực tiếp từ chế độ BHTN đó là
những NLĐ bị mất việc làm. Chương trình BHTN không chỉ trợ cấp cho NLĐ
một khoản thu nhập nhằm đáp ứng các phần chi phí trang trải cho cuộc sống
trong khoảng thời gian tìm việc khác mà NLĐ còn được đào tạo nghề, hỗ trợ tìm
việc làm mới phù hợp với tay nghề của mình.
Tiếp đến là đối tượng được hưởng lợi ích gián tiếp từ chế độ BHTN. Một
là, những người thân trong gia đình NLĐ được hưởng chế độ BHTN. Lợi ích mà
họ nhận được là sự yên tâm cho rằng người thân của mình dù bị thất nghiệp
nhưng vẫn nhận được một khoản thu nhập để trang trải cuộc sống và được đạo
tạo nghề để có cơ hội tìm được những công việc phù hợp, đồng thời họ có thể
giảm bớt gánh nặng cuộc sống. Hai là xã hội, BHTN tạo cho họ thu nhập, hỗ trợ
NLĐ tìm công ăn việc làm, từ đó làm giảm bớt tình trạng thất nghiệp trong nền
kinh tế, giảm thất nghiệp là một trong những mục tiêu quan trọng của nền kinh
tế, giúp tăng trưởng sản lượng, phát triển kinh tế, thu nhập tăng, đời sống người
dân càng được cải thiển. Bên cạnh đó, có thu nhập sẽ giảm các tệ nạn xã hội,
đảm bảo an ninh, trật tự quốc gia.
1.3.4. Kết quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp
Kết quả thực hiện BHTN thể hiện ở:
+ Số người được hưởng BHTN, tỷ lệ người được hưởng BHTN bằng số hồ
sơ đăng ký BHTN.
+ Số người được hưởng BHYT.

nhận hồ sơ, giải quyết chế độ BHTN; tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ thất
nghiệp để họ kịp thời tìm được việc làm mới; thực hiện việc trả TCTN theo đúng
chế độ, nhanh chóng và thuận tiện. Đồng thời, các đơn vị thuộc BHXH phải lập
kế hoạch tài chính cho chính sách BHTN trên cơ sở dự báo biến động về số lao
động thất nghiệp cũng như dự toán nguồn kinh phí để hỗ trợ cho công tác
GTVL, hỗ trợ công tác đào tạo nghề hàng năm. Ngoài ra, Trung tâm Giới thiệu
việc làm thuộc Sở Lao động Thương binh & Xã hội: tư vấn và gửi đi đào tạo
nghề cho NLĐ thất nghiệp; hỗ trợ học nghề cho đối tượng hưởng chế độ BHTN
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status