Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ - Pdf 28


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ MINH VƢỢNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.

Học viên
Nguyễn Thị Minh Vượng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ii
LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS. Trần Văn Dung đã tận tình
chỉ bảo, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Để có thể hoàn thành chương trình sau đại học tại trường Đại học Kinh tế

2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Đóng góp của luận văn 2
5. Kết cấu của đề tài 3
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 4
1.1. Những vấn đề cơ bản về chính sách bảo hiểm thất nghiệp 4
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp 4
1.1.2. Bảo hiểm thất nghiệp 11
1.2. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.2. Vai trò, nguyên tắc của chính sách bảo hiểm thất nghiệp 16
1.2.3. Nội dung chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt nam hiện nay 19
1.3. Hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp 24
1.3.1 Quan điểm về hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp 24
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp 24
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm
thất nghiệp 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iv
1.4. Kinh nghiệm về ChínhSách bảo hiểm thất nghiệp của một số nước
trên thế giới và một số bài học cho Việt Nam 30
1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 30
1.4.2. Một số bài học cho Việt Nam 33
1.4.3. Một số bài học kinh nghiệm cho tỉnh Phú Thọ 35
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 36

4.2.3. Tăng cường nhận thức về chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người
lao động và người sử dụng lao động 72
4.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 75
4.2.5. Tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, công nghệ thông tin 78
4.2.6. Tăng cường trình độ nguồn nhân lực 78
4.2.7. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan 81
4.3. Một số kiến nghị 82
4.3.1. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước 82
4.3.2. Kiến nghị với Đảng ủy, chính quyền địa phương 84
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt
Tên đầy đủ
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
BTC
Bộ tài chính
BYT
Bộ Y Tế
NLĐ

Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ chi trả bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ giai đoạn năm 2011 - 2013 58
Biểu đồ 3.6. Số tiền chi trả bảo hiểm thất nghiệp bình quân đầu người
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn năm 2011 - 2013 59

Sơ đồ:
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ bộ máy cơ quan BHXH tỉnh Phú Thọ 46 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ix Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có
việc làm mà không tìm được việc làm. Đây là hiện tượng kinh tế phổ biến ở

Tỉnh nói riêng và toàn quốc nói chung, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng
cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu chung: hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ
bản và thực tiễn về bảo hiểm thất nghiệp, chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở
Việt nam và hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ nhằm đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
+ Hệ thống hóa và phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về thất nghiệp
và chính sách BHTN.
+ Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
+ Phân tích thực trạng hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp ở tỉnh Phú Thọ.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hiệu quả
thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn Tỉnh tới năm 2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách BHTN và hiệu quả thực
hiện chính sách BHTN.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Về không gian: địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Về thời gian: đề tài nghiên cứu thực trạng từ năm 2011 - 2013 và định
hướng giải pháp tới năm 2020.
4. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa lý luận về thất nghiệp, BHTN và chính sách BHTN,
hiệu quả thực hiện chính sách BHTN.
- Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, xây dựng chính sách
BHTN và nghiên cứu về BHTN.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
1.1. Những vấn đề cơ bản về chính sách bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm, nguyên nhân của thất nghiệp
a) Khái niệm thất nghiệp
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động luôn được coi là
nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất và lớn nhất của con người. P. Ăng Ghen đã
khẳng định “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con
người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao
động đã tạo ra chính bản thân con người”. Thật vậy, ai sinh ra cũng phải sống,
muốn sống phải có ăn, mặc,… muốn có ăn mặc phải lao động và được lao
động. Nhu cầu đó tưởng chừng đơn giản, song trong điều kiện kinh tế thị
trường không phải ai cũng được đáp ứng và được đáp ứng một cách đầy đủ.
Muốn được lao động, người lao động phải có việc làm để từ đó tạo ra của cải
vật chất và dịch vụ - tạo ra thu nhập nuôi sống mình và gia đình mình. Nhưng
để có được việc làm, nhất là những việc làm phù hợp với năng lực, trình độ và
ngành nghề đào tạo của mình thì không phải người lao động nào cũng dễ tìm
kiếm. Bởi vì, nguồn lao động xã hội thường tăng nhanh hơn cơ hội việc làm,
do đó luôn có một bộ phận người lao động thiếu hoặc không có việc làm.
Những người không có việc làm thực chất là họ đã bị thất nghiệp.

động, có khả năng lao động nhưng không lao động, không có nhu cầu việc
làm thì không được coi là người thất nghiệp. Chẳng hạn, những người đang
có việc làm nhưng tạm thời không làm việc vì một lý do nào đó như: nghỉ
phép, nghỉ ốm, nghỉ tạm thời vì tai nạn lao động, hoặc học sinh sinh viên còn
đang theo học tại các trường, những người nội trợ,… không phải là những
người thất nghiệp.
Luật BHTN (năm 2006) của Việt Nam cũng quy định người thất nghiệplà:
"Người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp
đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm".

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

6
Từ sự phân tích ở trên, ta có thể hiểu: thất nghiệp là tình trạng tồn tại
khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không tìm được
việc làm ở mức lương thịnh hành.
b) Nguyên nhân của thất nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều nguyên nhân gây ra thất
nghiệp và kèm theo là những tác động xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội và
sự ổn định của đất nước. Dưới đây là một số nguyên nhân chính:
- Chu kỳ kinh doanh: có thể mở rộng hay thu hẹp do sự điều tiết của
thị trường. Hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng mang tính chu kỳ.
Tính chất này ảnh hưởng tới việc làm phát sinh tình trạng thất nghiệp bởi sự
mở rộng hay thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ làm cung cầu trên thị
trường lao động thay đổi. Nếu các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, mở rộng
sản xuất kinh doanh thì cầu lao động tăng, các doanh nghiệp thu hút thêm lao
động. Khi các doanh nghiệp bước vào giai đoạn làm ăn kém hiệu quả, phải
thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, cầu lao động giảm xuống,theo đó xuất
hiện tình trạng một số lao động bị dư thừa. Cung cầu trên thị trường lao động
thay đổi không có sự phù hợp giữa cung và cầu lao động, làm phát sinh hiện

lại các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải giải thể hoặc
phá sản, số doanh nghiệp còn lại phải nhanh chóng đầu tư theo chiều sâu, đổi
mới thiết bị, công nghệ và sử dụng ít lao động dẫn đến dư thừa lao động.
- Do các yếu tố ngoài thị trường
Sự thay đổi thể chế chính trị hay việc điều chỉnh chính sách vĩ mô của
các nước, các giải pháp điều hành kinh tế của Chính phủ cũng có thể làm cho
nhu cầu sử dụng lao động có sự thay đổi, theo đó, làm cho tình trạng thất nghiệp
thay đổi. Việc quy định mức tiền lương tối thiểu của Nhà nước hoặc yêu cầu
tăng lương của công đoàn, nghiệp đoàn cao hơn mức tiền lương cân bằng hiện
hành của thị trường, dẫn đến làm gia tăng thất nghiệp không tự nguyện.
- Do người lao động không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm
làm việc, họ phải đi tìm công việc mới, địa điểm mới.
Những nguyên nhân trên đây làm cho tình hình thất nghiệp luôn tồn tại.
Thất nghiệp ở các nước chỉ khác nhau về mức độ, không có quốc gia nào tỷ lệ
thất nghiệp bằng 0.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

8
1.1.1.2. Phân loại thất nghiệp
Có nhiều hình thái thất nghiệp khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu
và việc lựa chọn tiêu thức phân loại.
a) Căn cứ vào tính chất thất nghiệp, người ta phân ra các loại sau:
- Thất nghiệp tự nhiên loại này xảy ra do quy luật cung cầu của thị
trường sức lao động tác động. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có quan hệ chặt chẽ
với tỷ lệ lạm phát. Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên ở mỗi
nước mỗi khác và có xu hướng tăng lên.
- Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi mất cân đối giữa cung và cầu về các loại
lao động. Cầu của loại lao động này tăng lên, loại lao động khác lại giảm
xuống, cung điều chỉnh không kịp cầu. Trong quá trình vận động của nền kinh

với trình độ chuyên môn, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc.
- Thất nghiệp không tự nguyện là hiện tượng người lao động có khả năng
lao động, trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương
được trả, nhưng người sử dụng lao động không chấp nhận hoặc không có
người sử dụng nên trở thành thất nghiệp.
c)Căn cứ vào mức độ thất nghiệp,có thể chia ra:
- Thất nghiệp toàn phần có nghĩa là người lao động hoàn toàn không có
việc làm hoặc thời gian làm việc thực tế mỗi tuần dưới 8 giờ và họ vẫn có nhu
cầu làm thêm.
-Thất nghiệp bán phần có nghĩa là người lao động vẫn có việc làm,
nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bình chỉ
đạt 3 đến 4 giờ trong một ngày làm việc mà họ vẫn có nhu cầu làm thêm.
Mỗi loại thất nghiệp có những tác động đến nền kinh tế một cách khác
nhau và Nhà nước quan tâm giải quyết theo các phương thức khác nhau.
1.1.1.3. Hậu quả của thất nghiệp
Thất nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và gia đình
họ, tác động mạnh mẽ đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của
mỗi quốc gia.
a) Đối với bản thân người lao động và gia đình họ:
Thất nghiệp có thể gây ra những hậu quả rất trầm trọng. Bởi vì khi bị
mất việc làm thường đồng nghĩa với việc mất đi nguồn thu nhập chủ yếu và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10
đương nhiên khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng. Thất
nghiệp gắn liền với sự mất mát thu nhập và dễ dẫn tới bi kịch. Hậu quả là họ
từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới mức sống tiêu chuẩn chung của xã
hội, sau đó nếu không có sự trợ giúp nào khác thì phải vay nợ và nếu kéo dài
sẽ dẫn đến nợ nần chồng chất. Sự tác động vào thu nhập cho gia đình phụ

Thất nghiệp gia tăng còn làm cho tình hình chính trị và xã hội bất ổn,
hiện tượng bãi công, biểu tình có thể xảy ra. Người lao động giảm niềm tin và
chế độ, vào khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền. Tỷ lệ thất nghiệp là một
trong những chỉ tiêu đánh giá uy tín của nhà cầm quyền.
1.1.2. Bảo hiểm thất nghiệp
1.1.2.1. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thất nghiệp
BHTN xuất hiện lần đầu tiên ở Châu Âu, trong một nghề khá phổ biến
và phát triển: nghề sản xuất các mặt hàng thủy tinh ở Thụy Sĩ. Nghề này rất
cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20 đến
30 công nhân. Để giữ được những công nhân có tay nghề cao gắn bó với
mình, năm 1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sĩ đã lập ra quỹ doanh nghiệp
để trợ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sản xuất. Sau
đó, nhiều nghiệp đoàn ở châu Âu cũng đã lập ra quỹ công đoàn để trợ cấp cho
đoàn viên trong những trường hợp phải nghỉ việc, mất việc. Tiền trợ cấp được
tính vào giá thành sản phẩm và người sử dụng hàng hóa phải gánh chịu. Khi
thấy rõ vai trò và tác dụng của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với công nhân,
nhiều chính quyền địa phương đã tổ chức liên kết các doanh nghiệp, các
nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, thực chất đó là quỹ BHTN.
Quỹ BHTN tự nguyện đầu tiên ra đời tại Bécnow (Thụy Sĩ) vào năm 1893.
Tham gia đóng góp cho quỹ lúc này không chỉ có giới chủ mà có cả những
người lao động có công việc làm không ổn định. Để tăng mức trợ cấp thất
nghiệp đòi hỏi quy mô của quỹ phải lớn, cho nên đã có sự tham gia đóng góp
của cả chính quyền địa phương và trung ương.
Hệ thống pháp luật đầu tiên về BHTN được hình thành ở Na Uy và Đan
Mạch trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20. Hệ thống pháp luật này đã hình

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

12
thành các quỹ BHTN dựa trên nguyên tắc tham gia tự nguyện và có sự hỗ trợ


13
- BHTN tự nguyện có sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước, sự tham gia là
tự nguyện (chỉ trừ trường hợp các thành viên công đoàn được yêu cầu đóng
góp cho các quỹ của công đoàn);
- Trợ giúp thất nghiệp các quỹ công được hình thành dành cho những
người bị mất việc khi đáp ứng được các điều kiện về thẩm tra thu nhập hoặc
tài sản.
1.1.2.2. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất thu
nhập do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động. [16]
BHTN là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu
nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào
thị trường lao động.
Như vậy, mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người
thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng
mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để
có những cơ hội mới về việc làm. Vì thế, một số nhà kinh tế học cho rằng
BHTN là hạt nhân của thị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế xã
hội của quốc gia. Chính sách này trước hết vì lợi ích của người lao động và
người sử dụng lao động sau nữa là vì lợi ích xã hội.
BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người, song nó có một số
đặc điểm khác như: không có hợp đồng trước, người tham gia và hưởng thụ
quyền lợi là một, không có việc chuyển rủi ro của những người bị thất nghiệp
sang những người khác có khả năng thất nghiệp. BHTN không có dự báo
chính xác về số lượng và phạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lơn, đặc
biệt là trong những thời kỳ nền kinh tế bị khủng hoảng.
Ở đây có một số điểm cần nhấn mạnh.
- Mức hỗ trợ thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của người lao động
trước khi bị thất nghiệp.

chủ thể chính sách là Nhà nước.

Trích đoạn Đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệptrên Tiếp tục, rà soát những bất cập trong cơ chế chính sách bảo hiểm Tăng cường nhận thức về chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho ngườ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra Tăng cường trình độ nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status