VIỆN
HÀN
LÂM
VIỆN HÀN LÂM
KHOA
HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM
KHOA
HỘI HỌC
VIỆTXÃ
NAM
KHOA HỌC
VIỆNXÃ
KHOA
HỘI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH HOÀNG
TRẦN XUÂN TRỌNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CẤP ỦY ĐẢNG
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ TẠI BẢO HIỂM
XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
3.1. Đổi mới nội dung lãnh đạo của cấp ủy Đảng về công tác tổ chức
cán bộ ................................................................................................ 43
3.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng về công tác tổ
chức cán bộ ....................................................................................... 47
KẾT LUẬN .......................................................................................... 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................. 64
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. BHXH
: Bảo hiểm xã hội
2. BHYT
: Bảo hiểm y tế
3. HĐND
: Hội đồng nhân dân
4. HĐLĐ
: Hợp đồng lao động
5. HTCT
: Hệ thống chính trị
sự thành bại của cách mạng. Như vậy, công tác cán bộ có vị trí hết sức quan
trọng trong sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo.
1
Công cuộc đổi mới đất nước ngày càng phát triển sâu rộng, đạt được
những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng, đưa Việt Nam vững bước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Song thời cơ, nguy
cơ, thách thức luôn đan xen nhau trong một thế giới hội nhập phức tạp. Hơn
lúc nào hết, đội ngũ cán bộ chủ chốt trong các cơ quan nhà nước có vai trò
quan trọng cho sự ổn định, phát triển của đất nước và cả hệ thống chính trị.
Mặc dù Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách và nỗ lực xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhưng còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải
nghiên cứu để có những giải pháp thực hiện có hiệu quả.
Thấm nhuần tư tưởng đó, trong những năm qua, các cấp ủy Đảng
thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng và
phát triển đội ngũ cán bộ. Công tác tổ chức cán bộ của Bảo hiểm xã hội Bắc
Ninh bên cạnh những ưu điểm vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Những hạn
chế này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và
tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cơ quan. Thực tiễn
trên đòi hỏi các cấp ủy Đảng cần đổi mới nội dung và phương thức lãnh
đạo, chỉ đạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ để họ thực
sự phát huy vai trò, năng lực, tiên phong trong việc vận dụng chủ trương,
đường lối của Đảng vào thực tiễn công tác, góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nâng cao sự lãnh đạo của cấp
ủy Đảng đối với công tác tổ chức cán bộ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc
Ninh” làm nội dung nghiên cứu của luận văn
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác tổ chức cán bộ là một nội dung quan trọng trong công tác
xây dựng Đảng, vì thế nên trong những năm vừa qua đã có không ít các
về công tác tổ chức cán bộ; thực trạng lãnh đạo của các cấp ủy đảng Bảo
hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh về công tác cán bộ (những kết quả đạt được,
3
những hạn chế, khó khăn); luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
lãnh đạo của các cấp ủy đảng Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh về công tác tổ
chức cán bộ.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Làm rõ nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng Bảo
hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh về công tác tổ chức cán bộ.
- Phân tích thực trạng lãnh đạo của các cấp ủy đảng Bảo hiểm xã hội
tỉnh Bắc Ninh về công tác tổ chức cán bộ (những kết quả đạt được, những
hạn chế, khó khăn).
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của các cấp
ủy đảng Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh về công tác tổ chức cán bộ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo của các cấp ủy
Đảng Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh đối với công tác tổ chức cán bộ.
Phạm vi nghiên cứu chính của luận văn là Bảo hiểm xã hội ở địa bàn
tỉnh Bắc Ninh trong thời gian từ năm 2013 đến 6 tháng đầu năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp lịch sử, logic, phân tích,
tổng hợp. Ngoài ra còn có một số phương pháp khác được vận dụng như:
thống kê, đối chiếu, so sánh... Những phương pháp này sẽ được vận dụng
phù hợp trong từng vấn đề nghiên cứu tại luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Cung cấp thêm những tư liệu về nội dung và phương thức lãnh đạo
của các ấp ủy Đảng đối với công tác cán bộ nói trong Bảo hiểm xã hội tỉnh
Bắc Ninh.
việc trong các tổ chức của hệ thống chính trị, người làm việc các doanh
nghiệp nhà nước, người làm việc các đơn vị sự nghiệp công lập. Như
vậy, cán bộ Việt Nam có các đặc điểm như sau.
Thứ nhất, cán bộ là người được tuyển chọn thông qua chế độ bầu
cử, phê chuẩn, bổ nhiệm cán bộ. Đó là những người được bầu cử, phê
chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ đối với các cơ
quan, tổ chức, đơn vị ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Riêng với
cán bộ cấp xã thì chỉ được bầu cử không có chế độ phê chuẩn hay bổ
nhiệm. Bởi bầu cử, phê chuẩn hay bổ nhiệm cán bộ chịu sự tác động của
quy định, điều lệ đối với từng cơ quan, đơn vị, tổ chức đó.
Theo đó, đảng viên có quyền ứng cử, đề cử, bầu các chức danh,
chức vụ trong cơ quan lãnh đạo của Đảng như Tổng Bí thư. Theo Điều
24 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 qui định: “Việc bầu cử, phê
chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ theo nhiệm kỳ trong cơ quan
nhà nước từ trung ương đến cấp huyện được thực hiện theo quy định của
Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức
6
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân,
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật kiểm toán nhà nước, Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân”. Ví dụ:
“Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội do
UBTV Quốc hội giới thiệu. Theo đề nghị của Chủ tịch nước, Quốc hội
bầu Phó Chủ tịch nước trong số các đại biểu Quốc hội; phê chuẩn danh
sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh” (Điều 81 Luật tổ chức
Quốc hội năm 2001).
Thứ hai, cán bộ là người giữ các chức vụ, chức danh và hoạt động
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và tổ chức chính
trị - xã hội.
“Biết cán bộ” được hiểu là việc đánh giá đúng đắn phẩm chất và
năng lực của cán bộ. Việc “biết cán bộ” có vai trò rất quan trọng. Đánh
giá đúng cán bộ nhằm sử dụng cán bộ có hiệu quả cũng như là căn cứ
cho công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ. Việc đánh giá cán bộ không chỉ
được nhìn dưới góc độ là chỉ tập trung và phát hiện cái hay, cái tốt của
họ để khuyến khích, phát huy, mà còn phải bao hàm của việc thấy được
những thấy cái không hay, các còn tồn tại của họ để tìm cách giúp đỡ,
khắc phục.
Để làm tố việc này, Hồ Chí Minh đề cao các quan điểm và lý luận
biện chứng. Trong số cán bộ, có người khi trước theo cách mạng mà nay
phản cách mạng. Có người khi trước không cách mạng mà nay lại tham
gia cách mạng. Vì thế, khi xem xét, đánh giá cán bộ, không nên nhìn
phiến diện, mà phải nhìn toàn diện. Chủ tích Hồ Chí Minh cũng chỉ ra
rằng: Việc đánh giá cán bộ không thể chỉ căn cứ vào những biểu hiện
bên ngoài của họ, mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của họ; không thể chỉ
dựa vào một việc làm của họ, mà phải tìm hiểu tất cả các công việc mà
8
họ thực hiện; không thể chỉ xem xét cán bộ trong một thời điểm, mà phải
thấy rõ lịch sử của họ. Có cái nhìn toàn diện như vậy, ta mới có thể đánh
giá cán bộ một cách đúng đắn, khách quan [50, tr. 278].
Trên thực tế có không ít bệnh trong đánh giá cán bộ. Chẳng hạn đó
là bệnh ưa người ta nịnh mình, bệnh đem một cái khuân khổ chật hẹp,
nhất định mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau, v.v.. Đây đều là nhưng
biểu hiện của sự không khách quan, toàn diện trong những người làm
công tác cán bộ. Mình càng trong sang, “càng ít khuyết điểm thì cách
xem xét cán bộ càng đúng” [50, tr. 278]. Biết mình là khó, song không
biết mình thì không thể biết người. Đây còn được gọi là quan điểm “Tri
kỉ để tri nhân” trong triết học chính trị kết hợp với căn hóa phương Đông
là cách tạo động lực hành động cho chính họ.
“Cất nhắc đúng cán bộ” là bố trí cán bộ là công việc quan trọng
hơn. Theo Hồ Chí Minh, khi cất nhắc cán bộ, phải vì công việc, vì cổ
động cho đồng chí khác thêm hăng hái; cất nhắc cán bộ phải xuất phát từ
hiệu quả công tác thực tế của cán bộ, và phải có tác dụng khuyến khích
các cán bộ khác vươn lên; cất nhắc cán bộ phải cho đúng; không nên cất
nhắc cán bộ như “giã gạo”; trước khi cất nhắc thì phải xem xét kỹ; khi
đã cất nhắc thì phải giúp đỡ; khi cán bộ mắc sai lầm thì hạ cấp, chờ lúc
họ làm khá, lại cất nhắc lên [50, tr. 282]. Cũng theo Hồ Chí Minh, đây là
hoạt động có tác động trực tiếp đến “lòng tự tin, tự trọng” của cán bộ.
Vì thế, người lãnh đạo phải biết “tôn trọng”, “vun trồng” lòng tự
tin, tự trọng của cán bộ. Trong công tác cất nhắc cán bộ, thái độ đó thể
hiện ở việc đánh giá đúng cán bộ, giao công việc phù hợp với phẩm chất
và năng lực cán bộ, thường xuyên quan tâm, động viên, giúp đỡ và kịp
thời nhắc nhở, uốn nắn sai lầm và khuyết điểm của cán bộ. Không nên
đợi đến khi các sai lầm, khuyết điểm của cán bộ trở nên nặng nề thì mớ
10
mang ra xử lý một lần. Như thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập” thì mất
đi sự tự tin, từ chỗ hăng hái cũng hóa thành nản chí, từ nản chí mà trở
nên vô dụng.
“Yêu thương cán bộ” là tính nhân văn trong công tác cán bộ. Sử
dụng cán bộ không phải là phó mặc, vỗ về. Theo Hồ Chí Minh: thương
yêu cán bộ “là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm”, “giúp họ giải quyết
những vấn đề khó khăn sinh hoạt, ngày thường thì điều kiện dễ chịu, khi
đau ốm được chăm sóc, gia đình họ khỏi khốn quẫn” [50, tr. 283]. Việc
thương yêu cán bộ phải luôn gắn liền với công tác của họ để khi có
khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay cũng như động viên, khuyến
khích kịp thời những lúc họ phát huy ưu điểm.
với người làm không tốt.
Tiêu chuẩn cán bộ là một cơ sở khoa học để đánh giá cán bộ. Tiêu
chuẩn cán bộ luôn thay đổi linh hoạt phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ
chính trị của cách mạng trong mỗi giai đoạn phát triển. Trong công cuộc
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì các tiêu chuẩn
chung cho cán bộ bao gồm: hết lòng phụng sự tổ quốc, tận tuỵ phục vụ
nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn
đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật
của Nhà nước; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kiên quyết không
tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng; ý thức tổ chức kỷ luật,
trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân; có trình độ về
lý luận chính trị, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có trình
độ văn hoá, chuyên môn, đủ sức khoẻ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được
giao được học tập có hệ thống ở các trường của Đảng; đã trải qua hoạt
động thực tiễn có hiệu quả.
12
Ngoài các tiêu chuẩn chung của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
đoàn thể nhân dân, cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang cần đáp ứng thêm
các tiêu chuẩn sau: tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân
dân, sẵn sàng hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
đất nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; có tinh thần
cảnh giác cách mạng cao, có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, giữ gìn bí
mật quân sự, bí mật quốc gia; nắm vững và có khả năng vận dụng sáng
tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối của Đảng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh
nhân dân; nắm được những vấn đề cơ bản về quản lý kinh tế, xã hội.
Ngoài các tiêu chuẩn chung của cán bộ, cán bộ khoa học, chuyên
đơn vị, không hạn chế một số ít người được định sẵn một cách chủ quan.
Trong quy hoạch, mỗi chức danh lãnh đạo cần có ít nhất từ hai đến ba
cán bộ dự bị. Mỗi cán bộ có thể dự kiến đảm nhiệm từ hai đến ba chức
danh. Quy hoạch “động” là quy hoạch được rà soát thường xuyên, được
điều chỉnh theo sát với yêu cầu thực tế của sự phát triển cán bộ, kịp thời
bổ sung những nhân tố mới vào quy hoạch. Đảng cần tạo ra “dòng chảy”
trong công tác quy hoạch cán bộ; hằng năm, phải rà soát lại đội ngũ cán
bộ trong quy hoạch để có sự điều chỉnh, bổ sung. Khi quy hoạch cán bộ,
Đảng phải tiến hành đồng bộ từ trên xuống dưới; hướng dẫn cấp dưới
quy hoạch cán bộ; lấy quy hoạch cán bộ cấp dưới làm cơ sở cho quy
hoạch cán bộ cấp trên; phải dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn; vừa
tạo nguồn cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, vừa tạo
động lực thúc đẩy, phát huy nhân tố chủ quan, phấn đấu vươn lên của
cán bộ; bảo đảm sự đoàn kết trong phát triển của toàn đội ngũ cán bộ; đề
phòng tư tưởng cơ hội, chạy theo quy hoạch; không cứng nhắc, máy móc
14
trong xây dựng và thực hiện quy hoạch; phải thực hiện công khai công
tác quy hoạch cán bộ theo đúng thẩm quyền quyết định quy hoạch.
Thứ tư, Đảng phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là: trang bị hệ thống thế giới
quan, nhân sinh quan, phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh; hệ thống tri thức chuyên môn, kiến thức lãnh đạo,
quản lý và kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý đương chức và quy hoạch các cấp có phẩm chất đạo
đức, thái độ, hành vi ứng xử và kỷ luật nghề nghiệp, tận tụy với công vụ
và sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa; giúp cho cán bộ, đặc biệt là các cán bộ lãnh đạo, quản
Để quản lý, sử dụng cán bộ một cách đúng đắn, Đảng cầ phải áp
dụng các nguyên tắc như sau.
Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, tiêu chuẩn, quy chế,
quy định về công tác cán bộ và thông qua các cấp uỷ, tổ chức Đảng,
đảng viên trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận, đoàn thể, doanh nghiệp,
đơn vị sự nghiệp nhà nước để lãnh đạo các cấp, các ngành tổ chức thực
hiện quyết định của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ; Đảng chăm lo
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị trên mọi lĩnh
vực; Đảng trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo
chủ chốt các ngành, các cấp; đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ
chức thành viên trong hệ thống chính trị; Đảng phân công, phân cấp
quản lý cán bộ cho các cấp uỷ và tổ chức Đảng, đồng thời thường xuyên
kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các ngành, các cấp.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách, tập thể quyết định gắn với việc thực hiện trách nhiệm cá nhân
trong công tác quản lý cán bộ.
16
Cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm túc các nghị quyết,
quyết định của cấp uỷ cấp trên về cán bộ và công tác cán bộ.
Thứ bẩy, Đảng phải có chính sách cán bộ đúng đắn.
Chính sách cán bộ đúng đắn thể hiện các nội dung sau: chế độ đãi
ngộ phù hợp với vị trí, vai trò của cán bộ, công chức; có chính sách thu
hút nhân tài hiệu quả; có kế hoạch khích lệ, động viên tính tích cực, sáng
tạo, tinh thần thi đua vươn lên đạt thành tích cao trong công tác của cán
bộ.
Chính sách cán bộ đúng đắn phải phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo trong công tác của cán bộ. Chính sách cán bộ không phù
hợp thì sẽ làm cán bộ chán nản, không tích cực trong hoạt động và công
cuộc sống yêu cầu về công tác cán bộ thay đổi, thì đường lối, chính sách
của Đảng cũng cần có sự bổ sung và phát triển. Muốn đề ra đường lối,
chính sách đúng, có căn cứ khoa học, sát hợp với nhu cầu thực tiễn,
Đảng cần phải:
- Tổ chức tốt hệ thống thông tin từ trung ương đến cơ sở; định kỳ
điều tra nghiên cứu tình hình thực tế; nâng cao chất lượng công tác thu
thập, phân tích, tổng hợp tình hình, bảo đảm phản ánh kịp thời, chính
xác những tình hình cơ bản, những sự kiện quan trọng; kiên quyết chống
lối làm việc quan liêu, xa rời thực tế, xa rời cơ sở, xa rời quần chúng;
- Chống tác phong đại khái, hời hợt, không đi sâu vào thực chất
của vấn đề, của sự việc; tăng cường nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh
nghiệm; phải tìm ra những nội dung, phương pháp và bước đi thích hợp;
phải giải quyết các vấn đề mới mẻ nảy sinh từ thực tiễn cách mạng Việt
Nam;
- Tổ chức chu đáo việc học tập lý luận Mác - Lênin, học tập những
kiến thức về kinh tế, về khoa học kỹ thuật cho đông đảo cán bộ, đảng
18
viên; thường xuyên đi sâu vào thực tiễn để phân tích, tổng kết kinh
nghiệm và khái quát lý luận cần thiết; không ngừng bổ sung, phát triển
và cụ thể hóa hơn nữa đường lối, chính sách của Đảng; phải kiện toàn
các cơ quan làm nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn; phải
nắm chắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
thấu suốt hơn quy luật phát triển của xã hội; “phải ngày càng trưởng
thành trong việc vận dụng những hiểu biết đó vào thực tiễn để định ra
đường lối, chính sách một cách đúng đắn và sáng tạo”.
Thứ hai, Đảng lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ thông qua thể chế
hóa cương lĩnh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác
cán bộ thành pháp luật, chính sách của Nhà nước.
cầm quyền, Đảng cử cán bộ, đảng viên vào các cơ quan nhà nước, các
đoàn thể. Công tác cán bộ phải được chỉ đạo tập trung của Đảng.
Sử dụng cán bộ cũng là một vấn đề quan trọng của Đảng. Dùng
đúng người, đúng việc, kết hợp đan xen giữa cán bộ trẻ có năng lực với
cán bộ cao tuổi có nhiều kinh nghiệm. Đảng ta cần chăm lo bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ lâu năm, đồng thời phải rất quan tâm bồi dưỡng, đào tạo
và mạnh dạn đề bạt thêm nhiều cán bộ trẻ có phẩm chất cách mạng cao,
có năng lực dồi dào, có sức vươn lên mạnh mẽ, xuất hiện trong các
phong trào cách mạng. Muốn Đảng cầm quyền vững mạnh, chi bộ mạnh,
thì chất lượng đảng viên phải tốt. Đảng viên phải tiên phong, gương
mẫu, có đạo đức cách mạng và năng lực hoàn thành nhiệm vụ. Đảng viên
phải hăng hái phấn đấu thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối,
Nghị quyết của Đảng, các chính sách, định hướng, gương mẫu dẫn đầu
trong chiến đấu và lao động sản xuất…
Thứ tư, Đảng lãnh đạo công cán bộ thông qua công tác kiểm tra.
20
Trong điều kiện đối với một đảng cầm quyền thường xuyên phải
đề phòng các nguy cơ, đó là dễ phạm phải sai lầm về chủ trương, đường
lối, bên cạnh đó việc cán bộ, đảng viên có quyền dễ sinh ra lạm dụng
quyền lực, xa dân, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Kiểm tra cần
phải có trọng tâm, phải nắm khâu mấu chốt, phải có yêu cầu cụ thể. Đối
tượng chủ yếu cần kiểm tra thường xuyên là đảng viên và các cấp ủy
đảng ở cơ sở. Như vậy, việc kiểm tra cần tập trung vào kiểm tra đảng ủy,
chi ủy, chi bộ và đảng viên trực tiếp ở từng cơ sở để thấy được các tổ
chức Đảng đó có lãnh đạo theo đúng chủ trương hay không.
Tiểu kết chƣơng
Hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với công tác tổ chức cán bộ là