THỬ NGHIỆM NUÔI HÀU DÀY (Crassostrea ariakensis Fujita và Wakiya, 1929) VÀ VỌP SÔNG (Geloina coaxans Gmelin, 1791) TRONG AO NUÔI TÔM TẠI XÃ LÝ NHƠN, HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỬ NGHIỆM NUÔI HÀU DÀY (Crassostrea ariakensis Fujita
và Wakiya, 1929) VÀ VỌP SÔNG (Geloina coaxans Gmelin, 1791)
TRONG AO NUÔI TÔM TẠI XÃ LÝ NHƠN, HUYỆN CẦN
GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Họ và tên sinh viên: HỒ THỊ HỒNG MAI
Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Niên khóa: 2008 – 2010

Tp. Hồ Chí Minh
Tháng 08/2010


THỬ NGHIỆM NUÔI HÀU DÀY (Crassostrea ariakensis Fujita và Wakiya,
1929) VÀ VỌP SÔNG (Geloina coaxans Gmelin, 1791) TRONG AO
NUÔI TÔM TẠI XÃ LÝ NHƠN, HUYỆN CẦN GIỜ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tác giả

HỒ THỊ HỒNG MAI

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư
ngành Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN VĂN TRAI

Đề tài gồm 2 nội dung:
Nội dung 1: thí nghiệm sự thích nghi của hàu trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng. Hàu
được thả trong 3 rổ nhựa (40x25x15 cm) và treo trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng gần
quạt nước và ống cấp nước cho ao nuôi. Hàu giống có nguồn gốc tự nhiên, có kích
thước trung bình là 65,67 ± 19,9 g.
Kết quả sau 4 tuần nuôi:
Các chỉ tiêu chất lượng nước (pH, độ trong, độ mặn và hàm lượng oxy hòa tan)
ao tôm có thả hàu thí nghiệm nhìn chung nằm trong khoảng thích hợp cho hàu sống và
phát triển. Tuy nhiên nhiệt độ nước ở ao nuôi thí nghiệm (31,2 - 33,2 0C) cao hơn so
với nhiệt độ thích hợp (20 – 30 0C) cho sự phát triển của hàu nên đã gây bất lợi và cho
tỉ lệ sống thấp (68,89 % sau 1 tháng nuôi).
Sau 4 tuần thí nghiệm, hàu có sự gia tăng trọng lượng có ý nghĩa so với hàu thả
nuôi ban đầu, đồng thời độ béo hàu cũng tăng đáng kể so với lúc mới thả. Điều này
cho thấy hàu có thể sống tốt trong môi trường ao nuôi tôm.
Nội dung 2: thí nghiệm sự thích nghi của vọp trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng
Thí nghiệm có 3 nghiệm thức, vọp được nuôi trong các khay (35x25x10 cm),
đặt ở đáy ao tôm trong cùng một ao tôm với 3 vị trí khác nhau: nghiệm thức 1 bố trí xa
máy quạt nước 25 m (NTI), nghiệm thức 2 bố trí trước máy quạt nước 5 m (NTII),
nghiệm thức 3 bố trí sau máy quạt nước 5 m (NTIII), mỗi nghiệm thức được lặp lại 3
lần. Vọp thí nghiệm có nguồn gốc tự nhiên và trọng lượng ban đầu là 35,36 ± 6,37 g.
Kết quả sau 8 tuần nuôi:
Các chỉ tiêu chất lượng nước (nhiệt độ, pH, độ trong, oxy hòa tan) trong ao tôm
đều nằm trong khoảng thích hợp cho vọp sống và phát triển. Nhưng độ mặn trong ao

iii


nuôi thí nghiệm vọp giảm đột ngột do thí nghiệm gặp vào mùa mưa nên ảnh hưởng
đến sự phát triển của vọp.
Sau 8 tuần thí nghiệm, vọp ở nghiệm thức II có sự gia tăng trọng lượng có ý

v

Danh sách các bảng biểu

vii

Danh sách các đồ thị

viii

Danh sách các hình

ix

Chương 1. GIỚI THIỆU

1

1.1 Đặt vấn đề

1

1.2 Mục tiêu đề tài

2

Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3


16

3.2.2 Dụng cụ thí nghiệm

16

3.2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm

16

3.2.3.1 Sự thích nghi của hàu trong ao tôm thẻ chân trắng thâm canh

16

3.2.3.2 Sự thích nghi của vọp trong ao tôm thẻ chân trắng thâm canh

17

Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

21

4.1 Khả năng thích nghi của hàu dày (Crassostrea ariakensis Fujita và Wakiya,
1929) trong ao tôm thẻ chân trắng thâm canh

21

4.1.1 Biến động một số yếu tố môi trường trong ao tôm có hàu thí nghiệm

21


42

TÀI LIỆU THAM KHẢO

44

PHỤ LỤC

vi


DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng

Nội dung

Trang

4.1

Môi trường nước ao tôm nuôi hàu thí nghiệm từ tháng 4 - tháng 5

4.2

Giá trị trung bình các chỉ tiêu chất lượng nước ao tôm

22

có nuôi hàu thí nghiệm

Môi trường nước ao tôm nuôi vọp thí nghiệm từ tháng 5 - tháng 7

30

4.8

Giá trị trung bình các chỉ tiêu chất lượng nước ao tôm
có thả vọp thí nghiệm

31

4.9

Kích cỡ ban đầu vọp thí nghiệm

33

4.10

Chiều dài vọp thí nghiệm qua các lần đo

34

4.11

Chiều rộng vọp thí nghiệm qua các lần đo

35

4.12

Nội dung

Trang

4.1

Sự tăng trưởng chiều dài hàu thí nghiệm

25

4.2

Sự tăng trưởng chiều rộng hàu thí nghiệm

26

4.3

Sự tăng trưởng chiều cao hàu thí nghiệm

26

4.4

Sự tăng trưởng trọng lượng hàu thí nghiệm

27

4.5


Sự tăng trưởng chiều cao vọp thí nghiệm

37

4.11

Sự tăng trưởng trọng lượng vọp thí nghiệm

38

4.12

Độ béo của vọp thí nghiệm

39

viii


DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
Hình

Nội dung

Trang

2.1

Hàu dày (Crassostrea ariakensis)


GIỚI THIỆU
1.1

Đặt Vấn Đề
Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có vị trí địa lý thuận

lợi và tiềm năng lớn về thủy sản. Đặc biệt ở vùng nước lợ, mặn thì con tôm đang được
chú ý và nuôi nhiều nhất với các hình thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, bán
thâm canh đến thâm canh. Có thể nói rằng đến giai đoạn hiện nay các hình thức nuôi
thâm canh cũng bị chững lại, nhiều vùng đìa bỏ không như: Cần Giờ, Long An, Bến
Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, v.v. Nguyên nhân việc nuôi tôm ngày
càng khó khăn là do nguồn chất thải của tôm đã làm cho môi trường nước bị ô nhiễm
ngày càng nghiêm trọng và lây lan dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Vấn đề giảm thiểu
nguồn chất thải trong ao nuôi cũng như thải ra ngoài môi trường ngày càng cấp thiết.
Theo Nguyễn Chính (2005), sự thất bại trong nuôi tôm một phần là do người
nuôi chưa nắm vững đặc điểm sinh học của đối tượng nuôi để áp dụng các kỹ thuật
nuôi phù hợp cho từng vùng, mặt khác là do những đối tượng có khả năng làm sạch
môi trường bị khai thác quá triệt để, bao gồm cả nhuyễn thể 2 mảnh vỏ (Bivalvia) nên
môi trường nước ngày càng ô nhiễm.
Trong số các loại động vật thân mềm, các loài 2 mảnh vỏ không chỉ là sản
phẩm hải sản được ưa thích mà còn mang lại hiệu quả kinh tế đối với loại hình nuôi
sinh thái. Bên cạnh đó, chúng có đặc tính lọc nước, vì thế chúng có thể được sử dụng
như là một hệ thống lọc sinh học để cải thiện chất lượng nước (Mazzola và Sara, 2001;
Shpigel và Blaylock, 1991; Shpigel và ctv., 1997, trích bởi Như Văn Cẩn, Chu Chí
Thiết và Martin S Kumar, 2009), đóng góp vào phát triển nuôi trồng thủy sản bền
vững.
1


Hàu (Crassostrea sp.) và vọp sông (Geloina coaxans Gmelin, 1791), là những

2.1

Tình Hình Nuôi Nhuyễn Thể 2 Mảnh Vỏ Trên Thế Giới và Việt Nam
Nghề nuôi nhuyễn thể 2 mảnh vỏ đã có từ lâu đời và xuất phát từ những nước

vùng ôn đới. Trong lịch sử có lẽ La Mã là nước đầu tiên biết nuôi nhuyễn thể 2 mảnh
vỏ và đối tượng đầu tiên được chú ý là hàu, thế kỷ thứ 2 trước công nguyên Sergius
Orata đã xây dựng trại nuôi hàu. Truyền thuyết cho rằng một trong những lý do mà đế
quốc La Mã xâm chiếm Anh Quốc bởi vì quần đảo này có nguồn lợi hàu rất phong phú
và chất lượng cao. Nghề nuôi một số loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ khác phát triển tương
đối chậm hơn so với nuôi hàu. Ở vùng nhiệt đới, nguồn lợi tự nhiên rất phong phú cho
nên nghề nuôi nhuyễn thể 2 mảnh vỏ cũng phát triển chậm.
Ở Việt Nam nghề nuôi chỉ mới phát triển gần đây. Miền Bắc nuôi một số đối
tượng như hàu cửa sông Ostrea rivularis (sông Bạch Đằng, Quảng Ninh và Lạch
Trường, Thanh Hóa), vẹm Mytilus viridis (Thừa Thiên), ngao dầu Meretrix meretrix
(Thái Bình), trai ngọc nước biển Pinctada (Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Yên và Nha
Trang) và trai ngọc nước ngọt Hyriopsis (Hồ Tây, Hà Nội). Miền Nam chủ yếu nuôi
hai đối tượng là nghêu (Meretrix lyrata) ở Bến Tre, Tiền Giang và sò huyết (Anadara
granosa) ở Kiên Giang. Tuy nhiên có rất ít công trình nghiên cứu kỹ thuật nuôi các
loài thuộc nhuyễn thể 2 mảnh vỏ, chủ yếu các công trình nghiên cứu ở Việt Nam là
đánh giá nguồn lợi. Chỉ tìm thấy một số công trình bao gồm các thông tin khoa học,
sách hoặc giáo trình như: Cẩm nang nuôi thủy sản nước lợ của Nguyễn Anh Tuấn năm
1994; Kỹ thuật nuôi ngao, nghêu, sò huyết, trai ngọc của Ngô Trọng Lư năm 1996;
Đặc điểm sinh học và kỹ thuật ương nuôi nghêu Meretrix rylata Sowerby của Nguyễn
Hữu Phụng năm 1996.

3


2.2

cơ trơn (Nguyễn Như Trí, 2000).
Phân bố
Cai và ctv. (1992) báo cáo rằng hàu được nuôi ở vùng cửa sông đến các vùng
dưới triều nông của vịnh Zhanjiang (Trung Quốc), nơi nhiệt độ nước khoảng từ 14 đến
31,8 0C và độ mặn dao động 7,5 - 30,2 ‰ (The National Research Council, 2004).
Những báo cáo khác cho rằng các loài hàu thường được tìm thấy ở những nơi có độ
mặn dao động từ 9 đến 30 ‰ (Cahn, 1950, trích bởi The National Research Council,
2004) và nó có thể chịu được độ mặn dưới 10 ‰ trong thời gian ngắn (Amemiya,
1928, trích bởi The National Research Council, 2004).
Crassostrea ariakensis được tìm thấy dọc theo bờ biển Trung Quốc (Tschang
và Tse-kong, 1956, trích bởi The National Research Council, 2004), miền Nam Nhật
Bản (Rao, 1987, trích bởi The National Research Council, 2004), Đài Loan,
Philippines, Thái Lan, Việt Nam, và miền Bắc Boreno và Malaysia (Zhou và Allen,
2003, trích bởi The National Research Council, 2004). Ngoài ra, C. ariakensis còn
được tìm thấy trên bờ biển phía tây bắc của Ấn Độ và Pakistan. Tuy nhiên, phạm vi
phân bố bên ngoài Trung Quốc và miền Nam Nhật Bản đã không được di truyền xác
nhận (Allen và ctv., 2002, trích bởi The National Research Council, 2004), và có sự
nhầm lẫn đáng kể về phân loại các loài (Coan và ctv., 2000; Carriker và Gaffney năm
1996; Zhou và Allen, 2003, trích bởi The National Research Council, 2004). Đôi khi
C. ariakensis đã được xác định là Ostrea rivularis, C. rivularis, C. discoidea (e.g.,
Awati và Rai, 1931; Harry, 1985; Rao, 1987, trích bởi The National Research Council,
2004) hoặc C. paulucciae (Carriker và Gaffney, 1996, trích bởi The National Research
Council, 2004).
Phương thức sống
Ở giai đoạn ấu trùng chúng sống phù du. Ấu trùng hàu có khả năng bơi lội nhờ
vào hoạt động của vành tiêm mao hay đĩa bơi. Ở giai đoạn trưởng thành hàu sống bám
trên các giá thể (sống cố định) trong suốt đời sống của chúng. Nhiều loài hàu tạo thành
quần thể dày đặc nhiều tầng (rạn hàu, bãi hàu).
5


Tương tự như hàu C. virginica, hoạt động sinh sản của hàu C. ariakensis cũng
theo mùa, và chu kỳ sinh sản bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và điều kiện môi trường trong
6


vùng. Ở Trung Quốc, mùa sinh sản là giữa tháng 4 và tháng 6 (Cai và ctv., 1992, trích
bởi The National Research Council, 2004). Vùng cửa sông Zhujiang mùa sinh sản là
tháng 6 đến tháng 9 mà chủ yếu trong tháng 6 đến tháng 7, một hoạt động sinh sản thứ
hai có thể xảy ra nếu điều kiện môi trường thích hợp (Zhou và Allen, 2003, trích bởi
The National Research Council, 2004). Asif (1979) cho rằng tuyến sinh dục đã bắt đầu
xuất hiện ở cá thể 2 - 3 tháng tuổi (0,4 - 0,6 cm chiều dài vỏ) và ở thời điểm này những
cá thể lưỡng tính cũng được phát hiện (The National Research Council, 2004).
Đặc điểm sinh trưởng
Hàu có tốc độ sinh trưởng khá nhanh. Ở các nước nhiệt đới thì thời gian nuôi
trung bình thay đổi từ 8 - 12 tháng. Còn ở các nước ôn đới thì thời gian nuôi dài hơn,
thông thường từ 12 - 24 tháng. Tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào các yếu tố: sự phong
phú của nguồn thức ăn, độ mặn, mật độ nuôi, phương pháp nuôi, vị trí bám so với bề
mặt nước (Nguyễn Như Trí, 2000).
Coan và ctv. (2000) cho rằng C. ariakensis có thể đạt chiều cao vỏ lên đến 20
cm, trong khi Carriker và Gaffney (1996) cho rằng những con hàu có thể đạt 20 - 24
cm chiều cao vỏ (The National Research Council, 2004). Hàu tăng trưởng tương đối
nhanh ở ven biển và vùng biển miền Nam Trung Quốc, thường trong vòng 2 - 3 năm
(10 – 15 cm chiều dài vỏ ) có thể được thu hoạch khi nuôi trong điều kiện thích hợp
(Guo và ctv., 1999, trích bởi The National Research Council, 2004)
Ở Mỹ, tỷ lệ tăng trưởng thay đổi theo điều kiện môi trường nuôi. Ví dụ như,
Langdon và Robinson (1996), không có sự khác biệt trong tốc độ tăng trưởng của C.
ariakensis và C. gigas ở các vùng Puget Sound, Washington, và Coos Bay, Oregon,
khi nuôi trên bãi triều hoặc bè nổi ở Yaquina Bay, Oregon (The National Research
Council, 2004). Cả hai loài đạt được chiều cao vỏ khoảng 10cm trong khoảng 2 năm.
C. gigas đã tăng trưởng nhanh hơn C. ariakensis khi được đặt trong túi lưới treo trên

Bộ mang thật: Eulamellibranchia
Bộ phụ: Heterodonta
Họ: Corbiculidae
Giống: Geloina
Loài: Geloina coaxans (Gmelin, 1791)
Tên tiếng Anh: Mud clam
Tên Việt Nam: Vọp sông
Theo Lê Minh Viễn (2008), vọp sông có các đặc điểm sau đây:
Đặc điểm hình thái
Cũng như các động vật 2 vỏ khác, vọp sông có dạng hình tam giác. Trên mặt vỏ
đường sinh trưởng mịn, xếp khít nhau, da màu vàng rêu phát triển thành phiến, ở cá
8


thể già da bóng màu nâu vàng. Mặt trong vỏ trắng, mặt khớp vỏ trái phải đều có 3 răng
giữa, răng giữa trước nhỏ, 2 răng sau chẻ đôi.
Răng phía trước vỏ phải nhỏ nhô cao, răng bên phía trước vỏ trái thì thô. Vết cơ khép
vỏ sau lớn hình chữ nhật, vết mép màng áo và vịnh màng áo không rõ. Vỏ cá thể
trưởng thành cao 75 mm, dài 60 mm, rộng 40 mm.

Hình 2.2: Vọp sông (Geloina coaxans)
Phân bố
Họ vọp (Corbiculidae) thường được nhắc đến có 5 giống và 10 loài, thích nghi
ở vùng nước mặn và nước lợ. Đó là các loài: Geloina coaxans (Gmelin, 1791),
Geloina erosa (Lightfoot, 1786), Geloina expansa (Mousson, 1849), Corbicua
fluminea (Muller, 1774), Batissa violacea (Lamarck, 1819), Batissa fortis (Prime,
1860), Polymesoda placans (Bosc, 1801), Polymesoda maritime (Orbigny, 1842),
Polymesoda placans (Hanley, 1845) và Cyrenobatissa subsulcata (Clessin, 1878),
trong đó loài vọp sông (Geloina coaxans) sinh sống chủ yếu ở vùng cao triều thấp
nước mặn và nước lợ ven sông rừng ngập mặn.

thân mềm khác có hiện tượng thay đổi giới tính trong vòng đời, rõ nhất là lưỡng tính
giai đoạn. Trong thực tế sản xuất ít khi bắt gặp hiện tượng lưỡng tính đồng thời, tức
cùng một lúc trong một cá thể tuyến sinh dục xuất hiện cả hai giới tính: tinh trùng –
mang tính đực và trứng - mang tính cái. Chính vì hiện tượng này nhiều người dễ bị
ngộ nhận cho rằng vọp sông là loài động vật đơn tính. Cụ thể Morton (1985) (trích bởi
10


Lê Minh Viễn, 2008) đã nghiên cứu sinh học sinh sản của quần thể loài Geloina erosa
ở những khu rừng ngập mặn ở Hồng Kông cho thấy 51,5 % cá thể là cái, 38,5 % là
đực, 0,5 % là lưỡng tính đồng thời và 9,5 % là không xác định giới tính. Ngoài ra tác
giả còn cho biết cá thể thành thục của loài vọp này ở kích thước khoảng 35 mm và sinh
sản diễn ra một lần trong một thời gian dài vào mùa hè. Cá thể thành thục thải trứng và
tinh trùng vào môi trường nước, quá trình thụ tinh diễn ra trong môi trường nước.
Ở vùng nước Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Indonesia mùa sinh sản của vọp
trùng vào mùa hè. Ở miền Nam Việt Nam mùa sinh sản của vọp sông chủ yếu trùng
vào mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 hàng năm, thời kỳ này tuyến sinh dục của vọp
trưởng thành căng phồng, lên kính hiển vi trứng và tinh trùng xuất hiện khá hoàn
chỉnh, vào bậc 3, 4 (theo thang sinh dục 5 bậc của Nash và Braley, 1988). Lúc này có
thể đưa vọp vào vỗ béo và kích thích đẻ dễ dàng. Vọp sông cũng giống như hàu, vẹm,
điệp, nghêu, sò huyết…hiện tượng sinh sản của chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi
thời tiết. Thông thường sau các trận mưa và gió mùa đột ngột vọp có thể đẻ hàng loạt.
Công nghệ sản xuất giống nhân tạo vọp: mặc dù sản xuất giống những đối
tượng nhuyễn thể hai mảnh vỏ đã đạt đến trình độ cao tại nhiều nước, nhưng sản xuất
giống vọp sông chưa được tìm thấy trong bất cứ tài liệu nào công bố. Tuy nhiên, các
thành tựu của công nghệ sản xuất giống các loài động vật thân mềm khác có thể hỗ trợ
cho nhau về phương pháp và công nghệ sản xuất vọp giống (Wong va Lim, 1985, trích
bởi Lê Minh Viễn, 2008).
Nuôi thương phẩm: xuất phát từ giá trị kinh tế - xã hội, làm sạch môi trường,
chi phí nuôi thấp vì không tốn thức ăn, nên những đối tượng nhuyễn thể 2 mảnh vỏ có

Mà nguồn thức ăn cung cấp cho nhuyễn thể 2 mảnh vỏ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
như nhiệt độ, thủy triều, độ sâu nước và mật độ cá thể. Ngoài ra, sự tăng trưởng của
nhuyễn thể 2 mảnh vỏ còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố nội sinh, ví dụ như kiểu gen và
tình trạng sinh lý, tương tác phức tạp với các yếu tố môi trường.
Bên cạnh đó, các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của hàu là thủy
triều, lượng thức ăn và các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối).
Khi triều lên cường độ bắt mồi tăng, triều xuống cường độ bắt mồi giảm.
Trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp và ít thức ăn thì
cường độ bắt mồi cao.
Khi các yếu tố môi trường trong khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi cao và
khi các yếu tố môi trường ngoài khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi thấp.
Thức ăn
Thức ăn là yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định tốc độ tăng trưởng
nhuyễn thể 2 mảnh vỏ ở trại giống và ngoài tự nhiên. Sự phát triển của những cá thể
ngoài tự nhiên có tương quan với rất nhiều sinh vật phù du (Utting, 1988; Smaal và
Stralen, 1990, trích bởi Elizabeth Gosling, 2001). Page và Hubbard (1987) cho thấy sự
12


tăng trưởng của vẹm Mytilus edulis tương quan với nồng độ chất diệp lục - a
(chlorophyll - a), trong khi sự tăng trưởng của hàu Crassostrea gigas tương quan với
nồng độ chất diệp lục - b (chlorophyll - b) (Brown, 1988) (trích bởi Elizabeth Gosling,
2001).
Thủy triều
Nhuyễn thể 2 mảnh vỏ chỉ ăn khi chúng ngập dưới nước. Do đó, mà những cá
thể sống trong vùng có thủy triều lên xuống thì giảm tốc độ tăng trưởng đáng kể so với
các cá thể được liên tục bao phủ bởi triều cường. Điều này cũng minh họa cho các loài
hàu Tiostrea lutaria, được giới thiệu vào Vương quốc Anh từ New Zealand, 1963
(Elizabeth Gosling, 2001).
Một số loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ có khả năng chịu đựng được sự bày khô.

vẹm từ một số cá thể ở phía Bắc xứ Wales đã không phát triển ở 19 ‰ và đã có sự
tăng trưởng chậm tại 24 ‰, nhưng ở 30 - 32 ‰ tăng trưởng bình thường.
Ngô Thị Thu Thảo, Trương Trọng Nghĩa (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của
nồng độ muối khác nhau đến tốc độ tăng trưởng của sò huyết giống Anadara granosa.
Kết quả trong hai tuần đầu tiên của thí nghiệm, sò nuôi ở nồng độ muối 15 ppt có tốc
độ sinh trưởng hàng ngày cao nhất kế đến ở 10 ppt và thấp nhất ở 5 ppt.
Mật độ nuôi
Mật độ nuôi ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng của nhuyễn thể 2 mảnh vỏ.
Nuôi ở mật độ càng cao thì tốc độ phát triển của cá thể sẽ chậm hơn nuôi ở mật độ
thấp hay ở mật độ thích hợp.
Theo Như Văn Cẩn, Chu Chí Thiết và Martin S Kumar (2009) mật độ nuôi ảnh
hưởng lớn tới sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao. Đối với ngao giống với chiều dài
vỏ 1,7 cm, trong số 4 mật độ nuôi khác nhau 0,34; 0,68; 1,36 và 2,04 kg/m2, thì mật độ
cao hơn tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn cũng như tỷ lệ sống thấp hơn. Đối với ngao giống
cỡ nhỏ với chiều dài vỏ là 1,0 cm, trong các mật độ nuôi 0,05; 0,1; 0,2 và 0,3 kg/m2, tỷ
lệ tăng trưởng tốt hơn ở mật độ nuôi thấp hơn.
Độ sâu và dòng chảy
Những thông tin về ảnh hưởng của độ sâu nước lên sự tăng trưởng của nhuyễn
thể 2 mảnh vỏ xuất phát từ những nghiên cứu được thực hiện trên loài nghêu ở các vị
trí nuôi khác nhau. Nghêu nuôi ở gần bờ, nước nông có tốc độ tăng trưởng cao hơn và
kích cỡ tối đa hơn so với những cá thể nghêu ở các vùng nước sâu hơn. Ở vùng nước
nông, nhiệt độ tương đối cao và quan trọng hơn là có nguồn thức ăn phong phú hơn
vùng nước sâu. Tuy nhiên, mối quan hệ nghịch giữa tăng trưởng và độ sâu là không
phù hợp cho các mô (tissues) khác (Elizabeth Gosling, 2001).
14


Dòng chảy cũng ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của nhuyễn thể 2 mảnh vỏ vì
có liên quan đến sự cung cấp thức ăn. Dòng chảy ảnh hưởng đến tốc độ lọc, mật độ
thức ăn trong thủy vực. Dòng chảy mạnh hay yếu dẫn đến lượng thức ăn ít hay nhiều.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status