BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BƯỚC ĐẦU CHO SINH SẢN NHÂN TẠO CUA ĐỒNG
(Somanniathelphusa germaini Rathbun, 1902) VÀ NGHIÊN CỨU
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, GIÁ THỂ ĐẾN SỰ TĂNG
TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA CUA CON GIAI ĐOẠN MỚI NỞ
ĐẾN HAI THÁNG TUỔI
Họ và tên sinh viên: LÊ HOÀNG LÝ
Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Niên khóa: 2006 – 2010
Tháng 8/2010
BƯỚC ĐẦU CHO SINH SẢN NHÂN TẠO CUA ĐỒNG (Somanniathelphusa
germaini Rathbun, 1902) VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN,
GIÁ THỂ ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA CUA CON GIAI
ĐOẠN MỚI NỞ ĐẾN HAI THÁNG TUỔI
Tác giả
LÊ HOÀNG LÝ
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành
Nuôi Trồng Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn:
(Rathbun, 1902)) và nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, giá thể đến sự tăng trưởng, tỷ
lệ sống của cua con giai đoạn mới nở đến hai tháng tuổi” được tiến hành tại trại Thực
Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí
Minh, từ tháng 04/2010 đến tháng 08/2010. Gồm các thí nghiệm:
Thí nghiệm I, II, III: thực hiện nhằm tìm ra hình thức bố trí thích hợp trong việc
sản xuất giống nhân tạo cua đồng.
Khả năng bắt cặp sinh sản ở thí nghiệm II (được bố trí trong bể xi măng ngăn ra
làm 6 ô, mỗi ô có kích thước (1x 0,7x 1,5 m)) là cao nhất với 19 con mang trứng, kế
tiếp là thí nghiệm I (được bố trí trong 6 bể kính, mỗi bể có kích thước là 60 x 40 x 40
cm ) với 10 cua ôm trứng và thấp nhất là thí nghiệm III (được bố trí trong bể xi măng
có kích thước 2 x 2 x 1,5 m) có 6 cua ôm trứng.
Thí nghiệm IV: thực hiện nhằm theo dõi ảnh hưởng của thức ăn lên sự phát triển
và tỷ lệ sống của cua đồng. Thí nghiệm được trong bể xi măng (8 x 2 x 1,5 m), được
ngăn ra làm 9 ô bằng nylon với kích thước mỗi ô là: (1 x 0,7 x 1,5 m). Thí nghiệm
gồm có 3 nghiệm thức ứng với các cách cho ăn khác nhau được bố trí hoàn toàn ngẫu
nhiên và được lặp lại 3 lần.
Theo kết quả phân tích thống kê cho thấy không có sự khác nhau về tỷ lệ sống và
sự phát triển của cua dưới ảnh hưởng của các phương thức ăn khác nhau.
Thí nghiệm V: được thực hiện nhằm theo dõi ảnh hưởng của giá thể trú ẩn lên sự
tăng trọng và tỷ lệ sống của cua đồng. Thí nghiệm gồm có 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm
thức có 2 bể tương ứng với 2 lần lặp lại, mỗi bể có kích thước là 80 x 40 x 40 cm.
NT 1 (môi trường nuôi có giá thể và đất) cho kết quả tốt hơn về (tỷ lệ sống 49,5
%, trung bình mức tăng chiều rộng tuyệt đối (0,237 ± 0,032 mm/ngày), trung bình mức
tăng chiều dài tuyệt đối (0,205 ±0,031 mm/ngày) và trung bình mức tăng trọng tuyệt
đối (0,027 ± 0,008 g/ngày)) so với NT 2 (môi trường nuôi không có đất).
iii
MỤC LỤC
1
1.1 Đặt vấn đề
1
1.2 Mục tiêu đề tài
1
Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2
2.1 Đặc điểm sinh học cua đồng
2
2.1.1 Phân loại
2
2.1.2 Phân bố
5
2.1.3 Tập tính hoạt động
7
15
Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
16
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
16
3.2 Vật liệu thí nghiệm
16
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
16
3.2.2 Vật liệu, trang thiết bị dùng trong thí nghiệm
16
3.3 Phương pháp thí nghiệm
17
iv
3.3.1 Phương pháp bố trí cho cua sinh sản
4.2.2 Kết quả bước đầu cho cua đồng sinh sản nhân tạo
32
4.3 Kết quả ương cua đồng
33
4.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn lên sự phát triển và tỷ lệ sống của cua
33
4.3.2 Ảnh hưởng của loại giá thể trú ẩn tới sự tăng trưởng và tỷ lệ sống
của cua đồng
42
Chương 5. KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ
48
5.1 Kết luận
48
5.2 Đề nghị
49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
trình thí nghiệm
28
Bảng 4.2: Chiều dài, chiều rộng mai, trọng lượng cua mẹ và số lượng trứng
trong yếm của 5 con cua cái thí nghiệm
29
Bảng 4.3: Chiều dài, chiều rộng mai, trọng lượng cua mẹ và số lượng trứng
trong yếm của cua bắt ngoài tự nhiên.
30
Bảng 4.4: Chiều dài, chiều rộng mai, trọng lượng cua mẹ và số lượng con
trong yếm của 5 con cua cái thí nghiệm
30
Bảng 4.5: Chiều dài, chiều rộng mai, trọng lượng cua mẹ và số lượng con
trong yếm của cua bắt ở ngoài tự nhiên
31
Bảng 4.6: Số lượng cua mẹ ôm trứng và ôm con trong thí nghiệm cho
cua đồng sinh sản
32
Bảng 4.7: Chiều rộng (mm) trung bình của mai cua qua 4 lần kiểm tra
Bảng 4.15: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày) của cua qua 64 ngày ương nuôi
40
Bảng 4.16: Tỷ lệ sống của cua đồng sau 2 tháng nuôi qua các phương thức
cho ăn khác nhau
41
vi
Bảng 4.17: Chiều rộng (mm) trung bình của mai cua qua các lần kiểm tra
42
Bảng 4.18: Mức tăng chiều rộng tuyệt đối (mm/ngày) dưới ảnh hưởng của giá thể 43
Bảng 4.19: Chiều dài trung bình của mai cua qua 4 lần kiểm tra dưới
ảnh hưởng giá thể trú ẩn
43
Bảng 4.20: Mức tăng chiều dài tuyệt đối (mm/ngày) dưới ảnh hưởng của giá thể
44
Bảng 4.21: Trọng lượng trung bình cua qua các lần kiểm tra
45
11
Hình 2.5: Chân bụng G1, G2 trái của cua Somanniathelphusa pax
(Peter K. L. Ng and Takeharu Kosuge, 1995)
11
Hình 2.6: Mặt bụng cua cái
12
Hình 2.7: Hoạt động giao vỹ của cua đồng
14
Hình 3.1: Cua đồng lúc bắt đầu thí nghiệm
16
Hình 3.2: NT 1 của thí nghiệm I
Hình 3.3: NT 2 của thí nghiệm I
17
Hình 3.4: NT 3 của thí nghiệm I Hình 3.5: NT 4 của thí nghiệm I
18
Hình 3.14: Cua con tách ra khỏi cua mẹ 1 ngày
22
Hình 3.15: Nghiệm thức 1 của thí nghiệm V
23
Hình 3.16: Nghiệm thức 2 của thí nghiệm V
23
Hình 4.1: Trứng cua
29
Hình 4.2: Cua đồng ôm trứng
33
Hình 4.3: Cua đồng ôm con
33
Hình 4.4: Cua đồng 2 tuần tuổi
41
viii
38
Đồ thị 4.5: Tỷ lệ tăng trọng tương đối (%) của cua
39
Đồ thị 4.6: Tốc độ tăng trọng tuyệt đối hằng ngày của cua
40
Đồ thị 4.7: Tỷ lệ sống của cua đồng sau 2 tháng nuôi qua các phương thức
cho ăn khác nhau
42
Đồ thị 4.8: Mức tăng chiều rộng tuyệt đối (mm/ngày) dưới ảnh hưởng của giá thể
43
Đồ thị 4.9: Mức tăng chiều dài tuyệt đối (mm/ngày) dưới ảnh hưởng của giá thể
44
Đồ thị 4.10: Tăng trọng trung bình của cua dưới ảnh hưởng của giá thể trú ẩn
46
Đồ thị 4.11: Tỷ lệ sống của cua
47
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học cua đồng
2.1.1 Phân loại
Theo Rathbun (1902; Trích bởi Đặng Ngọc Thanh, 2001), đối tượng cua đồng mà
chúng tôi thí nghiệm thuộc hệ thống phân loại như sau:
Lớp: Crustacea
Bộ: Decapoda
Họ: Parathelphusidae
Giống: Somanniathelphusa
Loài: Somanniathelphusa germaini
Hình 2.1: Hình thái ngoài cua đồng (Sommanniathelphusa germaini (Rathbun, 1902))
2.1.1.1 Đặc điểm hình thái chung của cua nước ngọt
Cua tuy có liên hệ mật thiết với tôm nhưng theo tiến trình của tiến hóa, cua đã
2
thay đổi để có thể bò được, đào hang và bơi lặn. Thân thể của cua được bao bọc bởi
một lớp vỏ bằng chất chitin, có thêm một lớp sáp bên ngoài. Vỏ cua chứa một lượng
cao cuticule. Lớp cuticule có thể ngấm các muối calcium carbonate và phosphate ở
trạng thái vô định hình hay dạng tinh thể, giúp vỏ cua trở thành cứng rắn. Ở vùng giữa
vỏ có rãnh bán nguyệt, rãnh chữ H đặc trưng ở cua. Chất màu của vỏ cua tập trung
trong lớp cuticule bên ngoài hay trong các tế bào chứa sắc tố. Thành phần chính của
chất màu là một hỗn hợp carotene, gọi dưới tên zooerythrin; ngoài ra còn có chất màu
cyano crystalin tạo màu xanh nơi mai cua sống, nhưng khi đun nóng màu này sẽ đổi
thành zooerythrin, màu đỏ cam.
Cơ thể cua nước ngọt gồm phần đầu ngực và phần bụng.
Phần đầu ngực không phân đốt rõ. Mặt vỏ đầu ngực thường có các thùy, rãnh và
gờ. Vỏ đầu ngực có hình dạng ngoài khác nhau, màu sắc khác nhau tùy từng loài.
Phần bụng gồm 7 đốt gập vào mặt dưới phần đầu ngực, thường gọi là yếm cua.
Ngành: Arthropoda (chân khớp)
Phân ngành: Branchiata (có mang)
Lớp: Crustacea
Lớp phụ: Malacostraca
Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Reptantia
Nhóm: Brachyura
Họ: Parathelphusidae
Giống: Somanniathelphusa
Theo Peter K. L. Ng, Danièle Guinot and Peter J. F. Davie, (2008) trên thế giới
giống cua Somanniathelphusa gồm có các loài sau:
Somanniathelphusa amoyensis (Naiyanetr và Dai, 1997)
Somanniathelphusa brevipodum (Dai, Song, He, Xu và Zhong, 1975 ở China)
Somanniathelphusa chongi (Wu, 1935 ở China)
Somanniathelphusa dangi (Darren C. J. Yeo và Nguyễn Xuân Quỳnh, 1999)
Somanniathelphusa falx (Ng và Dudgeon, 1992 ở China)
Somanniathelphusa germaini (Rathbun, 1902)
Somanniathelphusa kyphuensis (Dang, 1975)
Somanniathelphusa taiwanensis (Bott, 1968 ở Taiwan)
Somanniathelphusa zanklon (Ng và Dudgeon, 1992 ở Hong Kong)
Somanniathelphusa zhangpuensis (Naiyanetr & Dai, 1997)
Somanniathelphusa zhapoensis (Naiyanetr & Dai, 1997)
4
Somanniathelphusa pax (Peter K. L. Ng và Kosuge, 1995) có kích thước chiều
dài mai cua là 41,9 mm và chiều rộng mai cua là 32,8 mm
Hình 2.2: Cua đồng loài Somanniathelphusa pax (Peter K. L. Ng and Takeharu
Kosuge, 1995)
đoạn càng hoặc chân để thoát thân.
Theo Trương Thanh Phong (2008) ảnh hưởng của các giá thể lên tỷ lệ sống và sự
phát triển của cua đồng trong thời gian ương 30 ngày, với cùng loại thức ăn là trùn chỉ
được trình bày như sau:
Bảng 2.1: Ảnh hưởng của giá thể lên tỷ lệ sống và sự phát triển của cua đồng
Giá thể
Lục bình
Rong đuôi chồn
Rau dừa
Vỏ ốc
Trọng lượng trung bình (gam)
0,596
0,536
0,476
0,386
Tỉ lệ sống (%)
53,33
49,89
43,66
36,44
Sau khoảng thời gian ương cua đồng được 60 ngày, đã khảo sát được khả năng
ảnh hưởng của loại giá thể trú ẩn tới sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua đồng giữa
môi trường nuôi I (có đất, bèo tai chuột (bèo Cái: Pistia stratiotes)) với môi trường
nuôi II (chỉ có bèo tai chuột), với cùng loại thức ăn là cá tạp cắt nhuyễn, kết quả thu
được như sau:
6
nghiệp xay mịn hoặc 60% bột cá + 40% bột đậu tương.
Theo Huỳnh Thanh Điền (2007), ảnh hưởng của một số loại thức ăn khác nhau
lên tỷ lệ sống và sự phát triển của cua đồng trong thời gian ương nuôi 28 ngày được
trình bày như sau:
Bảng 2.3: Ảnh hưởng của thức ăn khác nhau lên tỷ lệ sống và sự phát triển của cua
đồng
Thức ăn
Trùn chỉ
Cá tạp
Thủy sinh thực vật
Tăng trọng trung bình (gam)
1,036
0,436
0,179
Tỷ lệ sống (%)
37,55
29,00
19,33
2.1.5 Vòng đời cua đồng
Cua đồng trưởng thành từ sông rạch theo con nước lớn bò lên đồng ruộng kiếm
ăn. Cua thường bò cặp theo mé bờ, thỉnh thoảng lại ngoi đầu lên mặt nước khoảng 10
giây đến 1 phút để lấy thêm không khí vào phòng mang và lại lặn xuống, bò đi tiếp
thường tạo trên mặt nước một vệt bóng khí do cua thả ra. Cứ thế, cua theo con nước
lớn mà đi vào các ao và đồng ruộng. Ngoài ra, cua có thể bò trên cạn, vượt qua các bờ
đập chắn nước hoặc đào xuyên qua bờ ao một cách dễ dàng. Khi tìm được vị trí thích
7
như chân hoặc càng. Cua thiếu phụ bộ hay phụ bộ bị tổn thương có khuynh hướng lột
xác sớm hơn.
8
Cơ chế của sự lột xác có thể giải thích như sau: trong cơ thể của cua có một loại
tuyến nội tiết gọi là cơ quan Y nằm ở gốc hàm lớn. Cơ quan này tiết ra một loại
hormone gọi là hormone lột xác để kích thích cua lột xác Hormone này có thể là
ecdysone (C27H44O6 – có bản chất là Steroid). Tuy nhiên hormone này được điều chỉnh
bởi một loại hormone khác. Đó là hormone ức chế sự lột xác (Molt Inhibiting
Hormone – MIH). MIH được chế tiết ra từ phức hệ cơ quan X và minus gland – (tuyến
xoang, tuyến hốc). Như vậy, nói chung sự lột xác của cua do sự điều khiển của cơ
quan Y, và phức hệ cơ quan X – (tuyến xoang, tuyến hốc). Nếu hủy bỏ phức hệ cơ
quan X thì không còn yếu tố ức chế sự lột xác, cua sẽ thường lột xác. Ngoài ra trong
phức hệ cơ quan X và (tuyến xoang, tuyến hốc) còn có nhiều tuyến nội tiết khác
(tương tự não thùy – Hypothalamus ở cá) như hormone ức chế sự phát triển tuyến sinh
dục (Gonad Inhibiting Hormone – GIH), điều chỉnh áp suất thẩm thấu, thay đổi màu
sắc, … Tuy nhiên, những loại hormone này chưa được nghiên cứu kỹ.
Theo Drach (1993; trích bởi Nguyễn Văn Tư, 2005), các giai đoạn lột xác khác
nhau của chu kỳ lột xác ở cua (Cancer pagurus) có thể chấp nhận cho tất cả phân bộ
Brachyura được chia ra làm các giai đoạn sau:
Giai đoạn A: Ngay sau khi lột xác cua không ăn, hấp thu nước tối đa.
Giai đoạn B: Thời kỳ chính của sự khoáng hóa vỏ mới, cua không ăn.
Giai đoạn C: Mặc dù vỏ cứng nhưng sự calci hóa vẫn tiếp tục trong những
giai đoạn phụ sớm, cua bắt đầu ăn lại.
Giai đoạn D: Giai đoạn chuẩn bị cho lần lột xác tiếp theo. Sự tái hấp thu
calci xảy ra và các lớp ngoài của một vỏ mới được tiết. Việc ăn ngừng lại và các dự trữ
trao đổi chất được huy động, hoạt động giảm.
Giai đoạn E: Cua thoát khỏi vỏ cũ và hấp thu nước nhanh chóng.
E
Không
-
0,5
Một ít
Không
86
1-5
Sự tiết lớp vỏ calci
Nhiều
Không
85
3
Vừa
Bắt đầu
Có
61
30+
Vừa
Có
60
Vĩnh
viễn
Vừa
Có
60
10+
Vừa
Có
-
5
0,5
Sự tăng trưởng các mô
chính
Sự tăng trưởng các mô tiếp
tục
Sự hoàn thiện bộ xương
ngoài, lớp màng được
thành lập
"Giữa lột xác", sự tích lũy
chủ yếu của các chất dự
trữ hữu cơ
Giai đoạn kết thúc trong
loài nào đó, không tăng
trưởng nữa
Hoạt hóa biểu bì và gan
tụy
Lớp mô sừng ngoài được
thành lập và sự thành lập
gai bắt đầu
Tách vỏ Sự tiết lớp sắc tố bắt đầu
D3
D4
Nhẹ
Cứng
C
C1
Các đặc trưng
Mức độ
hoạt
động
Sắp sửa
lột xác
Lột xác
Giai đoạn chính của sự tái
hấp thu bộ xương ngoài
Những đường nét liên hệ
đến lột xác mở ra
Hấp thu nước nhanh
chóng và lột xác
10
2.2 Đặc điểm sinh sản của cua đồng
2.2.1 Phân biệt đực cái
Cua đồng là loài đơn tính, dị hình phái tính, con đực và con cái phân biệt rõ ràng.
2.2.1.1 Cấu tạo ngoài
Con đực: yếm có hình chữ T suốt giai đoạn ấu niên cho đến khi trưởng thành,
gồm có 7 đốt. Đốt I, II, III rộng ngang. Đốt V, VI, VII hẹp lại.
trọng lượng và kích thước tuyến sinh dục cua cái rất nhỏ, màu trắng dạng sợi mảnh.
Sau khi trưởng thành, lột xác và giao phối xong thì buồng trứng bắt đầu phát triển từ
trắng sang vàng lợt và vàng đậm.
12
Theo Lê Phước Lập (1993), quá trình phát triển noãn sào của cua đồng được chia
làm 5 giai đoạn:
- Giai đoạn I: Tình trạng chưa thành thục
Buồng trứng mỏng, trong suốt, rất khó thấy được hình dạng chữ H, chỉ thấy được
dạng vệt nhỏ. Cuối giai đoạn này đã thấy những hạt trứng có màu trắng dạng chấm.
- Giai đoạn II: Tình trạng buồng trứng bắt đầu phát triển
Tuyến sinh dục có dạng ống tròn nhỏ, hình chữ H rõ ràng, màu trắng đục. Cuối
giai đoạn đã có một số vùng trên buồng trứng có màu vàng rất nhạt. Hạt trắng đã rõ
hơn nhưng vẫn còn nhỏ.
- Giai đoạn III: Tình trạng chín sinh dục ban đầu
Buồng trứng đã chuyển sang màu vàng rất rõ, các hạt trứng đã tròn và nhỏ có
màu vàng. Trên buồng trứng có xen lẫn trứng của giai đoạn II. Cuối giai đoạn thì
buồng trứng đã lớn chứa đầy các hạt trứng tròn màu vàng tươi.
- Giai đoạn IV: Tình trạng chín sinh dục rõ ràng
Buồng trứng lớn căng, chứa đầy các trứng to tròn lớn có màu vàng sậm. Cuối giai
đoạn này trứng rụng và cua sẽ đẻ trứng.
- Giai đoạn V: Tình trạng buồng trứng sau khi đẻ
Cua đồng là loài đẻ nhiều đợt trong mùa sinh sản mà không có sự lột xác sau khi
sinh sản.
Sau khi cua đẻ thì buồng trứng sẽ trở về giai đoạn III, có nhiều trứng tròn màu
vàng tươi rõ ràng và xen lẫn những hạt trứng ở giai đoạn II.
Khi cua ôm con thì buồng trứng sẽ chuyển sang thời kỳ cuối của giai đoạn III,
các hạt trứng tròn đều màu vàng tươi.
2.2.3 Mùa vụ sinh sản