VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ DIỆU HƢƠNG
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI:
TRƢỜNG HỢP VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Ngành
: Quản lý kinh tế
Mã số
: 9.34.04.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. Vũ Hùng Cƣờng
2. PGS.TS. Nguyễn Trọng Thản
Hà Nội, năm 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
1.3. Nhóm các công trình bàn về quản lý sử dụng nguồn tài chính
cho hoạt động khoa học ...................................................................................... 13
1.4. Nhóm các công trình bàn về đổi mới cơ chế hoạt động,
cơ chế quản lý tài chính trong các tổ chức Khoa học và Công nghệ ................. 15
1.5. Kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu ................ 17
1.5.1. Kết quả nghiên cứu đạt đƣợc ......................................................................17
1.5.2. Hạn chế và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu ......................................18
1.5.3. Khung phân tích của luận án ......................................................................19
CHƢƠNG II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI .......................................... 22
2.1. Một số lý luận cơ bản về hoạt động Khoa học xã hội ........................................ 22
2.1.1. Khái niệm về hoạt động Khoa học xã hội...................................................22
2.1.2. Đặc thù của Khoa học xã hội ......................................................................22
2.2. Quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội .......................................... 27
2.2.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội .27
2.2.2. Nội dung quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội ....................32
2.2.3. Công cụ quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội .....................43
2.2.4. Các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội ................................................................45
2.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội ....................................................................... 47
i
2.3.1. Các nhân tố khách quan ..............................................................................47
2.3.2. Các nhân tố chủ quan ..................................................................................49
2.4. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội .... 50
2.4.1. Kinh nghiệm trong phân bổ NSNN cho hoạt động Khoa học xã hội .........50
2.4.2. Kinh nghiệm trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nƣớc
trong hoạt động Khoa học xã hội................................................................59
CHƢƠNG IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI ............................................................... 128
4.1. Bối cảnh và những cơ hội, thách thức đổi mới quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội ..................................................................... 128
4.1.1. Bối cảnh ....................................................................................................128
4.1.2. Cơ hội, thách thức .....................................................................................131
ii
4.2. Quan điểm, định hƣớng đổi mới quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội ..................................................................... 134
4.2.1. Quan điểm .................................................................................................134
4.2.2. Định hƣớng và yêu cầu đổi mới ...............................................................135
4.3. Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội ..................................................................... 137
4.3.1. Nhóm giải pháp tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội của cơ quan quản lý Nhà nƣớc ............137
4.3.2. Nhóm giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý tài chính tại các tổ chức
Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã hội ........150
4.4. Điều kiện thực hiện .......................................................................................... 153
KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 158
Phụ lục số 01 .......................................................................................................................... 164
PHIẾU KHẢO SÁT NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH .................. 164
Phụ lục số 02 .......................................................................................................................... 167
PHIẾU PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA
VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH................................................................... 167
Phụ lục số 03 .......................................................................................................................... 170
KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH........................ 170
XH
XHCN
Chi tiêu nội bộ
Doanh nghiệp
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
Khoa học và Công nghệ
Khoa học công nghệ
Khoa học tự nhiên
Khoa học xã hội
Khoa học xã hội và Nhân văn
Nghiên cứu và Phát triển
Nghiên cứu khoa học
Nghị định
Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Nghị định 16/2015/NĐ-CP
Nghị định 54/2016/NĐ-CP
Nguồn lực tài chính
Ngân sách nhà nƣớc
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development)
Quản lý tài chính
Thông tƣ liên tịch số 27/2017/TTLT-BTC-BKHCN
Thông tƣ liên tịch số 44/2007/TTLT-BKHCN-BTC
Thông tƣ liên tịch số 55/2017/TTLT-BKHCN-BTC
Thông tƣ liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN
Đô la Hoa Kỳ
Việt Nam Đồng
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (World Trade Organization)
Xã hội
giai đoạn 2006-2015
Bình quân kinh phí sự nghiệp khoa học từ nguồn NSNN của
Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam giai đoạn 2006-2018
Quy mô kinh phí bình quân cho một đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Nhà nƣớc theo lĩnh vực nghiên cứu giai đoạn 2011-2015
Tổng hợp nguồn thu của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai
đoạn 2011-2017
Tỷ lệ nguồn thu từ NSNN giữa số kế hoạch và số phân bổ của
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2017
Phân bổ nguồn lực tài chính theo cơ cấu nguồn kinh phí của
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2017
Cơ cấu phân bổ chi thƣờng xuyên của Viện Hàn lâm KHXH
Việt Nam giai đoạn 2011-2017
So sánh giữa số quyết toán và số phân bổ của Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2016
Tỷ lệ kinh phí sai phạm bị xuất toán so với kinh phí quyết toán
của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2016
Hệ số tin cậy Cronbach alpha của các biến trong thang đo CCCS
Cronbach’s Alpha = 0.848
Hệ số tin cậy Cronbach alpha của các biến trong thang đo
HTTTCS Cronbach’s Alpha = 0.89
Hệ số tin cậy Cronbach alpha của các biến trong thang đo
NLCB Cronbach’s Alpha = 0.862
Hệ số tin cậy Cronbach alpha của các biến trong thang đo
CLQLTC Cronbach’s Alpha = 0.873
Hệ số tin cậy Cronbach alpha của các biến trong thang đo
HQQLTC Cronbach’s Alpha = 0.799
Kết quả kiểm định Bartlett’s và tổng phƣơng sai trích
Ma trận xoay của các thang đo
Nội dung
Trang
1.1
Khung phân tích của luận án
20
2.1
Mô hình quản lý tài chính của Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam
30
2.2
Nguồn tài chính cho hoạt động Khoa học xã hội
36
3.1
Cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
83
3.2
3.3
Kết quả phân tích nhân tố các thang đo
119
vi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế tri thức, sự phát
triển của mọi quốc gia dựa trên thành tựu của khoa học công nghệ là một đòi hỏi tất
yếu. Ở Việt Nam, Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đƣợc xác định là “quốc sách
hàng đầu” trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhƣ trong các văn
bản chính sách của Chính phủ. Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay, thành tựu về
KH&CN của Việt Nam vẫn còn một khoảng cách xa so với thế giới và việc sử dụng
kết quả hoạt động KH&CN vào cuộc sống còn nhiều hạn chế. Để đạt đƣợc mục
đích này, đổi mới quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ đang
là một lựa chọn cần thiết.
Việc đổi mới quản lý và hoạt động của các tổ chức KH&CN đƣợc thể hiện ở
4 nội dung cơ bản là: tự chủ về hoạt động KH&CN, tự chủ về tài chính, tự chủ về
quản lý nhân sự và tự chủ về quan hệ hợp tác quốc tế, trong đó tự chủ về tài chính là
nội dung đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc phát huy vai trò, thế
mạnh và hiệu quả hoạt động của tổ chức KH&CN. Chủ trƣơng trao quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN đã đƣợc thể chế hoá tại một số các văn
bản nhằm mục đích tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cơ chế hoạt động, cơ chế tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chủ
trƣơng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm này tại các tổ chức KH&CN vẫn gặp
nhiều vƣớng mắc cả từ sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong các văn bản quản lý nhà
hà nhất là trong việc thực hiện chủ trƣơng khoán chi. Đặc biệt, việc hành chính hóa
trong quản lý tài chính của hoạt động khoa học đang là một rào cản lớn ảnh hƣởng
đến tính chủ động của nhà khoa học và tính sáng tạo của hoạt động khoa học. Tất cả
các hạn chế cơ bản trên đang cản trở việc phát huy tính tự chủ về tài chính và nâng
cao hiệu quả quản lý tài chính tại đơn vị.
Xét về tổng thể, để đảm bảo thực sự tự chủ về tài chính của các tổ chức
KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH, cần có đổi mới đồng bộ và toàn diện cả
về nội dung và công cụ quản lý tài chính. Việc đổi mới và hoàn thiện quản lý tài
chính, nếu làm tốt, sẽ là một khâu đột phá trong việc đổi mới quản lý hoạt động
KHXH. Yêu cầu tự chủ về tài chính là một trong những yêu cầu cấp thiết và quan
trọng để nâng cao chất lƣợng nghiên cứu khoa học, cơ sở hạ tầng, chất lƣợng của
các công trình nghiên cứu khoa học v.v… Giải quyết đƣợc những bất cập trong mô
hình quản lý tài chính sẽ giúp các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH
phá vỡ đƣợc vòng tròn luẩn quẩn về chất lƣợng nghiên cứu chƣa tƣơng xứng với
yêu cầu của thực tế đất nƣớc.
2
Với những lý do trên, việc lựa chọn đề tài: “Đổi mới quản lý tài chính trong
hoạt động khoa học xã hội: Trường hợp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế có ý nghĩa cả về mặt lý luận
và thực tiễn.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án: Từ nghiên cứu cơ sở lý luận và
tổng kết thực tiễn quản lý tài chính trong hoạt động KHXH, đánh giá thực trạng
QLTC trong hoạt động KHXH, đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính
trong hoạt động KHXH ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, nghiên cứu có nhiệm vụ:
- Tổng quan các công nghiên cứu nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã công bố
- Phạm vi nội dung:
+ Quản lý nhà nƣớc về tài chính trong hoạt động KHXH bao gồm quản lý
phân bổ và sử dụng nguồn NSNN cho hoạt động KHXH, trong đó luận án chỉ tập
trung vào chủ thể quản lý nhà nƣớc và công cụ quản lý về mặt cơ chế chính sách;
nguồn tài chính cho hoạt động KHXH trong luận án chỉ giới hạn là nguồn NSNN.
+ Quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam bao gồm quản lý huy
động, phân bổ và sử dụng (quản lý thu, quản lý chi) tài chính tại Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam, do đặc thù của hoạt động KHXH chủ yếu đƣợc đầu tƣ từ NSNN
nên trong quản lý thu luận án chỉ tập trung phân tích hoạt động nguồn thu để xác
định mức độ tự chủ, mà không đi sâu vào phân tích quản lý nguồn thu và trong
nguồn thu cũng không bao gồm chi đầu tƣ phát triển.
- Phạm vi không gian: Để so sánh làm rõ bức tranh thực trạng đầu tƣ cho
KHXH trong mối tƣơng quan với KHCN, Luận án tập trung vào hai Chƣơng trình
trọng điểm cấp nhà nƣớc (KC, KX). Trong phân tích thực trạng quản lý tài chính
trong hoạt động KHXH sẽ tập trung vào phân tích thực trạng cơ chế chính sách quản
lý tài chính trong hoạt động KHXH của cơ quan quản lý Nhà nƣớc và thực trạng quản
lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động
KHXH trong khoảng thời gian 2006-2017, là giai đoạn các tổ chức KH&CN thực
hiện triển khai theo Nghị định 115 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Đối với
phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, nghiên
cứu chỉ phân tích số liệu trong khoảng thời gian 2011-2017, giai đoạn Viện Hàn lâm
thực hiện việc chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang thực hiện theo Nghị định 115.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập thông tin
(1) Phương pháp tổng hợp, phân tích, kế thừa
4
Luân án sử dụng phƣơng pháp tổng hợp, kế thừa để thu thập các tài liệu, dữ
đích cho từng đơn vị. Theo phƣơng pháp chọn mẫu thuận tiện, đối tƣợng đƣợc chọn
5
những phần tử (đối tƣợng nghiên cứu) có thể tiếp cận đƣợc (Nguyễn Đình Thọ và
Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) [44].
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
(1) Phân tích thống kê mô tả
Luận án sử dụng phƣơng pháp phân tích thống kê mô tả nhằm phân tích, đánh
giá thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam ở chƣơng 3.
(2) Phân tích nhân tố
Dựa trên tổng quan tài liệu và kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính,
thang đo đƣợc sử dụng cho khảo sát đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng tới quản lý tài
chính tại các tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa học xã
hội ở Việt Nam gồm: thang đo cơ chế chính sách của nhà nƣớc về quản lý tài chính
(CCCS), thang đo hỗ trợ của các cơ quan thực thi chính sách (HTTTCS), thang đo
năng lực của cán bộ quản lý tài chính (NLCB), thang đo chất lƣợng hoạt động quản
lý tài chính (CLQLTC), và thang đo hiệu quả quản lý tài chính (HQQLTC). Các
thang đo đƣợc đánh giá thông qua 2 công cụ chính là hệ số tin cậy Cronbach Alpha
và phân tích yếu tố khám phá (EFA). Hệ số Cronbach Alpha đƣợc sử dụng trƣớc để
loại các biến không phù hợp trƣớc. Các biến có hệ số tƣơng quan biến tổng nhỏ hơn
0.30 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi nó có độ tin cậy Alpha từ 0.60 trở lên
(Nunnallly và Berntein, 1994). Tiếp theo, phƣơng pháp EFA đƣợc sử dụng. Trong
phần này, các biến có trọng số (factor loading) nhỏ hơn 0.40 trong EFA sẽ tiếp tục
bị loại. Thang đo đƣợc chấp nhận khi tổng phƣơng sai trích bàng hoặc lớn hơn 50%
(Gerbing và Anderson, 1988). Kết quả thu đƣợc từ phân tích EFA tiếp tục đƣợc
phân tích sử dụng phƣơng pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để xem xét
mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu với dữ liệu tế. Sau cùng, phƣơng pháp
phân tích đƣờng dẫn đƣợc sử dụng để đánh giá sự tác động của các thang đo (biến
tiềm ẩn) tới hiệu quả quản lý tài chính. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng ở chƣơng 3
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận án
gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội
Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính trong
hoạt động Khoa học xã hội
Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội
Chƣơng 4: Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động Khoa
học xã hội
7
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI
1.1. Nhóm các công trình bàn về lý thuyết quản lý tài chính công
Tài chính công là lĩnh vực đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tập trung
nghiên cứu. Trong số các công trình bàn về lĩnh vực này, công trình Public Finance
in Theory and Practice của Prest và Barr xuất bản năm 1979 [65] đƣợc nhắc đến
nhiều nhất. Ông đã cho tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công.
Trong công trình này, những nội dung cơ bản nhất về lý thuyết tài chính công đã
đƣợc tác giả giới thiệu; đồng thời, một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở Anh đã
đƣợc đƣa ra phân tích và lồng ghép vào các nội dung lý thuyết. Nửa thế kỷ sau, với
cùng tên sách Public Finance in Theory and Practice (2011), tác giả H. H. Ulbrich
[72] đã đƣa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ. Rất nhiều tác giả
cũng đã xuất bản cùng tên sách và những cuốn sách nhƣ vậy (A.R. Prest, 1960; S.
K. Singh, 1982; Richard Musgrave, 2004; A. J. Auerbach, 2009) luôn là những sách
bán chạy và đƣợc tái bản nhiều lần.
lƣng buộc bụng tài chính để chuyển các nguồn lực tài chính vốn đã hạn hẹp sang tài
trợ cho cho các chƣơng trình định hƣớng tƣơng lai nhằm thực hiện mục tiêu xã hội
công bằng và hiệu quả hơn. Những dữ liệu tại Đức, Thụy Điển và Mỹ trong những
năm 1981-2007 là cơ sở để để khám phá những động lực cho chính sách chi tiêu với
sự kỳ vọng rằng những nỗ lực củng cố mục tiêu công bằng và hiệu quả hơn sẽ đƣợc
thực hiện trong thập kỷ tới.
Ở trong nƣớc, việc nghiên cứu về tài chính công mới đƣợc chú ý trong hai
thập niên đầu thế kỷ XXI với hàng loạt các công trình nghiên cứu, điển hình với
những công trình sau:
Tác giả Dƣơng Đăng Chinh [16], đã nêu khái niệm, đặc điểm, nội dung của
quản lý tài chính công, những công cụ quản lý của tài chính công.
Tác giả Phạm Ngọc Hiến [28], đã tập trung nghiên cứu các lý luận cơ bản về
tài chính công và vai trò, chức năng của tài chính công, đồng thời phân tích thực
trạng tài chính công ở nƣớc ta, bao gồm hoạt động đánh thuế, hoạt động, chi tiêu
ngân sách trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở
Việt Nam; Phân tích thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam những năm đầu
thế kỷ XXI và đề xuất các giải pháp để tăng cƣờng quản lý tài chính công trong giai
9
đoạn tiếp theo. Các nghiên cứu này mới chỉ đƣa ra những giải pháp chung mang
tính định hƣớng, chƣa có đƣợc những giải pháp cụ thể.
Tác giả Bạch Thị Minh Huyền [30] đã có phân tích khá toàn diện về quản lý
chi tiêu công, về các chính sách quản lý chi tiêu công, những công cụ quản lý của
nhà nƣớc đối với chi tiêu công.
Những công trình nghiên cứu đã đề cập chi tiết đến lý thuyết quản lý tài
chính công nhƣng một công trình đề cập cụ thể đến lý thuyết quản lý tài chính cho
hoạt động KHXH thì hiện chƣa có.
1.2. Nhóm các công trình bàn về huy động nguồn lực tài chính cho hoạt
nghiên cứu cho thấy việc đánh giá chƣa thỏa đáng và đúng với giá trị về vai trò của
KHXH. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp về cơ chế phân bổ ngân sách cho hoạt
động KHXH nhƣ: Đổi mới cơ chế phân bổ, giao dự toán; hƣớng đến giao dự toán
theo đầu ra của sản phẩm khoa học; khuyến khích và tạo điều kiện để nâng cao tính
tự chủ cho tổ chức khoa học và công nghệ cũng nhƣ cá nhân các chủ nhiệm đề tài.
Với luận văn thạc sĩ nên nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào đánh giá cơ chế phân
bổ ngân sách cho KHXH, chƣa có đánh giá sâu và tầm bao quát cao hơn cả về lý luận
và thực tiễn đối với mô hình tổ chức khoa học và công nghệ nên cần tiếp tục mở rộng
nghiên cứu rộng và sâu hơn để có những kiến nghị giải pháp mang tính ứng dụng cao
hơn trong điều kiện mở rộng tính tự chủ cho các tổ chức KH&CN.
Nghiên cứu của Nguyễn Công Nghiệp [33], trên cơ sở nghiên cứu lí luận, thực
tiễn tại Việt Nam (giai đoạn 2005-2010) và kinh nghiệm nƣớc ngoài, đề tài đã chỉ ra 7
điểm hạn chế và 2 nhóm nguyên nhân về cơ chế và chính sách đầu tƣ tài chính cho
hoạt động nghiên cứu KHXH, đồng thời đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính vĩ mô
nhƣ: (1) Đổi mới về quy mô cơ cấu, phƣơng thức để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu
tƣ; (2) Đổi mới định mức chi tiêu tài chính cho Hoạt động KHXH; (2) Đổi mới quy
trình lập dự toán, giải ngân và quyết toán kinh phí đối với hoạt động nghiên cứu khoa
học; (4) Có cơ chế tài chính riêng nhằm khuyến khích lao động sáng tạo phát huy tài
năng.
Nghiên cứu của Bùi Thiên Sơn [38], [40] nhận định “công tác tài chính có
vai trò quan trọng để tạo đột phá cho phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia”.
Những đánh giá cụ thể về mặt thu và chi ngân sách cho hoạt động KH&CN giai
đoạn 2010 còn nhiều bất cập. Tác giả đã chỉ ra một số thực trạng trong quản lý tài
chính và có dẫn chứng bằng số liệu điều tra “năm 2008, có nhiều nơi các nhà khoa
học mất đến 60% quỹ thời gian nghiên cứu để giải trình thuyết minh và giải ngân
kinh phí đề tài đã đƣợc phê duyệt”. Điều này cho thấy chính sách quản lý tài chính
11
trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nhiều hạn chế, cần có các giải pháp phù
lĩnh vực KH&CN còn chƣa toàn diện, thể hiện là chƣa chú ý đến đầu tƣ cho nghiên
12
cứu cơ bản trong lĩnh vực KHXH. Nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân của những hạn
chế và đề xuất một số giải pháp tăng cƣờng huy động nguồn tài chính đối với hoạt
động KH&CN nhƣ: (1) Tăng tỷ lệ đầu tƣ từ NSNN cho KH&CN; (2) Mở rộng
nguồn tài chính cho KH&CN thông qua mở rộng hình thức đầu tƣ, thành lập quỹ
phát triển hoạt động KHCN và quỹ hỗ trợ phát triển KHCN. Công trình này cũng có
hạn chế tƣơng tự nhƣ công trình của Mai Ngọc Cƣờng về tính đại diện của tổ chức
khoa học và công nghệ trong các trƣờng đại học đối với mô hình các tổ chức khoa
học và công nghệ trong cả nƣớc.
Những nghiên cứu vừa điểm ở trên chủ yếu đƣa ra những định hƣớng về cơ
chế quản lí tài chính nói chung, chƣa đƣa ra giải pháp cụ thể về quản lí tài chính trong
hoạt động KHXH.
1.3. Nhóm các công trình bàn về quản lý sử dụng nguồn tài chính cho
hoạt động khoa học
Nghiên cứu của Mai Ngọc Cƣờng [24], phân tích các số liệu tài chính dành
cho KH&CN, nêu ra các hạn chế trong công tác phân bổ, quản lý sử dụng và thanh
quyết toán NSNN cho KH&CN. Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra một số vấn đề thực
trạng của tài chính cho KH&CN gồm: Thứ nhất, việc quản lý, phân bổ sử dụng kinh
phí sự nghiệp KH&CN còn dàn trải làm cho hiệu quả sử dụng vốn chƣa cao; Thứ
hai, thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp KH&CN còn nhiều bất cập. Nghiên cứu
chủ yếu tập trung phân tích thực trạng phân bổ và sử dụng ngân sách cho hoạt động
khoa học trong các trƣờng đại học với nhiều bất cập cả về cơ chế quản lý và thủ tục
hành chính trong quá trình triển khai thực hiện, chƣa đƣa ra đƣợc kiến nghị gì mới
mà vẫn chỉ là những đề xuất mang tính định hƣớng chung. Bên cạnh đó, tổ chức
khoa học và công nghệ trong trƣờng đại học không phải là mô hình tổ chức khoa
học và công nghệ có tính phổ quát, đại diện cao, có những đặc thù hạn chế do
nhiệm vụ chính của tổ chức là đào tạo chứ không phải nghiên cứu.
cách thức phân bổ và kiểm soát nguồn tài chính cho KH&CN. Từ tìm hiểu kinh
nghiệm những nƣớc tiên tiến nghiên cứu đã đề xuất ở Việt Nam nên chuyển dần việc
phân bổ ngân sách cho nghiên cứu khoa học theo đầu ra, điều này có nghĩa là khi các
nhà khoa học tham gia thực hiện một chƣơng trình, đề án, công trình hay dự án
nghiên cứu đƣợc giao ngân sách theo đầu ra với chỉ tiêu kết quả cụ thể thì cơ quan
quản lý nhà nƣớc không cần kiểm soát chi tiêu đầu vào, chỉ cần quan tâm đến kết quả
nghiên cứu.
Nghiên cứu của Hồ Thị Hải Yến [57], từ đánh giá thực trạng quản lý sử dụng
nguồn tài chính từ NSNN cho hoạt động KH&CN cho thấy những bất cập trong cơ
chế quản lý, nhƣ: cơ chế phân bổ không phù hợp, định mức chi tiêu không sát thực
tế, thủ tục thanh quyết toán còn rƣờm rà phức tạp,…Nghiên cứu đƣa ra đề xuất
14
nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính từ NSNN cho hoạt động KH&CN, trong
đó nhấn mạnh đến: (1) Đổi mới cơ chế phân bổ nguồn đầu tƣ tài chính từ NSNN;
(2) Xây dựng quỹ phát triển hoạt động KH&CN; (3) Áp dụng cơ chế tài chính nhằm
nâng cao quyền tự chủ tài chính cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển.
1.4. Nhóm các công trình bàn về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế quản
lý tài chính trong các tổ chức Khoa học và Công nghệ
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Bảo [2], đã nêu ra những vấn đề lý luận về
quản lý tài chính trong ngành giáo dục đào tạo và chính sách đổi mới cơ chế quản lý
tài chính của các tổ chức KH&CN công lập theo hƣớng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
và phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính và từ đó đề xuất một số
nhóm giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi và tăng cƣờng tính tự chủ tài
chính.
Nghiên cứu của Nguyễn Trƣờng Giang [26], đã nêu đƣợc thực trạng về cơ chế
quản lý tài chính cho hoạt động KH&CN ở nƣớc ta hiện nay, tham khảo kinh nghiệm
của các nƣớc để đƣa ra kiến nghị, giải pháp trong cơ chế quản lý tài chính đối với
KH&CN ở Việt Nam, chỉ rõ giải pháp quan trọng nhất là đổi mới đồng bộ cách thức
Nghiên cứu của Dƣơng Bá Phƣợng [35], đã chỉ ra những bất cập trong cơ chế
quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN nói chung và trong KHXH nói riêng. Từ
thực tế đó, nhóm nghiên cứu đƣa ra nhóm đề xuất nhằm đổi mới cơ chế quản lý tài
chính bao gồm: cấp phát, sử dụng, điều chỉnh và quản lý kinh phí; có những kiến nghị
liên quan đến chế độ chính sách của nhà nƣớc, của bộ ngành chủ quản và có kiến
nghị liên quan trực tiếp đến đơn vị sử dụng ngân sách. Tác giả cũng chỉ đƣa ra những
đề xuất mang tính định hƣớng chung liên quan đến quản lí nhà nƣớc, và một số kiến
nghị đã đƣợc điều chỉnh ở các văn bản quản lí nhà nƣớc sau đó.
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn [39], đã chỉ ra một số hạn chế của cơ chế
tài chính hiện hành nhƣ: cơ chế huy động; cơ chế phân bổ và vấn đề sử dụng các
nguồn lực tài chính. Tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân của cơ chế tài chính hiện hành
cho hoạt động KH&CN và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính cho
các hoạt động KH&CN theo 2 hƣớng đó là: Tái cấu trúc lĩnh vực đầu tƣ công, và
duy trì các khuyến khích hiện tại đối với việc nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm cho các tổ chức KH&CN. Bài viết đã phân tích khá rõ nét thực trạng cơ chế
quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN ở nƣớc ta hiện nay, đồng thời cũng đóng
góp một số giải pháp nhằm tăng hiệu quả trong quản lý cũng nhƣ trong hoạt động
nghiên cứu. Tuy nhiên, đó là những giải pháp mang tính vĩ mô mà tác giả muốn
hƣớng tới một cơ chế chung.
Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Thiều [43], trên cơ sở nghiên cứu lý luận và
qua đánh giá thực tiễn quá trình đổi mới cơ chế hoạt động các tổ chức KH&CN giai
16
đoạn vừa qua, tác giả đƣa ra 5 khuyến nghị cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện cơ
chế hoạt động của các tổ chức KH&CN ở Việt Nam trong giai đoạn từ nay tới năm
2020, trong đó có kiến nghị đổi mới cơ chế tài chính đối với tổ chức KH&CN.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này, do độ lùi thời gian, đã bộc lộ nhiều hạn chế về
tính cập nhật đối với các quy định quản lý nhà nƣớc về quản lý tài chính hiện nay. Mặc
dù vậy, các công trình trên đã có nhiều gợi ý quý báu cho việc triển khai đề tài luận án.