BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN TRẦN PHƯỢNG TRÂN
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN
CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP
NGOÀI NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2014
2
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN TRẦN PHƯỢNG TRÂN
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN
CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP
NGOÀI NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
MỞ ĐẦU
Chương 1
3
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÔNG
TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN CỦA TỔ CHỨC
ĐẢNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ
1.1
NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Doanh nghiệp ngoài nhà nước và công tác phát triển đảng
11
viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà
1.2.
nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm công tác phát
11
triển đảng viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp
Chương 2
ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ hiện nay
PHƯƠNG HƯỚNG, YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI
28
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác phát triển đảng viên là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây
dựng Đảng, nhằm làm tăng thêm nguồn sinh lực của Đảng, nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu. Nếu không làm tốt công tác phát triển đảng viên
Đảng sẽ bị già hoá, trì trệ, giảm sút năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, không
hoàn thành được vai trò lãnh đạo của mình đối với sự nghiệp cách mạng. Vì
vây, tiến hành công tác phát triển đảng viên là yêu cầu khách quan, thường
xuyên trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng.
Công tác phát triển đảng viên được tiến hành ở tổ chức cơ sở đảng, do đó
công tác phát triển đảng viên phụ thuộc trực tiếp vào số lượng, chất lượng tổ
chức đảng ở cơ sở trong mỗi giai đoạn cách mạng. Hiện nay, đất nước phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần
kinh tế, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới, không kém phần phức tạp đối với
công tác xây dựng Đảng, trong đó có xây dựng tổ chức đảng ở các doanh
nghiệp ngoài nhà nước, tạo điều kiện để tiến hành công tác phát triển đảng
viên ở các doanh nghiệp này. Do đó, xây dựng tổ chức đảng, đẩy mạnh công
tác phát triển đảng viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước là một yêu cầu
cấp thiết đặt ra đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay. Làm tốt công tác
phát triển đảng viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước góp
phần xây dựng tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nước trong sạch vững
mạnh, nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực kinh tế
nói chung, các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng theo đúng định hướng
xã hội chủ nghĩa,
Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống tổ chức đảng cũng như phát triển
đảng viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước hiện nay cực kỳ phức tạp.
Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, trong đó nguyên nhân cơ bản
là một số cấp uỷ, tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước chưa nhận
thức rõ sự cần thiết, tính chất khó khăn, phức tạp của công tác phát triển đảng
viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước để có các chủ trương, giải pháp, kế
hoạch phát triển đảng viên ở các doanh nghiệp này; chưa làm tốt công tác
giáo dục, tuyên truyền,vận động quần chúng gia nhập Đảng, công tác tạo
nguồn phát triển Đảng, công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện đảng viên.
7
Trong khi đó yêu cầu nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng ngày càng
cao, trong đó có công tác phát triển đảng viên, nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, đảng viên của Đảng. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Đổi mới, tăng cường công tác quản lý, phát
triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên theo yêu cầu của Điều lệ Đảng.
Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu cụ thể về tư tưởng chính trị, trình độ năng lực,
phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên đáp ứng yêu cầu của giai đoạn
cách mạng mới, phát huy tính tiền phong gương mẫu, chủ động, sáng tạo của
đội ngũ đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao” [ 13, tr.260]
Vì vậy, đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên gắn với nâng cao chất
phát triển đảng viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước đang là vấn đề cấp
bách của công tác xây dựng Đảng hiện nay. Với lý do đó, tác giả lựa chọn vấn
đề “Công tác phát triển đảng viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp
ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài
luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
2. Tình hình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác xây dựng tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước
là vấn đề mới đặt ra trong một số năm gần đây, đây cũng là vấn đề khó, nhạy
cảm, vì vậy ngoài những nghị quyết, quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành
đảng viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở các địa phương.
Lê Thanh Hà, Đẩy mạnh công tác phát triển đảng trong công nhân, Tạp
chí Cộng sản Điện tử. 17:5' 18/9/2013. Nguyễn Phú Lập, Công tác xây dựng
đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước ở Đắk Lắk. Tạp chí Xây
dựng Đảng điện tử 7:25' 6/8/2013. Lê Thị Chinh, Xây dựng, phát triển tổ
chức đảng, đảng viên trong loại hình doanh nghiệp ngoài Nhà nước, Báo
Ninh Thuận online, Thứ bảy, 27/07/2013 10:16. Lan Hồ, Đẩy mạnh công tác
xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước Cập nhật lúc 16:12,
Thứ Năm, 30/05/2013 (GMT+7).
Những bài báo trên trực tiếp bàn về công tác xây dựng tổ chức đảng,
công tác phát triển đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước của các tỉnh trên
các nước. Trong đó đã tập trung phân tích, luận giải vai trò, đặc điểm của các
doanh nghiệp ngoài nước; vai trò, đặc điểm của tổ chức đảng và các tổ chức
9
quần chúng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, về đặc điểm lực lượng công
nhân, người lao động ở doanh nghiệp ngoài nhà nước; luận giải đặc điểm công
tác phát triển đảng viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước hiện nay; đánh giá
thực trạng công tác xây dựng tổ chức đảng, thực trạng công tác phát triển đảng
viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước; chỉ rõ những thành tựu, kết quả đạt
được, những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân khách quan, chủ quan của thực
trạng đó; phân tích những vấn đề mới đang đặt ra đối với công tác xây dựng tổ
chức đảng và công tác phát triển đảng viên; đề xuất những chủ trương, biện
pháp nâng cao chất lượng xây dựng tổ chức đảng và công tác phát triển đảng
viên ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước hiện nay và trong những năm tới.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bài báo khoa học, nên các tác giá
không có điều kiện để luận giải một cách sâu sắc những vấn đề cơ bản về lý
luận và thực tiễn công tác xây dựng tổ chức đảng, công tác phát triển đảng
viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đánh giá thực trạng công tác phát triển đảng viên của tổ chức đảng ở
các doanh nghiệp ngoài nhà nước, rút ra một số kinh nghiệm công tác phát triển
đảng viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh công
tác phát triển đảng viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Công tác phát triển đảng viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp
ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác phát triển đảng viên của tổ chức
đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,
gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và
doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần có vốn nhà nước, doanh nghiệp có
100% vốn nước ngoài. Số liệu, tư liệu phục vụ cho luận văn giới hạn chủ yếu từ
11
năm 2005 đến nay. Đối tượng tiến hành điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến bao
gồm một số đảng viên và quần chúng ở một số doanh nghiệp ngoài nhà nước
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo phương pháp chọn mẫu.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của đề tài
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng cách mạng của
giai cấp công nhân, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng sản Việt
tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Xây dựng Đảng và Chính
quyền Nhà nước trong các học viện, nhà trường.
7. Kết cấu của đề tài.
Đề tài gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
13
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC PHẤT
TRIỂN ĐẢNG VIÊN CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP
NGOÀI NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. Doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh và công tác phát triển đảng viên của tổ chức đảng ở các doanh
nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
1.1.1. Các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, đã thông qua Luật Doanh nghiệp. Luật
doanh nghiệp quy định, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện
các hoạt động kinh doanh. Quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước,
vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp
nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
Những doanh nghiệp ngoài nhà nước là những doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản tư nhân hoạt động
theo Luật doanh nghiệp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiện
tại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh các doanh nghiệp ngoài nhà nước
gồm có các loại hình doanh nghiệp sau đây: công ty trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp; đóng góp 60 % tổng sản phẩm trong nước trên địa bàn thành
phố năm 2010 và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện” [ 31, tr.2]
Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng có sự biến
động, mặc dù số lượng vẫn tăng. Theo Báo cáo công tác xây dựng Đảng, đoàn
thể chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, đơn vị
sự nghiệp ngoài công lập năm 2013 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2014 của Ban
tổ chức Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, “trong năm 2013 “có trên 2.6000
doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, đồng thời trong đó có gần 19.000 doanh
nghiệp ngưng hoạt động” [1,1].
Theo đánh giá của Thành ủy Hồ Chí Minh, đặc điểm nổi bật của các
doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đó là “các
15
doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ (theo
quy mô lao động 99 % (75. 960/76.673) doanh nghiệp tư nhân có dưới 200
lao động) nên có khả năng điều chỉnh tương đối nhanh hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế nước ta bị tác động với khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài có trình độ quản lý, khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, có khả năng
cạnh tranh cao, tạo động lực cho doanh nghiệp trong nước nâng cao trình độ
quản lý, đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, góp phần đào tạo đội ngũ lao động
kỹ thuật có tay nghề cao, có tác phong công nghiệp.
Tuy nhiên, nhìn chung trình độ quản lý, việc xác định đúng đắn chiến
lược sản xuất - kinh doanh, thiếu vốn, năng lực cạnh tranh, khả năng tiếp cận thị
trường trong nước và ngoài nước của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế, năng xuất
lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh không ổn định, số lượng doanh nghiệp
thua lỗ phải giải thể hàng năm vẫn diễn ra, thậm chí có năm tăng lên.
Không ít doanh nghiệp có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, vi phạm
các quy định về trả lương, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, thực hiện
dân tộc, tư tưởng nhân văn cao cả, nhân ái, trọng đạo lý trong lối sống, trong
ứng xử giữa con người với con người, giữa cộng đồng với cộng đồng. Trong
lao động sản xuất đó là truyền thống cần cù, chịu thương, chịu khó, giỏi chịu
đựng gian khổ, kiên trì, nhẫn nại làm cho con người Việt Nam có khả năng
thích ứng cao và nhanh chóng hoà nhập trong điều kiện mới hiện nay; có tư
chất thông minh, sáng tạo, có khả năng vận dụng và thích ứng nhanh, đó là
những ưu thế nổi trội. Những phẩm chất này khẳng định công nhân, người lao
động Việt Nam trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước có thể theo kịp tốc độ
phát triển của công nghệ hiện đại.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rõ những hạn chế của công nhân và người lao
động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đó là thể lực
vẫn còn kém hơn nhiều so với một số nước trong khu vực. Trình độ tay nghề,
năng lực chuyên môn, khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề
nghiệp còn rất hạn chế. Đại bộ phận chưa được đào tạo đầy đủ, chứ chưa nói
đến chất lượng đào tạo và sự phù hợp của việc đào tạo nghề với thực tiễn thực
hành công việc. Thu nhập và đời sống của người lao động ở các doanh nghiệp
17
ngoài Nhà nước thấp, do chất lượng nguồn lao động thấp, trước hết là sự thấp
kém về thể chất, sức khoẻ; do chưa được được đào tạo… Chất lượng giáo
dục, đào tạo, nhất là đào tạo nghề cho lao động chưa thực sự tương xứng với
đòi hỏi của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Bên cạnh những truyền thống
quý báu cần được gìn dữ và phát huy thì cũng tồn tại những hạn chế, tiêu cực
không nhỏ. Nổi cộm là những nhược điểm của tư tưởng và tâm lý người tiểu
nông, thiếu tri thức khoa học; dễ thoả mãn, dừng lại, bảo thủ, dung hoà; nể
nang, tuỳ tiện, a dua, ăn theo…
* Các tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
ngày 16 tháng 5 năm 2005 của Ban Bí thư, chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ,
chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài.
Chức năng của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp tư nhân và doanh
nghiệp có 100% vốn nước ngoài: Đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh
nghiệp tư nhân là hạt nhân chính trị, lãnh đạo đảng viên, người lao động và
tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp, các thành viên hội đồng quản trị và
ban giám đốc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối. chính sách của Đảng, pháp
luật Nhà nước ở doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động,
chủ doanh nghiệp và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Tổ chức đảng ở các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có 100%
vốn nước ngoài có các nhiệm vụ: Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh,
bảo đảm an ninh, quốc phòng; Lãnh đạo công tác tư tưởng; Lãnh đạo các
đoàn thể quần chúng; Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; Lãnh đạo xây dựng
tổ chức đảng.
Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an ninh quốc phòng:
Để thực hiện nhiệm vụ này tổ chức đảng lãnh đạo đảng viên, người lao động
trong doanh nghiệp và tuyên truyền chủ doanh nghiệp, các thành viên hội
đồng quản trị và ban giám đốc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hợp đồng và các thoả ước lao động đã ký
kết. Đoàn kết, động viên đảng viên và các thành viên trong doanh nghiệp
phấn đấu vì mục tiêu chung là thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp; chủ động ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện vi
19
phạm pháp luật trong sản xuất kinh doanh, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, chủ doanh nghiệp, quyền lợi hợp pháp và nhân phẩm của người lao
động. Lãnh đạo đảng viên, người lao động tích cực học tập, nâng cao trình độ
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức khoa học, công nghệ, ngoại ngữ,
dục, động viên đoàn viên đẩy mạnh phong trào thi đua, hoàn thành tốt các
nhiệm vụ đước giao. Lãnh đạo Ban Chấp hành Công đoàn kịp thời trao đổi
với chủ doanh nghiệp, giám đốc để giải quyết các vấn đề phát sinh giữa người
lao động và người sử dụng lao động phù hợp với pháp luật hiện hành; ngăn
ngừa và khắc phục có hiệu quả những biểu hiện chia rẽ, phân hoá trong cộng
đồng người lao động; tham gia ý kiến với cơ quan có thẩm quyền để xử lý
đúng đắn các vụ tranh chấp trong doanh nghiệp.
Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ: Xây dựng cấp uỷ và đội ngũ cán bộ
đảng, đoàn có đủ phẩm chất, năng lực và hoạt động có hiệu quả được đảng
viên và quần chúng tín nhiệm. Chủ động đề xuất với cấp uỷ cấp trên xây dựng
và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảng, đoàn thể trong doanh
nghiệp. Chủ động tham gia ý kiến với chủ doanh nghiệp, giám đốc trong việc
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ quản lý, lao động kỹ thuật, nhân viên
nghiệp vụ trong doanh nghiệp.
Lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng: Cấp uỷ đề ra chủ trương, biện pháp
xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnh nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, góp phần nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp. Thực hiện đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình, nâng cao chất
lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất
trong nội bộ; thực hiện đúng các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ; chống các
biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng và đạo đức tư cách
của người đảng viên. Giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiền phong gương
mẫu, phấn đấu trở thành người lao động giỏi; tích cực học tập nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân tại nơi cư
trú. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, phát triển đảng viên, bảo đảm
về tiêu chuẩn và quy trình; chú trọng phát triển đảng viên trẻ, thành viên trong
bộ máy quản lý của doanh nghiệp và những cán bộ, đoàn viên công đoàn ưu tú,
Việt Nam suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ
22
quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp
hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, các nghị quyết của Đảng và
pháp luật Nhà nước, có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức
và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật
của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng”[7]
Đất nước phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong
xu thế toàn cầu hóa và chủ động hội nhập quốc tế, là Đảng Cộng sản cầm quyền,
thực hiện chế độ một Đảng lãnh đạo, vì thế phát triển đảng viên mới ở các doanh
nghiệp ngoài nhà nước là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác
xây dựng Đảng ta hiện nay, nhằm tăng cường sức mạnh, năng lực lãnh đạo của
Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Phát triển
đảng viên mới chính là bổ sung cho Đảng nguồn sinh lực mới, bảo đảm cho
Đảng ngày càng phát triển, lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi, đó là nhiệm vụ
của toàn Đảng, của tổ chức cơ sở đảng. Trong giai đoạn hiện nay, khi kết nạp
đảng viên, tổ chức đảng phải tuân thủ theo đúng nguyên tắc của Điều lệ Đảng,
các Quy định thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính
trị, Ban Bí thư, hướng dẫn của Ban tổ chức Trung ương… theo quy trình, thủ tục
công tác phát triển đảng viên, có tính đến đặc thù của tổ chức đảng ở các loại
hình tổ chức đảng. Do đó các tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước
phải coi trọng công tác phát triển đảng viên. Làm tốt công tác phát triển đảng
viên là thiết thực xây dựng tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển đảng viên và đặc thù
của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có
giới thiệu và tiếp tục giáo dục bồi dưỡng người vào đảng trở thành đảng
viên chính thức. Ngoài tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
lực lượng tham gia công tác phát triển đảng còn có có sự tham gia của tổ
chức Công đoàn thuộc phạm vi lãnh đạo của chi bộ mà người vào đảng là
thành viên và ý kiến nhận xét của nhân dân nơi người vào đảng cư trú. Việc
lấy ý kiến nhận xét của các tổ chức này phải làm chu đáo, chặt chẽ, khách
quan, bằng các hình thức phù hợp
24
Quy trình phát triển đảng viên bao gồm các khâu, các bước công tác
khác nhau, diễn ra trong một thời gian, không gian xác định. Từ việc bồi
dưỡng, giáo dục đối tượng cảm tình Đảng; chuẩn bị các điều kiện, hồ sơ của
đối tượng kết nạp Đảng; tổ chức lễ kết nạp đảng viên; tiếp tục bồi dưỡng, giáo
dục, rèn luyện đảng viên sau khi kết nạp, công nhận đảng viên chính thức.
Các bước công tác đó gồm: Cấp uỷ, chi bộ quán triệt và ra nghị quyết
về công tác phát triển đảng viên và quán triệt, phổ biến cho quần chúng. Lãnh
đạo, chỉ đạo các tổ chức quần chúng giới thiệu đại biểu quần chúng ưu tú cho
Đảng. Lựa chọn những quần chúng ưu tú để bồi dưỡng nâng cao giác ngộ về
Đảng. Phân công đảng viên giúp đỡ quần chúng rèn luyện phấn đấu. Hướng
dẫn quần chúng viết đơn và lý lịch. Tổ chức đảng thẩm tra, xác minh lý lịch.
Lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức quần chúng góp ý kiến xem xét, đánh giá quá
trình phấn đấu, rèn luyện của người xin vào Đảng. Chi bộ và đảng viên được
phân công giúp đỡ đánh giá quá trình phấn đấu của người xin vào đảng. Hoàn
thiện những thủ tục cần thiết đề nghị cấp uỷ có thẩm quyền xem xét và ra
quyết định kết nạp đảng viên. Tổ chức lễ kết nạp đảng viên. Giáo dục, quản
lý, rèn luyện đảng viên dự bị chuyển thành đảng viên chính thức.
Thủ tục kết nạp đảng viên theo đúng định của Điều lệ Đảng và hướng
dẫn thi hành Điều lệ Đảng của Ban tổ Chức Trung ương.
mọi cách phá hoại Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cùng
với sự tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường và các tiêu cực
xã hội, công tác phát triển đảng viên mới phải đặc biệt cảnh giác đề phòng
những phần tử cơ hội, phản động chui vào Đảng.
* Những vấn đề có tính nguyên tắc công tác phát triển đảng viên mới
của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh
Để thực hiện phương châm phát triển đảng viên cần nắm vững và thực
hiện những vấn đề có tính nguyên tắc sau đây:
Một là, quán triệt và thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về điều
kiện, các thủ tục kết nạp đảng viên.
Những quy định của Đảng về điều kiện, thủ tục kết nạp đảng viên là
vấn đề then chốt để bảo đảm chất lượng đảng viên mới. Để đáp ứng yêu cầu