Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc tày tại xã hà lang huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang - Pdf 53

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------

BÙI THỊ NGÂN

TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG SỬ DỤNG, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC TÀY TẠI
XÃ HÀ LANG, HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm nghiệp

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2014 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018



Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp "Tri thức bản địa trong sử dụng,
bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Tày tại xã
Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” là công trình nghiên cứu
của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Hồ
Ngọc Sơn. Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được
nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình
bày trong khóa luận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót
gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa
và nhà trường đề ra.
Thái Nguyên, ngày..…tháng…..năm 2018
Xác nhận GV hướng dẫn

TS. HỒ NGỌC SƠN

Người viết cam đoan

BÙI THỊ NGÂN

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp!


ii

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của
mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và
vận dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường. Được sự nhất trí của
Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học

NCCT

Người cung cấp tin

SĐVN

Sách đỏ Việt Nam

TCN

Trước công nguyên

TNR

Tài nguyên rừng

UBND

Ủy ban nhân dân

WHO

Tổ chức Y tế thế giới

WWF

Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới


vi

vii

Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...17
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 17
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 17
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 17
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 18
3.4.1. Phương pháp luận.................................................................................. 18
3.4.2. Phương pháp kế thừa............................................................................. 18
3.4.3. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 18
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 20
3.4.5. So sánh sự khác biệt giữa 2 dân tộc Dao và Tày .................................. 20
3.4.6. Phương pháp nghiên cứu thực vật học .................................................. 21
3.4.7. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ............................................ 22
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 23
4.1. Các loài cây được dân tộc Tày khai thác sử dụng và phát triển để làm
thuốc tại xã Hà Lang ....................................................................................... 23
4.1.1. Danh mục các loài thực vật được người dân khai thác và sử dụng ...... 23
4.1.2. Một số loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng
đồng Dân tộc Tày ............................................................................................ 36
4.2. Tri thức bản địa trong khai thác sử dụng các loài cây thuốc ................... 37
4.2.1. Tri thức bản địa trong việc thu hái các loài cây thuốc .......................... 37
4.2.2. Tri thức bản địa trong việc sử dụng các loài cây thuốc ....................... 37
4.2.3. Phương pháp khai thác các loài cây thuốc ............................................ 38
4.2.4. Tri thức bản địa trong việc sử dụng các bài thuốc dân gian ................. 39
4.3. Các loài cây thuốc cần được ưu tiên bảo tồn ........................................... 47
4.4. So sánh cây thuốc và bài thuốc của dân tộc Tày và dân tộc Dao tại xã Hà
Lang ................................................................................................................. 48
4.4.1. So sánh các bài thuốc của dân tộc Tày và dân tộc Dao tại xã Hà Lang 48


loài tre nứa, 40 loài song mây, 600 loài có tannin, 260 loài cho dầu béo, 160
loài cho tinh dầu, 70 loài cho nhựa thơm và vài trăm loài khác là nhóm cây
lương thực, thực phẩm. Riêng cây thuốc, theo kết quả 20 năm điều tra của
viện Dược liệu công bố năm 1985, ở Việt Nam có 1.863 loài phân bố trong
1.033 chi, 236 họ của 11 ngành thực vật. Con số này đến nay đã được Viện
Dược liệu bổ sung lên hơn 2.000 loài. Võ Văn Chi (1997) đã tập hợp trong bộ
từ điển cây thuốc của mình tới 3.200 loài thực vật bậc cao và bậc thấp được
dùng làm thuốc ở Việt Nam.
Như vậy, mặc dù thống kê chưa đầy đủ, song cũng có cơ sở để khẳng
đình rằng cây làm thuốc chiếm tỉ lệ rất cao so với các nhóm cây có ích khác
trong nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam. Tính phong phú này còn thể
hiện rõ nét ở sự phân bố rộng rãi của cây thuốc. Cây làm thuốc chính là những
loài cây cỏ thường thấy trong vườn nhà, quanh nơi ở cũng nhưng trên các


2
quần thể thực vật hoang dã ở đồi núi, đồng cỏ và đặc biệt trong các quần thể
rừng từ ngàn xưa, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã biết sử dụng nguồn cây
cỏ có sẵn để làm thuốc phòng, chữa bệnh và bảo vệ sực khỏe. Trong suốt
chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nền y học dân tộc đã hình thành và
phát triển thành một nên y học thành văn với kinh nghiệm dùng cây thuốc
trong nhân dân ngày càng phong phú.
Ngày nay, trên thế giới đang có xu thế quan tâm trở lại với việc dùng các
thuốc từ thảo mộc và hợp chất thiên nhiên để phòng chữa bệnh. Ở Việt Nam,
những năm gần đây, nhu cầu dùng thuốc cổ truyền, thuốc từ thảo mộc cũng ngày
càng tăng. Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh việc khai thác và phát triển nguồn dược liệu
trong nước là việc làm cần thiết. Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Hà Lang huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang, trong đó có dân tộc Tày họ có những
bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa
bệnh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quý
báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc Tày. Xuất

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế.
- Tích lũy những kinh nghiệm cho công việc khi đi làm.
- Nâng cao kiến thức thực tế.
- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi
những kinh nghiệm từ thực tế.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Góp phần vào việc quản lí tài nguyên rừng bền vững.
- Phát hiện, bảo tồn và phát triển tiềm năng của thực vật rừng được cộng
đồng dân tộc Tày khai thác và sử dụng làm thuốc.
- Duy trì và phát huy hệ thống kiến thức bản địa về cây thuốc của cộng
đồng dân tộc Tày.


4

Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tự
nhiên xung quanh con người. Tri thức được tích lũy từ những kinh nghiệm
của quá trình lao động sản xuất thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày của con
người, trải qua thời gian dài lịch sử, tri thức được tồn tại và phát triển qua sự
trải nghiệm của nhân dân lao động. Vậy tri thức bản địa là gì? Tri thức bản
địa là những nhận thức, hiểu biết về môi trường sinh sống được hình thành từ
cộng đồng dân cư ở một nơi cứ trú nhất định, trong lịch sử tồn tại và phát
triển của cộng đồng (Nguyễn Thanh Thự , Hồ Đắc Thái Hoàng, 2000). Trước
đây người ta khái niệm lâm sản chủ yếu là gỗ, ít quan tâm đến các thành phần
khác gỗ. Ngày nay, trong các chiến lược phát triển bền vững của các dự án
lâm nghiệp xã hội, nông lâm kết hợp người ta đã chú ý nhiều đến các lâm sản

Triều Tiên, Ấn Độ...) đã chú ý sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh,
đặc biệt phát triển rộng rãi ở các nước phương Đông.
Năm 1968 một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung
Quốc đã xuất bản cuốn sách "Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc".
Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng quát và
có hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học cây Thảo quả (Phan Văn
Thắng, 2002) [18].
Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trần đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó
năm 1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại. Nội dung cuốn sách đã đưa đến
cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh. Ngay từ những
năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các
nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn. Năm 1972 tác giả N.G.
Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc
vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khỏe của con người. Qua


6

cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm
được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Trần
Thị Lan, 2005) [13].
Năm 384 – 322 (TCN), Aristote người Hy Lạp đã ghi chép và lưu trữ
sớm nhất về kiến thức cây cỏ ở nước này. Sau đó, năm 340 (TCN)
Theophraste với tác phẩm “Lịch sử thực vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây
cỏ và công dụng của chúng. Tuy công trình của ông mới chỉ dừng lại ở mức
mô tả, thống kê, song nó mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về
lĩnh vực này (Vũ Văn Chuyên, 1976) [7]. Thầy thuốc người Hy Lạp
Dioscorides năm 60 – 20 (TCN) giới thiệu 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa
bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền mống cho nền y dược học (Vũ
Văn Chuyên, 1976) [7]. Năm 79 – 24 (TCN) nhà tự nhiên học người La Mã

Sajem và Gosai (2006) nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc
của tộc người Jaintia ở Ấn độ [34]. Kết quả cho thấy cộng đồng sử dụng 39
loài thuộc 27 họ và 35 chi. Để trị nhiều loại bệnh, việc sử dụng các bộ phận
của cây trên mặt đất chiếm tỷ lệ cao hơn (76,59%) so với các bộ phận dưới
mặt đất (23,41%). Lá đã được sử dụng trong đa số các trường hợp (23 loài),
tiếp theo là quả (4 loài). Tổng cộng có 30 loại bệnh đã được báo cáo được
chữa khỏi bằng cách sử dụng 39 loài cây thuốc.
Koushalya Nandan Singh (2013) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng
cây thuốc ở phía Tây dãy Himalaya, Ấn độ [25]. Kết quả ghi nhận có 86 loài
thực vật thuộc 69 chi và 34 họ được sử dụng để chữa trị khoảng 70 bệnh khác
nhau. Các loài thực vật được sử dụng trong các bài thuốc thảo dược chủ yếu
thuộc về các họ Asteraceae, Lammiaceae, Gentianaceae, và Polygonaceae.
Hầu hết các loại thuốc được sử dụng dưới dạng bột, một số là nước ép trái
cây và dịch triết. Trong số các bộ phận của cây, lá đã được ghi nhận được sử
dụng phổ biến, tiếp theo là hoa.


8

Rey G. Tantiado (2012) nghiên cứu tài nguyên cây thuốc bản địa tại
Iloilo, Philippines [32]. Kết quả thống kê cho thấy có 101 loài cây thuộc 92
chi và 44 họ. Bộ phận sử dụng, có 59% số loài dùng lá, 13% số loài dùng quả,
10% số loài dùng thân, 7% số loài dùng rễ, 5% số loài dùng hoa, 4% số loài
dùng cả cây và 2% số loài dùng hạt.
Gidey Yirga (2010) điều tra tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại phía
Bắc Ethiopia [23]. Kết quả thống kê có 16 loài cây được sử dụng để trị các
bệnh cho người. Phần lớn các loài cây (68,75 %) cây hoang dại và gây trồng
được sử dụng lá.
Mahwasane và cs. (2013) điều tra thi thức bản địa sử dụng cây thuốc
của các thầy lang tại khu vực Lwamondo, tỉnh Limpopo, Nam Phi [26]. Kết

tiêu...Điều đó nói lên những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân
tộc. Thế kỷ II (TCN), hàng trăm loại thuốc đã được phát hiện như: sắn dây,
khoai lang, mơ, quýt...và trong thời kỳ Bắc thuộc, nhiều vị thuốc của ta đã được
xuất sang Trung Quốc (Vũ Văn Chuyên, 1976) [7].
Dưới triều vua nhà Lý (1010 - 1244) có nhiều lương y nổi tiếng, trong
đó có nhà sư Minh Không (Nguyễn Chí Thành) ở chùa Giao Thủy đã có công
chữa bệnh cho Lý Thần Tông. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông
(Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Vũ Văn Chuyên, 1976) [7].
Dưới triều Trần (1244 - 1399), đã có kế hoạch tự túc thuốc Nam để kháng
chiến. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc ở Vạn An và Dược Sơn (Hải
Dương) để cung cấp cho quân y (Lê Trần Đức, 1970) [8]. Thế kỷ XVIII, Hải
Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã thừa kế dược học của Tuệ
Tĩnh chép vào tâp “Lĩnh Nam bản thảo”, nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của
“Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm hơn 300 vị thuốc nữa. Tư liệu vĩ đại
nhất của ông là bộ sách “Hải thượng y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển viết về lý
luận cơ bản, phương pháp chuẩn đoán, trị bệnh (Lê Trần Đức, 1970) [8].
Ngoài bộ sách trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm” của Nguyễn
Nho và Ngô Văn Tình gồm 8 tập, xuất bản năm 1763. Tập “Nam bang thảo


10

mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản năm
1858 [1]. Triều Tây Sơn (1788 - 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam
dược” với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền [6].
Triều Nguyễn (1802 - 1845) có quyển “Nam dược tập nghiệm quốc âm” của
Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian [6]. Sau cách mạng tháng 8
– 1945, y dược học cổ truyền đạt được những thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh
đạo của Bộ Y tế cùng y học hiện đại, sức khỏe của người dân được quan tâm
và chăm lo chu đáo hơn [6]. Sau khi nước nhà thống nhất (năm 1975), việc

Mường với điều kiện sống và nơi ở của họ. Công trình nghiên cứu của
Nguyễn Nghĩa Thìn và cs. (2001) về vấn đề Thực vật học dân tộc: Cây thuốc
của đồng bào Thái ở Con Cuông – Nghệ An. Trong đó các tác giả đã đánh giá
tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc, vấn đề sử dụng cây thuốc và đặc
biệt là đánh giá tính hiệu quả của cây thuốc mà đồng bào dân tộc Thái sử
dụng [17]. Năm 2003, Trần Văn Ơn trong luận án Tiến sĩ dược học “Góp
phần nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì”, ông đã điều tra
được 503 loài cây thuốc được người Dao sử dụng thuộc 321 chi, 118 họ của 5
ngành thực vật [14].
Theo nguồn thông tin “Viện Dược liệu (2004)” [22] thì Việt Nam có
đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và
nấm) có công dụng làm thuốc. Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc
mọc tự nhiên. Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến
thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên
cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ, trong đó có cộng đồng dân tộc Tày ở
xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Những năm qua, chỉ riêng
ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá
lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ
truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng
200 loài cây. Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô
(Viện Dược Liệu, 2002) [20].
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả, huyên
Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây


12

thuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây
thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây. Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật
rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu

của một số lớn các cây thuốc. Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây
giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây
thuốc tại địa phương đều giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là
việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp, đề xuất hợp lý để bảo tồn và
phát triển (Ngô Quý Công, 2005) [4].
Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác, sử
dụng về tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng
đệm. Qua điều tra họ thống kê được tại đây có 459 loài cây thuốc thuộc 346 chi
và 119 họ trong 4 ngành thực vật. Người dân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là
cộng đồng dân tộc Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác
nhau. Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên. Mỗi năm
có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để
buôn bán. Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so
với 5 năm trước đây. Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài
cây thuốc cần được ưu tiên và bảo tồn (Đỗ Hoàng Sơn, 2008) [15].
Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây
thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng
và kinh tế. Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã
phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả
Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc. Trong số đó trên 90% tổng số loài là cây
thuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng (Nguyễn Văn Tập, 2006) [16].
Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú
nhưng vì ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều
thành phần dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến
thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú,
mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng
khác nhau. Nên hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm
sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có



năm toàn tỉnh từ 220-240C, cao nhất trung bình từ 330-350 C, thấp nhất
trung bình từ 12-130C.


15

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500mm - 1.800mm, khá ổn định.
Độ ẩm bình quân hàng năm là 85%, rất thích hợp với cây rừng nhiệt đới, xanh
tốt quanh năm.
Do địa hình bị chia cắt, Hà Lang có 2 tiểu khu khí hậu rõ rệt, cho phép
phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp đa dạng. Hệ thống sông suối khá dầy và
phân bố tương đối đều giữa các vùng (UBND xã Hà Lang, 2017) [19].
2.3.4. Địa chất, thổ nhưỡng
Đất đai của xã gồm một số loại chính như sau:
- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất;
- Đất đỏ vàng trên đá Macma axít (Fa);
- Đất vàng đỏ trên đá biến chất (Hs);
- Đất phù sa ven suối (Py);
- Đất thung lũng dốc tụ (D);
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ;
- Đất mùn vàng nhạt trên đá cát;
- Đất nâu đỏ trên đá vôi;
- Đất phù sa không được bồi hàng năm;
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước;
- Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma axít;
- Đất phù sa được bồi hàng năm;
2.3.5. Tài nguyên rừng
Đất lâm nghiệp 7.016,95 gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất (UBND
xã Hà Lang, 2017) [19].
2.3.6. Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status