tiểu luận Xây dựng giai cấp nông dân giàu kinh nghiệm, có khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại và đội ngũ các nghệ nhân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn hiện nay - Pdf 53

MỤC LỤC

Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, để
bảo đảm sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước
luôn đặt vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện nước ta, nhiều chủ trương,
đường lối đúng đắn của Đảng ra đời, góp phần giải phóng sức lao động của các tầng
lớp nhân dân nói chung, giai cấp nông dân nói riêng, tạo đà tăng trưởng kinh tế và ổn
định chính trị - xã hội. Bước đột phá cho sự nghiệp đổi mới nói chung và sản xuất
nông nghiệp nói riêng là đường lối đổi mới của Đại hội VI, và tiếp theo là “Nghị
quyết 10” trong nông nghiệp. Các chỉ thị, nghị quyết của các đại hội và hội nghị
Trung ương Đảng khoá VII, VIII, IX, X, XI sau này cũng luôn tập trung giải quyết
những vấn đề then chốt trong nông nghiệp. Dưới tác động của những chính sách đó,
nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, góp phần quan
trọng đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị,
tạo tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH) – hiện đại hóa (HĐH) đất nước.
Dù cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch nhưng giai cấp nông dân nước ta hiện
vẫn chiếm gần 73% dân số và 56% lực lượng lao động cả nước. Trong bối cảnh hiện
nay, ít quốc gia có lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đông đảo như vậy.
Nếu giải quyết tốt ba vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn thì kinh tế nông
nghiệp và xã hội nông thôn sẽ đóng góp to lớn cho tiến trình CNH. Việc tìm cách
phát huy vai trò của nông dân cũng chính là tìm ra biện pháp để thúc đẩy sự phát triển
kinh tế nông nghiệp, thực hiện CNH, giải quyết vấn đề xã hội, hướng tới sự phát triển
bền vững mà các quốc gia hiện nay đều rất quan tâm, đặc biệt là Việt Nam. Vì vậy,
việc nghiên cứu để tìm ra phương hướng, giải pháp để xây dựng đội ngũ nông dân
giàu kinh nghiệm, có khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện


đại và đội ngũ các nghệ nhân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn
hiện nay là một việc cấp bách và cần thiết.
Là một sinh viên chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, thì việc nghiên cứu



không tin bất cứ một lời nói nào, bất cứ một cương lĩnh nào… Nông dân chỉ tin vào
hành động, vào kinh nghiệm thực tiễn”[6; tr.443]
Lenin đã chỉ rõ rằng, tầng lớp này thường nghiêng ngả giữa vô sản và bọn
culắc. Một số ít trung nông nhờ may mắn có thể trở thành culắc, bởi vậy họ nghiêng
về phía culắc, nhưng phần lớn thì không thể trở thành culắc được. Do vậy, nếu những
người xã hội chủ nghĩa và những người cộng sản biết cách tuyên truyền, giáo dục nói
điều hơn lẽ thiệt với trung nông, thì sẽ thuyết phục được họ, làm cho họ thấy rằng
chính quyền Xô viết có lợi cho họ hơn bất cứ chính quyền nào khác, vì mọi chính
quyền khác đều áp bức và bóc lột họ. Chính vì đặc điểm đó của nông dân mà Lenin
yêu cầu những người cộng sản, bất luận thế nào, cũng không thể dùng bạo lực để ép
nông dân đi theo mình, mà phải cương quyết xây dựng mối quan hệ hoà thuận với họ.
Thứ ba, cùng với sự phát triển của cơ cấu kinh tế thì cơ cấu giai cấp nông dân
luôn có sự biến đổi mạnh mẽ.
Trước cách mạng xã hội chủ nghĩa, do sự tác động của cơ chế kinh tế hàng hoá
và nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ cấu giai cấp nông dân Nga có sự biến đổi mạnh
mẽ. Một phần trong số họ gia nhập vào giai cấp bóc lột ở nông thôn, một phần lớn trở
thành những người lao động làm thuê. Điển hình trong đó là tầng lớp trung nông.
Tầng lớp này có thể do điều kiện vốn có của mình mà phát triển trở thành những
người bóc lột sức lao động của người khác, nhưng cũng có không ít trung nông không
chịu nổi sự cạnh tranh, bị phá sản và phải tham gia vào đội quân lao động làm thuê.
Cách mạng vô sản thành công đã xoá bỏ sự áp bức, bóc lột giai cấp, xoá bỏ sự thống
trị của bọn địa chủ đối với giai cấp nông dân, nhưng cũng chính điều kiện đó lại giúp
cho người nông dân thiết lập cơ sở để trở thành tiểu chủ. Lenin viết: “Những điều
kiện sinh hoạt kinh tế và chính trị của họ đã không làm cho họ gần nhau, mà lại còn
làm cho họ xa nhau, rời nhau, biến họ thành hàng triệu người tiểu sở hữu riêng lẻ” .
[7; tr.161]



lao động khác thực hiện công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới.
Từ thực tiễn cách mạng thế giới, thực tiễn cách mạng dân chủ tư sản và công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết. Lenin đã đề cập nhiều đến vai
trò của giai cấp nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Một là, Leninđã khẳng định vai trò quan trọng của giai cấp nông dân trong
đấu tranh giành chính quyền nhà nước.
Trong hoàn cảnh nước Nga cuối thế kỷ XIX đấu tranh chống chế độ Nga
hoàng, Lenin chỉ rõ một trong những điều kiện để giai cấp công nhân giữ vững được
vai trò lãnh đạo và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là giai cấp công nhân phải
được sự ủng hộ của nông dân. Chỉ có sức mạnh của sự liên minh giai cấp giữa giai
cấp công nhân và giai cấp nông dân, giai cấp công nhân mới có cơ sở để thực hiện
thắng lợi cuộc đấu tranh cách mạng nhằm lật đổ giai cấp tư sản thống trị và các thế
lực phản động khác, giành lấy chính quyền về tay giai cấp công nhân và các tầng lớp
nhân dân lao động.
Trong thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản, mục tiêu chính đề ra là lật đổ chế độ
chuyên chế Nga hoàng, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân. Lenin nhận
thức rõ các phong trào nông dân đấu tranh đòi dân chủ cũng có tác động lớn tới
phong trào đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội của công nhân, vì cuộc khởi nghĩa của
nông dân thành công, cuộc cách mạng dân chủ thắng lợi sẽ dọn đường cho một cuộc


đấu tranh thực sự và kiên quyết cho chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở chế độ cộng hoà dân
chủ. Do đó, để giành thắng lợi triệt để cho cuộc cách mạng đó và tiến nhanh sang giai
đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân sẽ phải dốc toàn lực nhằm xây
dựng khối liên minh công - nông, giúp đỡ toàn thể giai cấp nông dân làm cách mạng
dân chủ. Đó là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó một cách tự nhiên giữa hai giai cấp này.
Mối quan hệ này được xây dựng trên nền tảng vốn có là những lợi ích trước mắt và
lâu dài cả về chính trị lẫn kinh tế của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân - một
lực lượng đông đảo nhất trong xã hội. Nhấn mạnh vai trò của giai cấp nông dân cũng
như của liên minh công nông trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới ở nước

Cách mạng thành công, chính quyền non trẻ mới ra đời đã gặp phải sự chống
đối quyết liệt của các lực lượng phản động trong và ngoài nước. Chính vì vậy, vấn đề
bảo vệ và củng cố chính quyền được đặt lên hàng đầu. Và giai cấp công nhân phải
làm thế nào để đạt được mục tiêu đó? Về điều này, như Lenin đã khẳng định, “chỉ
nhờ có sự ủng hộ hết sức thành thực của đa số nhân dân lao động, chính quyền đó
mới có thể đứng vững được” [6;tr:75]
Ba là, nông dân cung cấp sản phẩm nông nghiệp để đảm bảo nhu cầu của xã
hội, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời góp phần khôi phục và phát triển nền đại
công nghiệp, tạo cơ sở vững chắc để giai cấp công nhân từng bước xây dựng và phát
triển nền kinh tế mới cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Việc nông dân tích cực sản xuất nhằm cung cấp lương thực cũng như những
sản phẩm nông nghiệp khác sẽ giúp đưa nền kinh tế nước Nga ra khỏi sự khủng
hoảng do tình trạng thiếu lương thực xảy ra triền miên sau cách mạng. Theo Lenin,
Đảng phải thuyết phục để công nhân và nông dân thấy rằng, nếu không có sự hợp lực


mới, không có các hình thức đoàn kết mới trong nội bộ nhà nước thì sẽ không thoát ra
khỏi tình trạng phá sản về kinh tế.
Phân tích mối quan hệ giữa công nghiệp với nông nghiệp, Lenin đã chỉ ra cơ sở
thực sự và duy nhất để làm tăng các nguồn dự trữ, để xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ
có thể là đại công nghiệp; bởi lẽ, không có công xưởng lớn với quy mô như chủ nghĩa
tư bản đã tạo ra, không có một nền đại công nghiệp được tổ chức cao, thì không thể
nói đến chủ nghĩa xã hội nói chung, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội ở một
nước nông nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, ông cũng chỉ rõ, nếu không có dự trữ lương
thực đầy đủ và thực sự đảm bảo thì nhà nước hoàn toàn không thể tập trung chú ý để
tiến hành có hệ thống công tác khôi phục đại công nghiệp dù là trên một quy mô nhỏ
bé. Ngay sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Lenin thẳng thắn chỉ ra
rằng, những người cộng sản phải tự coi là mắc nợ nông dân và phải trả “món nợ” đó
bằng cách khôi phục nền công nghiệp.
Trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực”,Lenin đã khẳng định dứt khoát rằng,

họ giữ vai trò hết sức quan trọng trong sự sáng tạo - truyền bá các giá trị văn hóa
truyền thống
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm và
nhận thức sâu sắc nông nghiệp, nông dân và nông thôn về lý luận cũng như thực tiễn
dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, đây cũng là vấn đề được Hồ
Chí Minh vận dụng thành công trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Cách nhìn nhận,
đánh giá về nông dân của Hồ Chí Minh hết sức sâu sắc, tinh tế. Người không dừng lại
ở thái độ chính trị mà còn nghiên cứu tâm lý, bản chất, tập quán người nông dân làm
nông nghiệp trong cộng đồng nông thôn.


Về chính trị, nông dân là cơ sở chính của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong
kháng chiến; sau độc lập, liên minh công - nông - trí thức là nền tảng của chính
quyền, là công cụ sắc bén trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ mới. Về mặt
kinh tế - xã hội, phải coi nông nghiệp và công nghiệp như hai chân của nền kinh tế.
Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước nông nghiệp... Muốn phát triển công
nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm
chính. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công
nghiệp”[11; tr:180]
Trên tinh thần đó, Người đã tìm ra quyết sách chiến lược đúng đắn, chỉ đạo sản
xuất thắng lợi, khôi phục và phát triển kinh tế, bắt đầu từ nông nghiệp. Nhìn lại nạn
đói 1945 và sự hồi phục sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc (1955 - 1960), có hơn
80% số hộ nông dân có mức sống ngang bằng tầng lớp trung nông, đời sống cư dân
nông thôn được ổn định, tác động tích cực đến hoạt động kinh tế ở thành thị. Có thể
khẳng định, trong 10 năm (1955 - 1965) đánh dấu mốc quan trọng về thành tựu kinh
tế - xã hội ở nông thôn miền Bắc. [13]
Giai cấp nông dân là một lực lượng có vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Lịch sử 80 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã khẳng định những đóng góp to lớn của nông dân đối với sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

giai cấp nông dân đã gia nhập Đảng, gánh vác nhiệm vụ trọng đại của dân tộc. Hiện
tượng đặc thù này vào những thập niên đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã nói lên tính
chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối cứu nước đúng
đắn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tài tổ chức và giáo dục nông dân của Đảng, đồng
thời biểu hiện sự trưởng thành của giai cấp nông dân Việt Nam về mặt giác ngộ dân


tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là nguồn sức mạnh cơ bản làm nên những thắng lợi vẻ
vang của cách mạng nước ta từ khi có Đảng.
Báo cáo trước Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II,
ngày 25-1-1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nền tảng của vấn đề dân tộc
là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc. Nền tảng của cách
mạng dân chủ cũng là vấn đề nông dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đông
nhất chống phong kiến, chống đế quốc. Hoàn cảnh nước ta hiện nay, bên địch thì giặc
Pháp dựa vào địa chủ phong kiến phản động do bù nhìn Bảo Đại đứng đầu để phá
hoại kháng chiến, bên ta thì bộ đội, sản xuất lương thực, đi dân công nhiều hơn hết là
nông dân. Mấy năm trước, vì hoàn cảnh đặc biệt mà ta chỉ thi hành giảm tô, giảm tức,
như thế là đúng. Nhưng ngày nay, kháng chiến đã 7 năm, đồng bào nông dân hy sinh
cho Tổ quốc, đóng góp cho kháng chiến đã nhiều và vẫn sẵn sàng hy sinh, đóng góp
nữa. Song họ vẫn là lớp người nghèo khổ hơn hết, vì thiếu ruộng hoặc không có
ruộng cày. Đó là một điều rất không hợp lý. Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi,
dân chủ nhân dân thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và
chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân”[10; tr:15-16]
Từ cuối năm 1954, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội và nhất là sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước bước vào giai đoạn
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc
hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường mới mẻ chưa có tiền lệ trong lịch
sử. Muốn hoàn thành nhiệm vụ lịch sử đó, Đảng phải biết phát huy những nhân tố
quyết định nhất cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó
vấn đề nông dân có tầm quan trọng đặc biệt.

công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đây là quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và bộ mặt


kinh tế - xã hội nông thôn, biến lao động thủ công thành lao động cơ giới, đưa sản
xuất nhỏ lên thành sản xuất lớn hàng hoá, là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng các hoạt động sản xuất phi nông
nghiệp nhằm khai thác mọi tiềm năng tạo ra năng suất lao động, hiệu quả kinh tế - xã
hội cao trong nông nghiệp, từ đó biến đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn tiến gần
với thành thị: “Có chính sách khuyến khích và trợ giúp nông dân trong xây dựng kết
cấu hạ tầng, chuyển giao công nghệ, giải quyết các khó khăn về vốn, về giá cả vật tư
nông nghiệp và hàng nông sản, về thị trường tiêu thụ sản phẩm…”[4; tr: 87-88]
CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn là sự nghiệp của toàn Đảng, trong đó lực lượng
cơ bản là nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn thành công, cần phải thực hiện hàng loạt các biện
pháp về kinh tế - kỹ thuật; tạo ra sự chuyển biến mới thực sự trong tư duy của người
nông dân và những người sống ở nông thôn; những biện pháp về năng suất lao động
và đất đai để tạo ra lượng hàng hoá nông sản lớn, bảo đảm chất lượng, mẫu mã, giá
thành… mà thị trường trong nước và thế giới có thể chấp nhận được.Nhìn lại lịch sử
80 năm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta có thể khẳng định rằng nắm
vững và giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng của từng
giai đoạn lịch sử nhất định là một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên
những thắng lợi của cách mạng Việt Nam.


CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NÔNG DÂN VÀ ĐỘI NGŨ CÁC NGHỆ
NHÂN, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Thực trạng đội ngũ nông dân và đội ngũ các nghệ nhân Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thành tựu

ban hành Quyết định 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 về việc Hội Nông dân Việt Nam
trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011- 2020; Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày
27/01/2009 về việc phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020; Quyết định 1045/QĐ- TTg, ngày 7/7/2010 về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2015; Quyết định số
81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 về việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, Ủy ban
nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân.
Những chủ trương, chính sách đó đã đi nhanh vào cuộc sống, động viên đông
đảo cán bộ, hội viên, nông dân quyết tâm thực hiện các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, có được cơ chế, chính sách,
nguồn lực, là công cụ, điều kiện để các cấp Hội trực tiếp tham gia các hoạt động dịch
vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân, tạo nguồn lực giúp đỡ hội viên, nông dân
phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập; góp phần đảm bảo an
sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên,
nông dân; thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


2.1.2 Hạn chế
Một là,trình độ sản xuất, quản lý của người nông dân chưa đáp ứng kịp theo
yêu cầu của sản xuất hàng hóa.
Vốn đầu tư xã hội vào nông nghiệp, nông thôn nhất là khu vực sản xuất, kinh
doanh còn thấp so với nhu cầu, nông dân thiếu và khó tiếp cận vốn, thiếu kiến thức về
khoa học kỹ thuật và thị trường để đầu tư phục vụ sản xuất hàng hóa tập trung. Tổ
chức sản xuất phân tán, manh mún, quy mô nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ cao, hiệu quả thấp; sản
xuất mang tính tự phát, chưa có sự phối hợp, hướng dẫn chung về định hướng và quy
hoạch vùng sản xuất cho từng loại sản phẩm. Trình độ sản xuất, quản lý của người
nông dân chưa đáp ứng kịp theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa. Tiềm lực sản xuất,

nông dân bỏ ruộng, bỏ chăn nuôi, thậm trí chăn nuôi còn bỏ đói, cầm chừng để đi làm
việc khác có thu nhập cao hơn còn diễn ra ở một số nơi. Nông dân ở một số nơi bị thu
hồi đất và tái định cư chưa có việc làm ổn định, nơi ở mới chưa bằng nơi ở cũ; đời
sống còn gặp nhiều khó khăn nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa...

Tỷ lệ hộ nghèo phân theo thành thị và nông thôn giai đoạn 2010 – 2015 (Đ.vị %)
2010
2012
2013
2014
2015
Cả nước
14.2
11.1
9.8
8.4
7
Thành thị
6.9
4.3
3.7
3
2.5
Nông thôn
17.4
14.1
12.7
10.8
9.2
Nguồn: Tổng Cục thống kê – Niên giám thống kê 2015, Nxb Thống kê 2015, tr 787

Đến năm 2015 - Bước đầu phát triển các công nghệ cao thuộc Danh mục công
nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và các công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp
để tạo ra và đưa vào sản xuất được 1 - 2 giống mới cho mỗi loại cây trồng nông lâm
nghiệp, vật nuôi và thuỷ sản chủ yếu, có năng suất cao, chất lượng tốt, khả 2 năng
chống chịu vượt trội; 2 - 3 quy trình công nghệ tiên tiến trong từng lĩnh vực; 2 - 3 loại
chế phẩm sinh học; 2 - 3 loại thức ăn chăn nuôi; 1 - 2 bộ kít; 1 - 2 loại vắc-xin; 1 - 2
loại vật tư, máy móc, thiết bị mới phục vụ sản xuất nông nghiệp.


Từng bước ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến để sản xuất một số
sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao và an toàn; đưa
tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm khoảng 15%
tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của cả nước.
Hình thành và phát triển ít nhất 80 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao tại các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm; xây dựng 3 - 5 khu nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao tại một số vùng sinh thái nông nghiệp và 1 - 2 vùng nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao tại mỗi tỉnh vùng kinh tế trọng điểm.
Giai đoạn 2016 - 2020 - Đẩy mạnh phát triển các công nghệ cao thuộc Danh
mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và các công nghệ tiên tiến trong
nông nghiệp để tạo ra và đưa vào sản xuất được 2 - 3 giống mới cho mỗi loại cây
trồng nông lâm nghiệp, vật nuôi và thuỷ sản chủ yếu, có năng suất cao, chất lượng
tốt, khả năng chống chịu vượt trội; 3 - 4 quy trình công nghệ tiên tiến trong từng lĩnh
vực; 3 - 4 loại chế phẩm sinh học, 3 - 4 loại thức ăn chăn nuôi, 2 - 3 bộ kít, 2 - 3 loại
vắc-xin, 2 - 3 loại vật tư, máy móc, thiết bị mới phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến để sản xuất các sản
phẩm nông nghiệp có năng suất cao, chất lượng tốt, an toàn và có sức cạnh tranh cao;
đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm khoảng 35%
tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của cả nước.
Hình thành và phát triển khoảng 200 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao tại các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm; xây dựng thêm 1 - 2 khu nông nghiệp

46.846 35.537 36.391 41.812
Xây dựng
23.659 36.151 31.155 32.492 33.450
Dịch vụ ăn uống – lưu trú
6.423
6.541
3.408
4.159
4.181
Nguồn: Tổng cục Thống kê – tại />Năm 2017, Chính phủ đã có Nghị quyết về phát triển nông nghiệp công nghệ
cao; chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước triển khai trong hệ thống ngân hàng thương mại
gói tín dụng ưu đãi 100.000 tỷ đồng cho nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp
sạch. Nhiều địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã đã chọn nông nghiệp công nghệ
cao, nông nghiệp hữu cơ làm hướng đi chính để tập trung đầu tư.


Đến năm 2017, các đơn vị đã giới thiệu chuyển giao vào sản xuất được 105
công nghệ; xây dựng được 85 mô hình ứng dụng khoa học vào sản xuất và 50 mô
hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu
thụ; đào tạo được 500 cán bộ kỹ thuật địa phương và 5.500 lượt nông dân...Đến nay,
Thủ tướng đã quy hoạch 22 khu nông nghiệp công nghệ cao. Bộ Nông nghiệp đã
công nhận 35 doanh nghiệp và các địa phương công nhận ba vùng nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao.[16]
2.2.2Đào tạo nghề và tác phong công nghiệp cho nông dân và nghệ nhân
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã
hội và quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch
mạnh mẽ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều hộ nông nghiệp bị mất đất sản xuất, phải
tìm cách chuyển đổi lao động sang lĩnh vực phi nông nghiệp nên rất cần được hưởng
chính sách ưu đãi về đào tạo nghề. Bên cạnh đó, chất lượng lao động ở nông thôn
nước ta còn quá thấp. Chất lượng lao động nông thôn thấp đã làm cho thu nhập của


38.0

39.2

Nông thôn

10.7

11.9

12.0

13.5

13.9

Nguồn: Tổng cục Thống kê tại />Như vậy, tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động ở nông thôn còn thấp hơn so với
thành phố khá lớn, trung bình khoảng 3 lần. Vì vậy, cần thiết phải tập trung đào tạo
nghề, cũng như tác phong công nghiệp cho người nông dân. Và để các hoạt động đào
tạo nghề cho nông dân và lao động nông thôn thực sự hiệu quả, tạo được sự đồng
thuận cao của người dân, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, phải có sự “vào cuộc” mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị ở địa
phương. Nhận thức đúng về đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông thôn là cơ
hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho địa phương, nâng cao chất lượng,
năng suất lao động; góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp
Việt Nam trên thị trường quốc tế. Thực tế thời gian vừa qua cho thấy, ở địa phương
nào có sự quan tâm của cấp uỷ đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền và sự
tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội… thì ở đó công tác dạy nghề cho
nông dân và lao động nông thôn đạt được kết quả mong muốn.

2.2.3 Từ nông dân, nghệ nhân thành công nhân nông nghiệp, nghệ nhân công
nghiệp
Theo Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng
Chính phủ [14] về chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, có
một trong những nhiệm vụ nhằm biến người nông dân thành những công nhân nông
nghiệp, thậm chí là những nhà doanh nhân nông nghiệp, tiêu biểu ở một số nhiệm vụ
sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status