1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước, đó sự là tăng trưởng kinh tế và
những mục tiêu phát triển xã hội mà chính phủ đặt ra, nhu cầu về giao thông
cũng đang đựơc gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Các loại phương tiện
giao thông ở đường bộ, đường không, đường thuỷ. . . phát triển không ngừng
đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân. Chính vì vậy mà vào thời điểm này tai nạn
giao thông và những bức xúc về giao thông lại đang gây những sức ép nặng nề
lên xã hội. Thống kê cho thấy hơn 90% số vụ tai nạn có nguyên nhân là người
điều khiển phương tiện vi phạm luật giao thông.
Hằng ngày chúng ta vẫn thường gặp tình trạng vi phạm an toàn giao thông
trên các tuyến đường giao thông của các địa phương trong tỉnh như: học sinh đi
xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm, dùng ô dù khi điều khiển xe đạp, đi xe dàn
hàng ngang,... Bên cạnh đó là tình trạng khi tan trường, học sinh “tụm năm, tụm
ba”, dừng đỗ xe dưới lòng đường; tình trạng học sinh ngang nhiên điều khiển xe
máy đến trường vẫn xảy ra thường xuyên. Một số em còn tụ tập thành nhóm đi
tốc độ cao, đùa nghịch. Việc học sinh sử dụng xe gắn máy khi chưa đủ tuổi là
vấn đề rất đáng lưu tâm, bởi thực tế không ít vụ tai nạn giao thông xảy ra, trong
đó người gây tai nạn và nạn nhân thuộc nhóm đối tượng này.
Để giải quyết vấn đề an toàn giao thông quốc gia thì giáo dục an toàn giao
thông ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là công tác đang được ngành
giáo dục coi trọng. Từ đó sẽ sớm hình thành cho các em có ý thức hơn khi tham
gia giao thông, góp phần hình thành văn hóa giao thông.
Với mục đích nâng cao hiểu biết về các quy định đảm bảo an toàn giao
thông, hằng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đều ban hành nhiều văn
bản chỉ đạo Sở GD&ĐT các địa phương triển khai lồng ghép, tích ứng việc giáo
dục an toàn giao thông trong các môn học, các giờ ngoại khóa. Ngay từ đầu năm
2014, Bộ GD&ĐT đã có Kế hoạch số 19/KH-BGDĐT về việc thực hiện công
tác giáo dục an toàn giao thông trong trường học, với mục đích nâng cao chất
lượng và hiệu quả công tác giáo dục an toàn giao thông trong các cơ sở giáo dục,
thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ và giải pháp của ngành giáo dục được giao tại
1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi áp dụng
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Pháp luật về an toàn giao thông ở Việt Nam, đặc biệt là luật giao thông
đường bộ, đường sắt, đường thủy...
- Thực trạng về vấn đề an toàn giao thông trên phạm vi cả nước, trong lứa
tuổi thanh - thiếu niên, đặc biệt là thực trạng an toàn giao thông trên địa bàn xã
Phượng Nghi - huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hóa.
- Thực trạng về phát triển ngành giao thông vận tải ở Việt Nam.
- Ý thức về vấn đề an toàn giao thông của đại bộ phận dân cư Việt Nam, độ
tuổi thanh - thiếu niên, ý thức về vấn đề an toàn giao thông của học sinh tại
trường THCS & THPT Như Thanh. Từ đó đề ra một số biện pháp giáo dục an
toàn giao thông cho học sinh lớp 10 thông qua hoạt động dạy - học môn Địa lí ở
trường THCS&THPT Như Thanh.
1.3.2. Phạm vi áp dụng
Đề tài này đã được áp dụng cho học sinh lớp 10C4 của năm học 20162017 và 10A1 năm học 2017- 2018, Trường THCS&THPT Như Thanh. Và có
thể áp dụng đối với học sinh lớp 10 của các khóa học sau, học các khối khác
trong trường.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp chính: Quan sát nắm tình hình thực tế ở địa phương;
khảo sát điều tra lấy thông tin cụ thể tại đơn vị; phân tích các giải pháp; tổng
hợp - so sánh đánh giá kết quả để rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra đề xuất
giúp công tác giáo dục an toàn giao thông cho học sinh đạt hiệu quả cao hơn.
- Nghiên cứu Luật an toàn giao thông Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng,
Luật Giáo dục, Điều lệ trường trung học, Hướng dẫn thực hiện chương trình
giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD&ĐT Thanh Hóa, Trường
THCS&THPT Như Thanh.
2
- Nghiên cứu nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2011 của
qua các giờ học trên lớp, nhà trường còn có nhiệm vụ giúp các em bổ sung và
hoàn thiện những tri thức ấy, tạo điều kiện cho các em làm quen với các lĩnh vực
khác nhau trong đời sống xã hội, giúp các em có cơ hội liên hệ các kiến thức đã
học với thực tế cuộc sống trong cộng đồng cũng như tổ chức các hoạt động
trong nhà trường và ngoài xã hội. Từ đó hình thành cho các em thái độ đúng
đắn, các hành vi và thói quen tốt, các kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các
mối quan hệ xã hội về chính trị, đạo đức, pháp luật…
Tổ chức giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường phổ thông có hiệu
quả sẽ góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu chung đảm bảo trật tự an
toàn giao thông của toàn xã hội.
3
Giáo dục an toàn giao thông là một nội dung giáo dục được thực hiện ở các
nhà trường nói chung và nhà trường phổ thông nói riêng trong thời kì đất nước
mở cửa hội nhập và phát triển. Giáo dục an toàn giao thông nhằm giáo dục cho
học sinh một số nội dung về Luật giao thông đường bộ, giáo dục kĩ năng sống
để học sinh rèn luyện ý thức chấp hành Pháp luật mà cụ thể là Luật giao thông
đường bộ.
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
- Đặc điểm chung của địa phương
Trường THCS&THPT Như Thanh đóng trên địa bàn xã Phượng Nghi, một
xã 135 nằm cách xa trung tâm huyện Như Thanh. Vùng tuyển sinh gồm 5 xã
phía Bắc của huyện. Điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin, văn
hoá, chính trị - xã hội... còn rất nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất thiếu thốn, không
đồng bộ, lạc hậu... so với các khu vực khác trong tỉnh. Đặc biệt là trình độ dân
trí còn thấp, đại đa số làm nghề nông nên có rất nhiều hạn chế trong nhận thức
và phương pháp giáo dục trẻ và sự học.
- Đặc điểm nhà trường
an toàn giao thông chưa cao. Nguyên nhân một phần là do giáo viên chưa nhận
thức đầy đủ về vai trò của việc lồng ghép nội dung giáo dục an toàn giao thông,
do thời gian một tiết học có hạn, trong khi đó dung lượng kiến thức của một bài
học quá dài nên việc lồng ghép khó khăn, dẫn đến việc lồng ghép vội vàng qua
loa.
- Về phía học sinh:
Chưa ham học môn Địa lí, việc vận dụng hiệu quả kiến thức Địa lí vào
cuộc sống hàng ngày còn nhiều bất cập.
Các em gặp nhiều khó khăn trong việc rèn luyện kĩ năng thực hiện Luật an
toàn giao thông, dẫn đến tình trạng vi phạm các quy định về quy tắc giao thông,
Luật giao thông diễn ra khá phổ biến như: học sinh đi xe đạp điện không đội mũ
bảo hiểm, dùng ô, dù khi điều khiển xe đạp, đi xe dàn hàng ngang,... Bên cạnh
đó là tình trạng khi tan trường, học sinh “tụm năm, tụm ba”; tình trạng học sinh
ngang nhiên điều khiển xe máy đến trường vẫn xảy ra thường xuyên. Một số em
còn tụ tập thành nhóm đi tốc độ cao, đùa nghịch trên đường. Việc học sinh sử
dụng xe gắn máy khi chưa đủ tuổi là vấn đề rất đáng lưu tâm, bởi thực tế không
ít vụ tai nạn giao thông xảy ra, trong đó người gây tai nạn và nạn nhân thuộc
nhóm đối tượng này. Với tình trạng đó, có thể nói, hiện nay, sự hiểu biết Luật an
toàn giao thông còn nhiều hạn chế, nhiều lúc, nhiều nơi còn có hiện tượng thiếu
văn hóa khi tham gia giao thông, bất chấp cả tính mạng, sức khỏe của bản thân
mình và những người xung quanh.
*Yêu cầu đặt ra:
- Để giải quyết tận gốc của vấn đề, cần nhiều giải pháp đồng bộ. Song,
trước hết về mặt chủ quan, việc làm cần thiết là phải thay đổi nhận thức, tâm lý,
hành vi của người tham gia giao thông (học sinh). Đó là chức năng tích cực của
công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trật tự an toàn giao thông.
5
giao thông vận tải
Bài 38: Thực hành. Viết
báo cáo ngắn về kênh đào
Xuy ê và kênh đào Pa-nama
Bài 42: Môi trường và sự
phát triển bền vững.
Địa chỉ tích hợp
Mục II: Bài 33: Một số
hình thức chủ yếu của tổ
chức lãnh thổ công nghiệp
Mục I. Cơ cấu, vai trò của
các ngành dịch vụ
Mức độ tích hợp
Cả bài
Liên hệ
Cả bài
Liên hệ
Cả bài
Liên hệ
Mục II. Vấn đề môi trường
và phát triển ở các nước
Nhận thức được những vấn đề môi trường do hoạt động của các phương tiện vận
tải đường ô tô.
- Năng lực sử dụng bản đồ, năng lực tư duy tổng hợp, năng lực tìm kiếm và
xử lí thông tin, hợp tác, sử dụng công nghệ thông tin.
2. Phương thức hoạt đông: Thảo luận nhóm
3. Hoạt động:
Bước 1: Giao nhiệm vụ:
- Học sinh dựa vào sách giáo khoa mục I và II, dựa vào kiến thức hiểu biết
của bản thân, hãy hoàn thành phiếu học tập sau:
Đặc điểm
Đường sắt
Đường ô tô
Ưu điêm
Nhược điểm
Sựphát triển
Phân bố
- Giáo viên giao nhiệm vụ cho nhóm:
+ Nhóm 1,2: Hoàn thiện các nội dung trong phiếu học tập đối với ngành vận
tải đường sắt.
+ Nhóm 3,4: Hoàn thiện các nội dung trong phiếu học tập đối với ngành vận
tải đường ô tô.
Bước 2: Học sinh thảo luận nhóm (10 phút). Trao đổi, so sánh kết quả làm
việc, bổ sung kết quả hoàn thành phiếu học tập. Giáo viên quan sát, giúp đỡ.
Bước 3: Trao đổi thảo luận:
- Đại diện các nhóm lên trình bày, các nhóm còn lại so sánh đối chiếu, tiếp
tục bổ sung kết quả làm việc cho mỗi nhóm.
7
- Trên cơ sở thảo luận và bổ sung của học sinh, giáo viên chốt nội dung học
- Sự phân bố thể hiện khá rõ sự Phát triển rộng khắp, phát triển
phân bố công nghiệp của các mạnh ở các nước phát triển
châu lục, các nước.
như Hoa Kì, các nước Tây
- Dày đặc ở châu Âu, Đông Âu….
Bắc Hoa Kì.
Bước 4: GV đánh giá quá trình thực hiện và đánh giá kết quả cuối cùng của
học sinh.
*Câu hỏi mở rộng đối với ngành vận tải đường sắt: Sau chốt về ngành
vận tải đường sắt, giáo viên sẽ đưa ra một số câu hỏi mở rộng và câu hỏi tích hợp
giáo dục an toàn giao thông đối với đường sắt:
- Tại sao mạng lưới đường sắt lại phản ánh khá rõ sự phân bố công nghiệp ở
các châu lục, các nước ? (Giáo viên gợi ý để giúp học sinh trả lời).
- Dựa vào bản đồ giao thông vận tải thế giới, hãy xác định một số tuyến
đường sắt trên thế giới ? (Giáo viên trình chiếu bản đồ, giúp học sinh xác định
trên bản đồ).
- Dựa vào bản đồ giao thông vận tải Việt Nam, hãy xác định một số tuyến
đường sắt ở Việt Nam ? (Giáo viên trình chiếu bản đồ, giúp học sinh xác định trên
bản đồ).
Câu hỏi tích hợp giáo dục an toàn giao thông đường sắt. (Tích hợp vào
phần ưu nhược điểm của ngành vận tải đường sắt).
- Liên hệ thực tế nêu nguyên nhân của các vụ tai nạn ngành vận tải đường
sắt nước ta?(GV sẽ trình chiếu một số hình ảnh như người dân còn bán hàng, sinh
8
hoạt ngay sát đường sắt, và một số hình ảnh khác).
Từ đó sẽ giúp học sinh hiểu được một trong những nguyên nhân quan trọng
của các vụ tai nạn, chết người từ ngành đường sắt là do ý thức của người tham gia
giao thông chưa cao, chưa nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông đường sắt.
vận tải ô tô nước ta hiện nay như thế nào ? Nguyên nhân ?
Giáo viên trình chiếu một số hình ảnh:
Tai nạn giao thông đường ô tô của nước ta
-Học sinh biết được tỉ lệ tai nạn giao thông đường bộ của nước ta còn rất
cao. Nguyên nhân quan trọng là người tham gia giao thông chưa chấp hành Luật
an toàn giao thông, coi thường tính mạng của bản thân và người khác.
10
- Dựa vào việc quan sát thực tế của bản thân, hãy nêu những lỗi mà người
tham gia giao thông thường vi phạm, nhất là lứa tuổi học sinh ? (giáo viên trình
chiếu một số hình ảnh vi phạm luật an toàn giao thông của người dân và của lứa
tuổi học sinh).
Hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ
- Bản thân em đã vi phạm luật giao thông chưa ? Nếu có lỗi, vi phạm của em
là gì?
- Hậu quả của hành vi vi phạm giao thông? Giải pháp giảm tỉ lệ tai nạn giao
thông đường ô tô ở Việt Nam ? (Giáo viên gợi ý học sinh trả lời).
Như vậy từ việc liên hệ thực tế để trả lời câu hỏi trên học sinh sẽ nhận thức
sâu sắc được hậu quả của việc không chấp hành luật an toàn giao thông, sự cần
thiết của việc truyên truyền luật giao thông trong lứa tuổi học sinh, nâng cao ý
thức của người tham gia giao thông để góp phần giảm tỉ lệ tai nạn giao thông
trong lứa tuổi học sinh cũng như toàn xã hội.
- Tác dụng: Nếu trong quá trình giảng dạy giáo viên thường xuyên tích hợp
giáo dục an toàn giao thông thì sẽ góp phần nâng cao ý thức tham gia giao thông
cho học sinh, nâng cao hiểu biết của học sinh về hậu quả của những hành vi vi
phạm giao thông. Từ đó, giúp cho học sinh nghiêm chỉnh chấp hành luật an toàn
giao thông, tuyên truyền cho bạn bè, người thân về vấn đề an toàn giao thông.
II do vậy trong đề kiểm tra học kì II có thể soạn 30 % số điểm là các câu hỏi về
ngành giao thông vận tải và nội dung về luật an toàn giao thông đường bộ. Các
câu hỏi trong đề kiểm tra học kì thuộc phần kiến thức về ngành giao thông vận
tải có thể soạn câu hỏi trắc nghiệm và tự luận, ở cả bốn mức độ nhận thức: biết,
hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao.
Ví dụ:
.Câu hỏi tự luận:
Câu 1: Nêu ưu điểm và nhược điểm của ngành vận tải đường sắt.
Hướng dẫn trả lời: Ưu điểm là chở được hàng nặng, xa, nhanh, ổn định, giá
rẻ. Nhược điểm là chỉ hoạt động trên những tuyến đường ray cố định.
Câu 2: Hãy kể tên một số nhà ga xe lửa ở nước ta? Ở tỉnh ta có những ga nào?
Hướng dẫn trả lời: ga Hà Nội, ga Sài Gòn, ga Đồng Hới, ga Huế, ga Quảng Bình…
Thanh Hóa có ga Thanh Hóa, ga Minh Khôi, ga Yên Thái, ga Tượng Sơn…
.Câu hỏi trắc nghiệm:
Câu 1: Trên đường đi học, H luôn dừng xe mỗi khi gặp tín hiệu đèn đỏ tại
các ngã ba, ngã tư. Trong trường hợp này, H đã
A. thi hành pháp luật.
B B. áp dụng pháp luật.
12
C. sử dụng pháp luật.
DD. tuân thủ pháp luật.
Câu 2: Em N là học sinh lớp 12 điều khiển xe đạp điện không đội mũ bảo
hiểm sẽ bị cảnh sát giao thông
A. phạt tiền
B. nhắc nhở rồi cho đi.
C. xử lí hành chính (phạt tiền, thông báo về nhà trường).
D. phạt tiền, giữ giấy tờ xe, thông báo về nhà trường.
Câu 3: Hai người K và T lạng lách, đánh võng, đua xe trên đường, đã bị
Chia lớp thành 3 nhóm với các hình thức trải nghiệm khác nhau, nhiệm vụ
khác nhau. Các hình thức trải nghiệm này có thể luân phiên thay đổi cho các
nhóm ở mỗi đợt trải nghiệm.
Nhóm 1: Hình thức trải nghiệm là cổng trường tự quản.
13
Nhóm 2: Văn hóa giao thông (giúp đỡ người khác khi tham gia giao thông:
người già, trẻ nhỏ…).
Nhóm 3: Hình thức trải nghiệm là nhật kí giao thông.
Mỗi một nhóm trải nghiệm giao thông, giáo viên phải giúp học sinh xác
định được:
+ Mục đích của việc trải nghiệm.
+ Chuẩn bị đồ dùng phục vụ cho việc trải nghiệm.
+ Cách thức thực hiện.
+ Bài thu hoạch: Bài học kinh nghiệm cần rút ra sau mỗi hoạt động trải nghiệm.
Hoạt động trải nghiệm giao thông có thể được tiến hành tại nhiều địa điểm
khác nhau như cổng trường, khu vực gần chợ, tại các ngã ba, ngã tư… Hoạt
động trải nghiệm này có thể tổ chức ở nhiều khối lớp với độ tuổi khác nhau.
- Tác dụng: Trải nghiệm giao thông là hình thức giáo dục an toàn giao
thông cho học sinh một cách sinh động, hiệu quả. Hoạt động này giúp cho học
sinh học tập một cách tích cực, chủ động, trực tiếp mắt thấy, tai nghe, không gây
nhàm chán. Chính học sinh là người lĩnh hội kiến thức, là những tuyên truyền viên
về vấn đề an toàn giao thông và chính các em đóng góp phần nào vào việc đảm bảo
an toàn giao thông tại khu vực trường đóng, tại địa phương các em sinh sống.
Ví dụ 1: Hình thức trải nghiệm: Cổng trường tự quản
- Lý do đề xuất: Khu vực cổng trường và gần cổng trường mỗi khi tan
trường học sinh thường tụ tập rất đông, đi ra đường dàn hàng ngang, rẽ các
hướng không xi nhan… như vậy có thể gây nguy hiểm cho bản thân học sinh,
và trên địa bàn xã. Học sinh ý thức sâu sắc được sự cần thiết phải nghiêm chỉnh
chấp hành Luật an toàn giao thông trong học sinh cũng như ở mỗi người dân.
Việc phối hợp với Đoàn thanh niên, nhà trường thông báo kết quả của đội tự
quản thực hiện nhiệm vụ ở cổng trường không những góp phần giáo dục an toàn
giao thông cho bản thân học sinh trải nghiệm, mà còn góp phần giáo dục đối với
học sinh toàn trường.
Ví dụ 2: Hình thức trải nghiệm: Văn hóa giao thông (giúp đỡ người già,
trẻ nhỏ… khi tham gia giao thông)
- Lý do đề xuất: Khi tham gia giao thông, không những yêu cầu người
tham gia thực hiện nghiêm chỉnh về Luật an toàn giao thông mà “văn hóa giao
thông” của người tham gia giao thông còn thể hiện ở cách ứng xử đối với những
người tham gia giao thông khác, đó cũng chính là mục đích của việc giáo dục an
toàn giao thông cho học sinh hướng tới. Giáo dục cho học sinh biết giúp đỡ,
cách ứng xử có văn hóa khi tham gia giao thông như giúp đỡ người già, trẻ nhỏ
khi sang đường, giúp đỡ người khi gặp nạn…
- Biện pháp thực hiện: Tổ chức một nhóm 12 học sinh, 1 đội trưởng, với
trang phục áo đoàn, mũ tai bèo, chuẩn bị sổ tay ghi chép….Chọn địa điểm trải
nghiệm phù hợp như là cổng trường mầm non, cổng trường tiều học… Học sinh
quan sát tình huống giao thông diễn ra, giáo viên hướng dẫn học sinh tham gia
giúp đỡ các em nhỏ sang đường. Yêu cầu học sinh ghi chép và viết bài thu
15
hoạch: Cách ứng xử văn hóa khi tham gia giao thông, ý nghĩa của việc ứng xử
văn hóa khi tham gia giao thông. Giáo viên yêu cầu nhóm nộp bài thu hoạch sau
1 tuần.
Giúp đỡ trẻ em tham gia giao thông
- Tác dụng: Hình thức trải nghiệm thực tế này giúp cho học sinh nhận thức
sâu sắc được sự cần thiết phải ứng xử văn hóa khi tham gia giao thông, từ đó rút
- Tác dụng: Hình thức trải nghiệm này có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo
dục an toàn giao thông cho học sinh. Từ việc quan sát các hành vi vi phạm giao
thông của người khác thì học sinh sẽ thấy được sự nguy hiểm của các hành vi
đó, sự nguy hiểm đó không chỉ xảy ra đối với người có hành vi vi phạm, mà còn
xảy ra đối với những người khác. Tận mắt nhìn thấy những lỗi mà người tham
gia giao thông gây ra, cũng có thể bản thân học sinh đã từng vi phạm những lỗi
đó. Trong quá trình quan sát, trải nghiệm, cũng có thể học sinh được chứng kiến
hậu quả của việc vi phạm luật an toàn giao thông. Từ đó rút ra được bài học kinh
nghiệm cho bản thân. Đây thực sự là một biện pháp giáo dục hiệu quả, sinh
động.
2.4. Hiệu quả của việc tích hợp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh
Trong nhiều năm giảng dạy tích hợp giáo dục an toàn giao thông thông
qua môn Địa lý, đặc biệt là việc kết hợp các biện pháp giáo dục như: tích hợp
qua các bài dạy trên lớp, qua kiểm tra đánh giá, qua trải nghiệm giao thông,
được thực hiện ở các lớp 10C4 (năm học 2016- 2017), và 10A1 (năm học 20172018) trường THCS&THPT Như Thanh, kết quả đạt được như sau:
17
- Về kết quả kiểm tra kiến thức: Học sinh hiểu bài, hiểu vấn đề theo tư duy
khoa học và logic, nắm vững được kiến thức về ngành giao thông vận tải, bên
cạnh đó học sinh đã liên hệ được thực tế ngành giao thông vận tải ở nước ta, học
sinh biết thêm một số điều trong Luật giao thông đường bộ Việt Nam.
-Về năng lực chung và năng lực chuyên biệt được hình thành cho học sinh:
Thông qua học bài mới trên lớp, làm bài thi, kiểm tra… các em đã phát huy
được một số năng lực chung và chuyên biệt như: Năng lực tự học, giải quyết vấn
đề, giao tiếp, hợp tác, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, tìm kiếm và
xử lí thông tin. Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, sử dụng bản đồ, năng
lực khảo sát thực tế, năng lực tham gia giao thông.
- Về phẩm chất được hình thành cho học sinh: Đó là các phẩm chất: biết
18
- Đối với nhà trường: Cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề giáo dục an toàn
giao thông cho học sinh ở cả hai cấp học. Nhà trường phối hợp với Đoàn thanh
niên, các môn học như Đia lí, Giáo dục công dân… để thường xuyên tổ chức
giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tất cả các khối lớp trong trường.
- Đối với cấp trên:
Cần đổi mới mạnh mẽ nội dung sách giáo khoa theo hướng tinh giản nội
dung ghi nhớ, tăng cường tính vận dụng thực tiễn và tính giáo dục phù hợp với
bộ môn Địa lí và phù hợp với học sinh thế kỷ XXI. Linh hoạt cho các nhà
trường chủ động xây dựng phân phối chương trình sao cho thật sự khoa học và
hiện đại.
Trên đây là những kết quả của quá trình nghiên cứu và triển khai thực
nghiệm đề tài “Tích hợp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp 10
thông qua dạy - học môn Địa lí nhằm phát triển năng lực, phẩm chất người
học ở trường THCS&THPT Như Thanh”. Rất mong sự quan tâm của các cấp
lãnh đạo để bản thân tôi tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện, nhằm triển khai áp
dụng những biện pháp này hiệu quả nhất.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
TÔI CAM ĐOAN SKKN KHÔNG SAO CHÉP TỪ CÁC SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM CỦA NGƯỜI KHÁC.
XÁC NHẬN
Như Thanh, ngày 10 tháng 5 năm2018
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Người thực hiện
Quách Thị Khánh