MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu...............................................................................................................1
1.1 Lí do viết sáng kiến kinh nghiệm....................................................................1
1.2 Mục đích nghiên cứu:......................................................................................1
1.3 Đối tượng nghiên cứu:.....................................................................................2
1.4 Phương pháp nghiên cứu:................................................................................2
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm................................................................2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:.......................................................2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:........................2
2.3 Một số biện pháp thực hiện.............................................................................4
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục:...............16
3. Kết luận và kiến nghị.......................................................................................17
3.1 Kết luận:........................................................................................................17
3.2 Kiến nghị:......................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................19
0
1. Mở đầu
1.1 Lí do viết sáng kiến kinh nghiệm
Mục tiêu quan trọng của chương trình Tiếng Việt tiểu học là dạy cho học
sinh một công cụ để giao tiếp và học tập. Nhưng để sử dụng Tiếng Việt như một
công cụ giao tiếp và học tập thì trước hết học sinh phải nắm được vốn từ tiếng
Việt. Từ là đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, nếu không làm chủ được vốn
từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng được ngôn ngữ đó để học tập cũng
như trong giao tiếp. Ngoài ra, vốn từ ngữ của một người càng giàu bao nhiêu thì
khả năng diễn đạt của người đó càng chính xác và tinh tế bấy nhiêu. Vì vậy, làm
giàu vốn từ cho học sinh là việc làm rất quan trọng và cần thiết.
cho học sinh kỹ năng chính:
Làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh
Biết sử dụng từ ngữ trong đời sống hàng ngày.
1
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua phân
môn Luyện từ và câu.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thống kê.
+ Phương pháp trò chuyện.
+ Phương pháp đọc sách và tài liệu.
+ Phương pháp thực nghiệm.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Với mục tiêu chung của môn Tiếng Việt thì mục tiêu của phân môn Luyện
từ và câu là một bộ phận nhỏ của môn Tiếng Việt hết sức cần thiết để giúp học
sinh mở rộng và phát triển vốn từ làm cho vốn ngôn ngữ của các em càng
phong phú; việc giúp học sinh nắm ý nghĩa của từ, tích cực hóa vốn từ để bồi
dưỡng cho các em thói quen dùng từ chính xác, nói – viết thành câu, có ý thức
sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong học tập và giao tiếp.
Thông qua mục tiêu chương trình cũng như cụ thể hóa được vai trò của
nhân tố từ ngữ trong việc sử dụng tiếng Việt. Bên cạnh đó, phân môn Luyện từ
và câu ở lớp 2 còn góp phần quan trọng giúp học sinh mở rộng và phát triển
vốn từ. Từ đó, học sinh sẽ có một vốn từ nhất định để hình thành thói quen
dùng từ, nói và viết thành câu: có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong học
tập, giao tiếp và thích học Tiếng Việt. Do đó, người giáo viên dạy lớp 2 (hay
hướng dẫn vì sợ sai.
+ Đối với một số giáo viên do sử dụng đồ dùng dạy học nói chung và đồ
dùng trực quan nói riêng chưa được thường xuyên, nên việc sử dụng còn nhiều
lúng túng.
- Học sinh:
+ Quan sát học sinh khi học phân môn Luyện từ và câu, tôi yêu cầu các
em tìm từ ngữ thuộc các chủ đề, chủ điểm đang học. Đa số các em tìm được rất
ít từ hoặc không tìm được từ, chỉ khi cô giáo gợi mở sát vào từng ngữ cảnh học
sinh mới tìm được từ mà giáo viên yêu cầu.
+ Qua tiết học phân môn Tập làm văn, tôi thường quan sát các em trong
việc trả lời câu hỏi, đặt câu, viết đoạn văn ngắn từ 3 - 5 câu. Tôi thấy các em đa
1
số chưa biết đặt câu, sử dụng từ chưa chính xác, chỉ hơn
số học sinh trong
4
lớp biết dùng một số mẫu câu đơn giản.
Đoạn văn kể về ông (hoặc bà) của em.
+ Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học Luyện
từ và câu.
Kết quả khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm của lớp 2A (lớp
thực nghiệm) và lớp 2B (lớp đối chứng)
Lớp
2A
2B
Tổng số
HS
34
34
Từ thực trạng trên tôi thấy nếu không có biện pháp mở rộng vốn từ
cho học sinh thì chất lượng dạy học môn Tiếng Việt sẽ không cao. Trong năm
học trước, khi đánh giá chất lượng bài thi các giáo viên đều có chung nhận
định: Vốn từ của học sinh đang còn nghèo nàn, nhiều em tìm từ không đúng
yêu cầu và có rất nhiều em không tìm được từ. Những hạn chế trên một phần là
do giáo viên chưa chú ý đúng mức đến dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh.
Trong quá trình dạy giáo viên ít tạo điều kiện cho học sinh được hoạt động
nhiều với từ nên khả năng thường trực từ ở học sinh và sử dụng khi cần thiết
chưa cao. Có bài tập cần phải sử dụng hoạt động thảo luận nhóm, thì giáo viên
lại tổ chức làm việc chung cả lớp, có bài tập đề bài cần tổ chức cho học sinh
hoạt động cá nhân thì giáo viên lại tổ chức trò chơi học tập tập trung đối tượng
học sinh năng khiều. Thời gian bố trí cho từng hoạt động chưa phù hợp, hệ
thống câu hỏi và hình thức thực hành bài tập chưa đảm bảo yêu cầu, chưa phân
loại đối tượng học sinh để dạy học cho phù hợp.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu và vận dụng: “Một số biện
pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Luyện từ và câu”
2.3 Một số biện pháp thực hiện.
Biện pháp 1: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để mở rộng vốn
từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ.
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học trong đó dưới sự
hướng dẫn của giáo viên mà các thành viên trong nhóm thực hiện việc trao đổi,
thảo luận, chất vấn và chia sẻ lẫn nhau.
Quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy rất ít giáo viên sử dụng phương pháp
thảo luận nhóm trong quá trình dạy học làm giàu vốn từ đặc biệt là trong nhiệm
vụ mở rộng vốn từ cho học sinh. Trong bài dạy, giáo viên chủ yếu sử dụng
phương pháp cá nhân làm việc độc lập, phương pháp vấn đáp để dạy các bài
tập mở rộng vốn từ. Số lượng từ ngữ học sinh nắm được trong giờ học không
cao và không bền vững. Khi huy động vốn từ theo chủ đề, mỗi học sinh chỉ huy
động được khoảng 1, 2 từ, nhiều nhất là 4, 5 từ. Thậm chí có học sinh không
nhóm theo hình thức ngẫu nhiên, chia nhóm theo trình độ nhận thức và mức độ
nắm vốn từ của học sinh…. Mỗi cách chia nhóm đều có ưu và nhược điểm nhất
định, khi lựa chọn giáo viên phải linh hoạt, thường xuyên thay đổi hình thức để
tránh nhàm chán cho học sinh.
- Giao nhiệm vụ thảo luận cho học sinh.
Nhiệm vụ thảo luận nhóm được cụ thể hóa trong phiếu bài tập (hoặc phiếu
giao việc) cho cả nhóm.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 1, Tuần 4 – TV2, tập 1 – trang 35, Mở rộng vốn từ:
Từ chỉ sự vật, GV sử dụng phiếu thảo luận:
PHIẾU HỌC TẬP
Thảo luận nhóm 4, nói cho bạn nghe và nghe bạn nói các từ theo mẫu
trong bảng sau rồi ghi vào bảng trong thời gian 2 phút:
Chỉ người
M: học sinh
………….
Chỉ đồ vật
M: ghế
…………..
Chỉ con vật
M: Chim sẻ
…………..
Chỉ cây cối
M: Xoài
…………..
Ví dụ 2: Ở bài tập 1, Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về Bác Hồ, Tuần 30, TV2 –
Tập 2 – Trang 104, ta có thể hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm theo phiếu
Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích đầu tiên và
chủ yếu là vui chơi, giải trí và thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng.
Nhưng qua trò chơi, người chơi có thể rèn luyện các giác quan, tạo cơ hội
giao lưu với mọi người cùng hợp tác với mọi người, cùng hợp tác với đồng
đội trong nhóm, tổ.
Ở bậc tiểu học cũng như các bậc học khác, sử dụng trò chơi trong quá
trình học tập làm cho việc tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng, củng cố tri thức
bớt đi sự khô khan, có thêm sự sinh động, hấp dẫn. Từ đó hiệu quả học tập của
học sinh tăng lên.
Trong giờ mở rộng vốn từ, học sinh phải thực hiện các nhiệm vụ để làm
giàu vốn từ cho mình. Nếu giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp cho cả tiết
học thì hiệu quả giờ học không cao, học sinh thụ động, lười suy nghĩ. Sử dụng
trò chơi học tập là phương pháp dạy học tích cực. Từ đó làm thay đổi không
khí trong lớp học, tạo ra sự thi đua sôi nổi, hào hứng của các đội chơi và sự cổ
vũ nhiệt tình của các bạn trong lớp. Nhờ có trò chơi học tập, học sinh hứng thú
hơn với việc học từ ngữ trong các bài tập mở rộng vốn từ, làm giảm bớt đi sự
khô khan của bài học, học sinh tiếp thu từ và nghĩa của từ nhanh, phân loại,
quản lý vốn từ đúng, sử dụng từ chính xác, linh hoạt.
6
Thứ nhất: Trò chơi ghép nhanh tên sự vật
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ sự vật( người, đồ vật, con vật, cây cối,..) được vẽ
dưới đây. (bài tập 1 tuần 3, TV2 – Tập 1, trang 26)
Ví dụ 2: Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người. Hãy tìm từ chỉ
mỗ hoạt động đó. (Bài tập 2 tuần 7, trang 59, TV2 –Tập 1)
Ví dụ 3: Hãy nêu tên các con vật có trong hình (Bài tập 3 tuần 16 trang
134, TV 2, tập 1).
a. Đối với dạng bài này, giáo viên chuẩn bị 2 bộ đồ dùng để chơi: mỗi bộ
gồm 1 số đồ vật thật hoặc tranh ảnh đại diện cho nghĩa của từ được nêu trong
- 1 bộ quân bài dành cho người cầm cái (trọng tài) khác màu với mỗi bộ
quân bài của người chơi. Trên mỗi quân bài này có ghi từng từ đồng nghĩa với từ
được ghi trên quân bài của người chơi.
- Mỗi quân bài đều được ghi ở cả hai đầu để người chơi dễ nhìn khi cầm bài
trên tay.
b. Cách tiến hành
7
Để thực hiện trò chơi cần thực hiện qua 4 bước sau:
Bước 1: Giới thiệu tên và mục đích của trò chơi: mục đích của trò chơi là
học sinh thi tìm từ đồng nghĩa
Bước 2: chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm 2-4 học sinh. Quản trò là
giáo viên và hai học sinh giúp giáo viên làm trọng tài.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chơi:
- Từ 2 đến 4 người chơi. Mỗi người có 1 bộ quân bài như nhau (10, 12 quân)
- Trọng tài lật 1 quân bài của mình (có từ đồng nghĩa với từ trong bộ bài của
người chơi). Những người chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ
đồng nghĩa với quân bài của trọng tài để đánh ra.
- Trọng tài công nhận quân bài đánh ra là từ đồng nghĩa thì người đánh quân
bài đó đã "ăn", nếu sai thì người đánh quân bài đúng tiếp theo sẽ được "ăn ".
Trường hợp 2 - 3 người cũng ra quân bài đúng thì cũng được “ăn".
- Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng quân bài được "ăn" nhiều nhất sẽ
thắng cuộc. Như vậy, người thắng cuộc nhận ra nhanh, đúng từ đồng nghĩa.
Bước 3: Học sinh thực hiện trò chơi
Bước 4: giáo viên thay mặt cho tổ trọng tài công bố nhóm tìm được nhiều từ
đúng và chính xác nhất, rồi tuyên dương nhóm tìm được nhiều từ đúng và nhanh.
Các cặp từ đồng nghĩa nói về chủ đề học tập dùng làm bộ bài để chơi và bộ
bài để cầm cái: học tập - học hành, siêng năng - chăm chỉ, vui vẻ - phấn khởi,
giảng dạy - dạy dỗ, bài tập - bài vở, chăm chú - chú ý, lễ phép - lễ độ, thông minh
như sau:
1. Viên màu trắng dùng để viết lên bảng.(là gì?)
2. Nơi em đến học hàng ngày. (là gì?)
3. Tờ gì mỏng dùng để viết chữ lên.(là gì?)
4. Cột gì cao trước sân trường
Chỉ mang một lá huy hoàng tung bay
Đầu tuần buổi sáng thứ hai
Cả trường, cả lớp ai ai cũng chào?
( là gì?)
Thông qua trò chơi học tập, học sinh được phát triển cả về trí tuệ, thể lực,
nhân cách giúp học sinh phát triển về ngôn ngữ, mở rộng được nhiều vốn từ, rèn
cho học sinh tính nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh, làm
giảm tính chất căng thẳng của giờ học. Tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Trò chơi học tập rất hấp dẫn đối với học sinh. Tuy nhiên, giáo viên không
nên lạm dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi gây nhàn chán
đối với học sinh. Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ về điều kiện vật chất
và cách thức thể lệ chơi. Trong lúc chơi, giáo viên cần hướng dẫn, động viên
hoàn thành tốt bài tập, tạo sự hưng phấn, thích thú trong tiết học. Tổ chức trò
chơi trong giờ mở rộng vốn từ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: thời gian
ngắn, nội dung kiến thức thay đổi theo từng bài học… Vì vậy, tổ chức trò chơi
phải linh hoạt, khéo léo, không làm ảnh hưởng đến thời gian và đảm bảo chất
lượng dạy học.
Trò chơi: “Em biết tuốt” Mở rộng vốn từ về . (Bài tập 2, TV2, tập 1, trang 137)
9
Biện pháp 3: Vận dụng hợp lý và linh hoạt các hình thức thi đua,
khen thưởng nhằm khuyến khích học sinh mạnh dạn, chủ động, sáng tạo
trong giờ học theo tinh thần hợp nhất giữa Thông tư 22 và Thông tư 30.
thức nhắc nhở đối với học sinh không chú ý xây dựng bài. Việc nhắc nhở phải
nghiêm khắc và công minh để các em nhận ra khuyết điểm và quyết tâm sửa
chữa để tiến bộ cùng bạn bè.
Trong giờ mở rộng vốn từ nói riêng và tất cả các giờ học khác nói chung,
giáo viên phải luôn tạo được không khí thi đua sôi nổi, hào hứng trong giờ
học.Khi học sinh đạt thành tích, giáo viên cần khen thưởng kịp thời để khuyến
10
khích, động viên các em. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, giáo viên không
lạm dụng quá nhiều gây nhàm chán đối với học sinh.
Học sinh được khen thưởng trong tháng 3
Biện pháp 4: Sử dụng đồ dùng trực quan để hệ thống và làm giàu vốn
từ cho học sinh
a. Đối với bài hệ thống hóa vốn từ
Hệ thống hóa vốn từ là yêu cầu học sinh tìm từ hoặc phân loại từ theo một
dấu hiệu chung nào đó. Do đó, đối với dạng bài tập này ngoài việc dựa vào các
ví dụ mẫu trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm từ thì giáo viên có
thể sử dụng những đồ dung trực quan nhằm gợi ý, định hướng cho học sinh
trong việc tìm từ, hệ thống hóa vốn từ.
Ví dụ 1: Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm:
- Cây lương thực, thực phẩm.
M: lúa
- Cây ăn quả
M: cam
- Cây lấy gỗ
M: lim
- Cây bóng mát
giao tiếp của mình. Chính vì vậy, dạy sử dụng từ rất quan trọng. Nhiệm vụ cơ
bản của dạy từ ngữ là chuyển vốn từ tiêu cực của học sinh thành vốn từ tích
cực. Thế nhưng, không phải đối tượng HS nào cũng làm được điều đó. Vì thế,
tôi nghiên cứu sử dụng đồ dùng trực quan để giúp các đối tượng HS yếu sử
dụng từ một cách hợp lí.
Ví dụ 3: Đặt câu với từ em vừa tìm được ở bài tập 1( yêu quý, biết ơn)
Hình ảnh minh họa: Bài: Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về Bác Hồ.
TV2 - Tập 2, trang 104
Với dạng bài tập đặt câu nêu trên, HS thường lúng túng khi đặt câu, tôi
sẽ dùng tranh gợi ý các em đặt câu dựa vào nội dung tranh (để đặt câu với từ
thương yêu tôi dùng tranh 1, TV2, tập 2 trang 100, đặt câu hỏi gợi mở: Bác
Hồ cùng các em thiếu nhi đang làm gì? Qua tranh, các em thấy tình cảm của
Bác Hồ với các cháu thiếu nhi như thế nào? Tương tự, để đặt câu với từ:
“biết ơn” tôi dùng tranh 2, TV2, trang 104: Các em thấy, các bạn trong tranh
đang làm gì? Các bạn thiếu nhi dâng hoa ở lăng Bác thể hiện điều gì?). Như
12
vậy với câu hỏi gợi mở cùng tranh hỗ trợ các em đã có thể đặt được câu với
từ yêu quý, biết ơn.
Ví dụ 4 : Bài: Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về loài thú. Dấu chấm, dấu phẩy,
TV2, tập 2, trang 55
Hãy chọn tên con vật thích hợp với mỗi chỗ trống dưới đây:
a/ Dữ như…
c/ Khỏe như…
b/ Nhát như….
d/ Nhanh như….
( thỏ, voi, hổ (cọp), sóc)
Đối với các bài tập này, đối tượng HS yếu còn lúng túng tôi tung một số
- Để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh tôi đã thực hiện sau:
Hướng dẫn cho học sinh phương pháp tự làm giàu vốn từ: Giáo viên giao
nhiệm vụ cho học sinh. Khi giao nhiệm vụ, giáo viên phải đảm bảo tất cả các
học sinh đều nhớ và hiểu rõ nhiệm vụ được giao, bao gồm: Ôn lại các từ và
13
nghĩa vừa học của bài trước, làm các bài tập trong sách giáo khoa, chuẩn bị
quan sát, tìm từ để học bài mới… Giao thêm cho học sinh có năng khiếu các
nhiệm vụ học tập khó hơn, đòi hỏi các em phải có sự cố gắng nhiều hơn.
Hướng dẫn học sinh cách đọc bài, làm bài và sử dụng thời gian tự học.
Khi học bài: Trước khi học bài, học sinh phải nhớ lại bài giáo viên đã
giảng trên lớp (Bài học chủ đề gì? Những từ đã học là từ gì? Nghĩa của từ đó là
gì? Sử dụng từ đó như thế nào?...) Tập trung suy nghĩ để hiểu bài, nhớ lâu từ và
nghĩa của từ trong bài. Tập vận dụng những từ vừa học dưới hình thức: Tìm
thêm ví dụ, liên hệ đối chiếu với các từ trong nhóm và với các từ khác, đưa từ
vào trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể trong cuộc sống của mình.
Khi làm bài: Đọc kỹ đề bài, làm bài ra giấy nháp, sửa chữa cho chính xác
rồi mới viết vào vở. Nếu gặp những từ chưa hiểu rõ nghĩa học sinh phải tự tra
từ điển hoặc hỏi người lớn để hiểu nghĩa.
Trong khi học bài, làm bài, học sinh phải tập thói quen cẩn thận, chắc
chắn, thực hiện đến nơi đến chốn các nhiệm vụ được giao và bố trì thời gian tự
học hợp lí. Trong buổi tự học, cần giành thời gian để ôn bài vừa học, làm các
bài tập, chuẩn bị cho bài ngày hôm sau.
Thứ nhất: Tập cho học sinh thói quen dựa vào sức mình là chính.
Trong bất kỳ kình thức hoạt động nào, dù hoạt động độc lập hay thảo luận
nhóm, học sinh cũng đều phải có ý thức dựa vào bản thân mình là chính. Học
sinh phải tích cực suy nghĩ để tìm từ theo chủ đề, tìm ra dấu hiệu chung của các
từ để thực hiện nhiệm vụ phân loại và quản lí vốn từ … Giáo viên chấn chỉnh
ngay những học sinh có thói quen ỉ lại, dựa dẫm vào các bạn khác trong lớp,
hứng thú hơn trong việc học, tôi sử dụng hình thức thi đua, khen thưởng. Để
thay đổi hình thức dạy học, tôi dùng trò chơi trong giờ học. Đồng thời, không
phải khi nào giáo viên cũng tổ chức thảo luận nhóm hoặc trò chơi học tập, sẽ
có thời gian học sinh phải độc lập làm bài tập cá nhân nên giáo viên luôn phải
nhắc nhở học sinh ý thức tự học và hướng dẫn học sinh phương pháp tự làm
giàu vốn từ.
Sau đây, tôi xin trình bày một kế hoạch bài học minh họa cho sáng kiến:
Luyện từ và câu
TỪ NGỮ VỀ SÔNG BIỂN. DẤU PHẨY
I. MỤC TIÊU:
- Nhận biết được một số loài cá nước mặn, cá nước ngọt (BT1); kể tên
được một số con vật sống dưới nước (BT2).
- Biết đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong câu còn thiếu dấu phẩy (BT3).
- Nắm bắt, hiểu biết về các loài vật sống dưới nước để vận dụng vào cuộc
sống hằng ngày.
- Hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường.
II. CHUẨN BỊ:
1. Phương pháp dạy học:
- Phương pháp trực quan, thảo luận nhóm, hỏi – đáp, trò chơi học tập, cá
thể hóa, đóng vai.
2. Đồ dùng dạy học:
- Bài giảng trình chiếu điện tử, bảng thông minh cho HĐ1, băng giấy cho
BT3, bông hoa thưởng.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC:
* Khởi động (1’): Bài hát “ Bé yêu biển lắm”
Hoạt động 1: Củng cố kiến thức (4’):
- GV chọn một dãy bàn (hàng dọc) cho học sinh đứng dậy nối tiếp nhau nói
ra các từ chứa tiếng biển. HS nào đến lượt mà không nói được sẽ thua cuộc.
- GV dựa vào bài chính tả “Vì sao cá không biết nói?” đặt câu hỏi: Theo
người anh, vì sao cá không biết nói?
cách sống).
- GV tuyên dương đội giành chiến thắng là nhóm viết đúng, nhanh và
nhiều tên các loài vật nhất.
- GV chốt ý chính và chuyển sang bài tập 3.
Hoạt động 4: Bài tập 3: Điền dấu phẩy
*Mục tiêu: Củng cố và hoàn thiện kĩ năng sử dụng dấu câu (dấu phẩy) cho
học sinh.
- HS đọc yêu cầu đề bài.
- GV hỏi: Khi nào ta dùng dấu phẩy?
- HS trả lời.
- HS làm bài cá nhân, 1 bạn làm vào băng giấy mà GV đã chuẩn bị.
- GV và HS chốt lại đáp án đúng. 1 HS đọc lại đoạn văn.
Hoạt động nối tiếp: (5’)
- GV tổ chức trò chơi: Tôi là ai?
- GV nêu cách chơi: Mỗi tổ cử 1 bạn lên đóng vai một con vật dưới nước
để nói về hình dạng, cách sống và cách bảo vệ con vật đó.
- GV và HS tuyên dương bạn sắm vai tốt nhất.
- GV giáo dục ý thức bào vệ môi trường .
- GV nhận xét tiết học.
16
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục:
- Nhờ áp dụng nhiều biện pháp nên vốn từ của học sinh ngày càng phong
phú và bền vững, học sinh có thể huy động nhanh từ theo chủ đề khi giáo viên
yêu cầu hoặc khi viết đoạn văn.
Đoạn văn kể về ông (hoặc bà) của em.
- Học sinh thích làm bài tập hơn, hào hứng với trò chơi học tập, thảo luận
nhóm sôi nổi, tự mình khám phá ra từ mới, nắm nghĩa từ, sử dụng từ. Vận dụng
33,3%
18
52,2%
5
14,5%
Thông qua bảng thống kê, ta thấy chất lượng học sinh giữa hai lớp có sự
khác biệt rõ rệt. Điều đó chứng tỏ tính đúng đắn và hiệu quả của các biện pháp
làm giàu vốn từ cho học sinh mà tôi đã và đang áp dụng.
3. Kết luận và kiến nghị.
3.1 Kết luận:
Sau khi áp dụng các biện pháp làm giàu vốn từ và đạt được một số kết quả
như trên, tôi nhận thấy việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 sẽ giúp các em
có kĩ năng sử dụng từ để giao tiếp một cách thường trực. Ngoài ra, các em còn
có thể lựa chọn trong vốn từ của mình những từ ngữ gợi tả, gợi cảm để viết
những câu văn hay, sinh động, giàu hình ảnh.
3.2 Kiến nghị:
- Giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu như: thảo luận
nhóm, trò chơi học tập và biện pháp thi đua khen thưởng. Bên cạnh đó, giáo
viên cần tự trau dồi vốn từ cho mình để có những hiểu biết sâu sắc về các
nhiệm vụ làm giàu vốn từ ở tiểu học.
17
- Ban giám hiệu nhà trường tham mưu cho cấp trên mua sắm các trang
3.
4.
5.
6.
7.
(chủ biên) – NXB GD Việt Nam.
Bộ GD & ĐT - Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 2 - Nguyễn Minh Thuyết
(chủ biên) – NXB GD Việt Nam.
Bộ GD & ĐT - Sách giáo viên Tiếng Việt 2, tập 1 - Nguyễn Minh Thuyết
(chủ biên) – NXB GD Việt Nam.
Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II- Lê Phương Nga - Nhà
xuất bản Đại học Sư phạm
Phương pháp dạy học các môn ở Tiểu học- Nguyễn Hữu Châu- Nhà xuất
bản Giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chuyên đề Giáo dục Tiểu học – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học – Nhà
xuất bản Giáo dục (tập 33, 35).
Sử dụng các tư liệu, hình ảnh trên Internet.
20