MỤC LỤC
Trang
Phần I : Mở bài
1
Phần II : Nội dung
2
I. Khái niệm nhân cách
2
II. Cấu trúc nhân cách và liên hệ thực tiễn
3
1. Xu hướng
3
2. Tính cách
6
3. Năng lực
7
4. Khí chất
2
PHẦN II : NỘI DUNG
I - KHÁI NIỆM NHÂN CÁCH
- Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá nhân biểu hiện ở bản
sắc giá trị xã hội của người ấy.
- Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội
dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân. Bởi vây, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự
khác biệt giữa cá thể với loài thì nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa các cá
nhân. Cá nhân là phương thức biểu hiện cử giống loài, còn nhân cách vừa là nội dung,
vừa là cách thức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng biệt.
- Nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các yếu
tố sinh học, tâm lý, xã hội nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinnh lý thần kinh, về
hoàn cảnh sống của cá nhân theo cách riêng của mình.
Như C.Mác đã nói: “Nếu như con người có bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội
thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính của mình trong xã hội và cần phải
phán đoán lực lượng bản tính của anh ta, không phải con người căn cứ vào lực lượng
bản tính của anh ta, không phải căn cứ vào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà là căn
cách cứ của toàn xã hội.”
Như vậy:
- Nhân không phải là tất cả các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ bao hàm
những đặc điểm quy định bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của con
người như là một thành viên của xã hội.
- Nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một cấu tạo
tâm lý phức hợp. Nói cách khác nhân cách là tổng thể những đặc điểm tâm lý đặc
trưng với một cơ cấu xác định.
3
uống, nhu cầu về ăn mặc, quần áo, giày, dép…nhu cầu được vui chơi giải trí như tham
gia vào các chương trình văn nghệ của trường, các hoạt động tình nguyện…
1.2 Hướng thú .
- Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó – đối tượng vừa
có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong
quá trình hoạt động.
- Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, ở bề rộng và chiều sâu
của hứng thú. Hứng thú nảy sinh chủ yếu do tính hấp dẫn về mặt cảm xúc của nội
dung hoạt động, còn nhu cầu có thể không có yếu tố hấp dẫn.
Chẳng hạn khi bị bệnh, người ta có nhu cầu uống thuốc để điều trị nhưng người ta
không thấy khoái cảm khi uống thuốc. Đây chính là sự khác nhau giữa hứng thú và
nhu cầu.
- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng sức làm việc, đặc biệt là tăng
tính tự giác, tích cực trong hoạt động và vì vậy hứng thú làm tăng hiệu quả hoạt động.
Đặc biệt trong hoạt động nhận thức và hoạt động học tập, hứng thú có vai trò rất quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả học tập. Những môn học có hứng thú
bao giờ kết quả cũng tốt hơn những môn học không có hứng thú. Vì vậy, giáo viên cần
hình thành được hứng thú học tập cho học sinh.
Ví dụ: Trong giờ học hình sự các thầy cô thường kể những câu chuyện thực tế về
các vụ phạm tội giết người, cướp của…làm kích thích tính tò mò của em, gây cho em
cảm giác hướng thú với môn học này.
3 Lý tưởng.
- Lý tưởng là một mục tiêu cao đẹp, được phản ánh trong ý thức con người dưới
hình thức một hình ảnh mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn con người
tích cực hoạt động để vươn tới lý tưởng đó.
5
- Lý tưởng khác với ước mơ ở chỗ, trong lý tưởng chứa đựng mặt nhận thức sâu
cách” để chỉ tính cách. Những nét tính cách tốt thường được gọi là “đặc tính”, “lòng”,
“tinh thần”…; những nét tính cách xấu thường được gọi là “thói”, “tật”…
- Tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của con người,
những đặc điểm này quy định phương thức hành vi điển hình của người đó trong
những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định thể hiện thái độ của họ đối với thế giới
xunh quanh và bản thân.
- Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm một hệ thống
thái độ tương đối ổn định đối với hiện thực và thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ,
cách nói năng tương ứng. Nói cách khác, tính cách là thái độ đã được củng cố trong
những phương thức hành vi quen thuộc
- Tính cách mang tính ổn định, bền vững, thống nhất và tính độc đáo, riêng biệt,
điển hình cho mỗi cá nhân. Tính cách của cá nhân chịu sự chế ước của xã hội.
- Tính cách của con người không phải là bẩm sinh, không tự nhiên có mà tính
cách được hình thành trong sự phát triển của cá nhân, dưới tác động của giáo dục và
sự tích cực rèn luyện của cá nhân. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Hiền, dữ
phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Mỗi người có một tính cách riêng cho mình, ví dụ bác Hồ một con người vĩ đại,
bác một con người có thể nói là hội tụ nhiều tính cách mà chúng ta phải học tập như
tiết cần cù, tiết kiệm, chịu khó,…
- Tính cách có cấu trúc rất phức tạp, bao gồm hệ thống thái độ và hệ thống hành
vi tương ứng:
Hệ thống thái độ của cá nhân có thể là thái độ tốt hoặc là thái độ xấu, bao gồm các
mặt sau đây:
7
• Thái độ đối với tập thể và xã hội bao gồm các thái độ tốt là: yêu nước, yêu chủ
nghĩa xã hội, thái độ chính trị, tinh thần đổi mới, tinh thần hợp tác cộng đồng … hoặc
là thái độ xấu như: bất mãn với chế độ, chống phá chế độ nhà nước.
tượng sáng tạo giúp cá nhân nắm được cái bản chất, xây dựng hình tượng độc đáo của
các hiện tượng, sự vật; thuộc tính làm chỗ dựa là tính nhạy cảm cao của bộ máy phân
tích thị giác giúp cho cá nhân nhận xét nhanh chóng các đường nét của vật thể…;
thuộc tính hỗ trợ là tình cảm, thái độ của người họa sĩ đối với sự vật và hiện tượng. Nó
tạo thành cái nền hỗ trợ cho hoạt động tạo hình.
Người ta cũng phân biệt các mức độ của năng lực: có năng lực, tài năng và thiên
tài.
Tài năng chỉ mức độ cao hơn năng lực, người có tài năng ở lĩnh vực hoạt động
nào đó chính là người có khả năng giải quyết được vấn đề một cách sáng tạo, tạo ra
được những giá trị to lớn trong cuộc sống.
Ví dụ: Nguyễn Du có tài thơ ca, Bùi xuân Phái có tài hội họa.
Thiên tài chỉ mức độ cao nhất của năng lực. Người thiên tài thể hiện sự hoàn
thành một cách xuất chúng một hoạt động nào đó, họ là những vĩ nhân trong lịch sử.
Chẳng hạn như Mác, Ăngghen, Lênin là những bậc thiên tài đã xây dựng nên học
thuyết Mác-Lênin.
Năng lực được phân loại theo các căn cứ khác nhau.
- Căn cứ vào mức độ chuyên biệt của năng lực thì người ta phân loại năng lực là
thành năng lực chung và năng lực chuyên môn (năng lực riêng).
9
- Năng lực chung là năng lực cần thiêt cho nhiều loại hoạt động khác nhau. Nó
đảm bảo cho cá nhân nhanh chóng nắm vững tri thức trong nhiều lĩnh vực hoạt động
khác nhau (ví dụ như thông minh, thính tai, tinh mắt, tháo vát…).
- Năng lực chuyên môn là loại năng lực đảm bảo cho cá nhân hoạt động đạt kết
quả đối với một lĩnh vực nhất định. Chẳng hạn các năng lực tổ chức, hội họa, toán
học, âm nhạc, sư phạm, … là những năng lực chuyên môn.
Sự hình thành năng lực: Người ta sinh ra không phải đã có sẵn năng lực đối với
hoạt động nào đó, mà phải qua quá trình hoạt động, rèn luyện năng lực mới hình thành
+ Người tính nóng: bồng bột, sôi nổi, dễ bị kích động, lăn vào công việc, dùng
nghị lực để tác động đến người khác; trực tính, kiên nghị, gặp thất bại hay thay đổi
tâm trạng, mất hứng thú, “bốc” lại khi gặp việc khác hấp dẫn.
+ Người tính hoạt: nhanh nhẹn, cân bằng, linh họat, cởi mở trong công việc mà
anh ta hứng thú; dễ quen với mọi người, chịu đựng giỏi trước những biến đổi nhanh,
thích ứng mau; dễ tiếp nhận cái mới, mềm dẻo trong cách ứng xử, dễ gây được thiện
cảm chung.
+ Người tính đằm: cân bằng về tình cảm và hành động, bình tĩnh, ung dung, tự
kiềm chế cao, suy nghĩ cẩn thận nhưng chậm chạp, khó thích ứng với những thay đổi
nhanh, khó chan hòa mau chóng mà cần thời gian mới “ăn ý” được với mọi người,
kiên trì trong công việc từ đầu đến cuối.
+ Người tính trầm (ưu): tinh tường, hay ngượng, khó tiếp xúc với mọi người; dễ
mặc cảm, tự ti; cần sự giúp đỡ, cổ vũ thường xuyên; chỉ cảm thấy tự tin trong những
tình huống quen thuộc.
11
PHẦN III : KẾT BÀI
Cùng với sự phát triển của xã hội,con người cũng đang tự mình hướng tới sự
hoàn thiện nhân cách của mình. Các mỗi quan hệ như hoạt động,giáo dục, ở gia
đình,nhà trường, xã hội là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết, để giáo dục cho con
người ta lĩnh hội được những tri thức khoa học, để ngày một phát triển nhân cách con
người đến sự hoàn mĩ..Tốc độ công nghiệp phát triển cao về kinh tế, văn hoá, xã hội
đang có sự thay đổi rõ nét. Bên cạnh đó còn tồn tại các tệ nạn xã hội,như các tệ nạn
tham nhũng gây ảnh hưởng rất lớn đến chủ nhân tương lai của đất nước đó là trẻ em.
Trong giáo dục cấp trung học phổ thông,vấn đề giáo dục và phát triển nhân cách là
một vấn đề rất quan trọng, ở lứa tuổi này các em có nhiều thay đổi về mặt tâm lý và
sinh lý nên nhu cầu hoàn thiện nhân cách để thích nghi với xã hội hoá và có thái độ