CHUYÊN ĐỀ
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG
PHÁT HUY NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TRONG GIẢNG DẠY
BÀI ÔN TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM.
TÁC GIẢ CHUYÊN ĐỀ: ĐINH THU NGỌC
GIÁO VIÊN TỔ VĂN – NGOẠI NGỮ
TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
I. Lý do xây dựng chuyên đề:
- Nếu hình dung văn học như một dòng chảy thì văn học dân gian chính là ngọn
nguồn của dòng chảy ấy. Trong giai đoạn hiện nay, chưa bao giờ Văn học dân gian
cổ truyền của dân tộc lại sống dậy huy hoàng và được nhận thức sâu sắc về giá trị
và vai trò của nó. Trong những thành tựu về việc nghiên cứu văn học dân gian cổ
truyền của dân tộc, có một luận điểm khoa học cực kỳ quan trọng được nhiều
người thừa nhận là “chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển, kết tinh
của nền văn học dân tộc”. Văn học dân gian ra đời cùng với sự ra đời của lịch sử
dân tộc và tồn tại, phát triển trong một thời gian dài trước khi có văn học viết.
Trong chương trình Ngữ Văn THPT, bộ phận văn học dân gian được triển khai học
ngay từ đầu lớp 10. Với thời lượng không nhiều và cũng chỉ đi sâu vào một số thể
loại tiêu biểu như: Sử thi,Truyền thuyết, Truyện cổ tích, ca dao, …..
- Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ Văn, đặc biệt là những tiết ôn
tập Văn học, chúng ta đã bàn nhiều đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học. Đặc
biệt, hình thức truyền thụ xem việc thuyết giảng là chính đã trở nên đơn điệu, xơ
cứng, không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay. Mối quan tâm của giáo viên
giảng dạy Văn học ở nhà trường phổ thông là phát huy tính chủ động sáng tạo của
học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học
tập bộ môn Ngữ văn nói chung và những tiết ôn tập nặng về củng cố lý thuyết nói
riêng.
- Trong nỗ lực tìm kiếm và đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất
V. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp lý luận.
- Phương pháp khảo sát, thống kê.
- Nghiên cứu thực tế: Giảng dạy, điều tra thực tế (dự giờ, nắm bắt tình hình giảng
dạy, học tập bộ môn của học sinh ...).
- Thực nghiệm sư phạm.
VI. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Áp dụng cho HS lớp 10
- Dự kiến thời lượng : 02 tiết.
PHẦN 2: NỘI DUNG
Tiết 31-32
Đọc văn
ÔN TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức - Kĩ năng - Thái độ
a. Kiến thức
- Củng cố, hệ thống hoá các kiến thức về bộ phận văn học dân gian Việt Nam đã
học như: đặc trưng, các thể loại, giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
(đoạn trích) văn học dân gian.
b. Kĩ năng
- Rèn kĩ năng hệ thống hóa, so sánh, vận dụng kiến thức lí thuyết để tìm hiểu, phân
tích một tác phẩm văn học dân gian cụ thể.
- Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giải quyết và phản
ứng nhanh với những vấn đề được đặt ra.
c. Về thái độ:
- Có tình cảm trân trọng, tự hào về văn học dân gian Việt Nam và các di sản tinh
thần của dân tộc.
2. Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:
được đặc trưng, các thể
loại, nội dung, nghệ
thuật của các bài đọc
văn đã học;
Thông hiểu
Vận dụng thấp
Ảnh hưởng của Lấy được những dẫn
văn học dân gian chứng để chứng minh.
đối với văn học
của dân tộc.
Vận dụng cao
Vận dụng hiểu
biết về đặc trưng
của văn học dân
gian để phân tích
nội dung, nghệ
thuật của các tác
phẩm VHDG đã
học;
D. THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức lớp:
- Kiểm tra sĩ số, trật tự, nội vụ của lớp
2. Kiểm tra bài cũ: (lồng ghép trong phần khởi động)
3. Tổ chức dạy và học bài mới:
KHỞI ĐỘNG
Năng
Chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt, lực cần
hôm nay, chúng ta sẽ cùng ôn tập về
VHDG theo những câu hỏi trong sgk.
tin.
-Năng
lực giải
quyết
những
tình
huống
đặt ra.
Năng
lực giao
tiếng
tiếng
Việt
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC (ÔN TẬP)
Hoạt động
của GV HS
Kiến thức cần đạt
Năng
lực cần
hình
thành
Họat động 1: Tìm hiểu: GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm kết hợp với kỹ
thuật phòng tranh.
Hướng dẫn I. Nội dung ôn tập
gọi 3 HS
và phục
thể sáng
nghệ thuật
lên
bảng
vụ trực
tác.
ngôn từ
điền vào ô
tiếp cho
truyền miệng.
các sinh
trống.
hoạt
→ HS làm
khác
theo
yêu
nhau …
cầu,
GV
chốt ý.
- GV hỏi:
Tất cả các
tác
phẩm
VHDG
trong
chương
VHDG
gồm
bao
nhiêu
thể
loại? Nêu
những đặc
trưng của
các thể loại
sử
thi,
truyền
thuyết,
truyện cổ
tích, ca dao,
truyện
cười?
→ HS nhớ
lại
trình
bày,
GV
chốt ý bằng
bảng bên.
- Các thể loại chính : thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết,
truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố,
ca dao – dân ca, vè, truyện thơ, các thể loại sân khấu (chèo,
tuồng, múa rối, các trò diễn mang tích truyện).
T Thể loại Ví dụ
phê phán.
Các
Thể hiện tình cảm, tâm tư,
5 Ca dao
bài ca nguyện vọng của tầng lớp bình
dao đã dân.
học
Truyện
Tiễn
Kể lại những câu chuyện tình
6 thơ
dặn
cảm, cũng có đấu tranh chống
người
cái ác như dưới hình thức bài
yêu
thơ dài.
Truyện dân
gian
Thần thoại
Truyền thuyết
Cổ tích
Câu nói dân Thơ dân
gian
gian
Tục ngữ
Sử thi
Vè
Truyện thơ
tích trò)
3. So sánh các thể loại đã học:
Thao tác 3:
GV Hướng
dẫn HS điền
vào bảng so
sánh ở câu
hỏi 3 SGK/
100.
→ HS thảo
luận, mối tổ
điền 1 thể
loại.
Thể
loại
Sử thi
(anh
hùng)
Truyề
n
thuyết
Truyệ
n cổ
tích
nhân vật
nhân dân
lịch sử
đối
với
có thật
các
sự
qua cốt
kiện
và
truyện
nhân vật
hư cấu.
lịch sử.
Thể hiện Kể
Xung
nguyện
đột
xã
vọng, ước
hội, cuộc
mơ
của
đấu
nhân dân
tranh
trong xã
giữa cái
hội phong
hoá.
Yếu
tố lịch
sử và
hoang
đường
đan
xen
vào
nhau.
Thông
minh, tài
giỏi, mồ
côi, bất
hạnh…
Cốt
truyện
, hình
tượng
nhân
vật
được
kiến xưa.
Mua vui, Kể
Vì
sao họ hay
cái ác,
giữa
chính
nghĩa và
gian tà.
Những
điều trái
tự nhiên,
thói hư
tật xấu.
hư
cấu.
Kiểu
nhân vật
có thói
hư
tật
xấu.
Ngắn
gọn,
tạo
tình
huống
bất
tượng cây
đa bến nước
để biểu hiện
tình cảm?
→ HS nhớ
lại trả lời,
GV
nhận
xét.
vừa biểu tượng cho sự chia li, chờ đợi hay cho những ước
muốn, khát khao về sự thủy chung tình nghĩa của con người.
- Trong ca dao hài hước, tiếng cười tự trào là tiếng cười hóm
hỉnh, hồn nhiên vô tư nhằm "thi vị hóa" cuộc sống nghèo khổ
của mình. Nó là tiếng cười tiếp sức để người ta vượt lên hoàn
cảnh. Trong khi đó tiếng cười phê phán xã hội có mục đích đấu
tranh xã hội mạnh mẽ hơn. Nó hướng vào những thói hư tật
xấu trong nội bộ hoặc lên án giai cấp thống trị ti tiện, tham
lam,... Tiếng cười phê phán có nhiều mức độ : nhắc nhở, giễu
cợt, đả kích, phủ nhận,...
b) Các biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong ca dao :
- Thường lặp lại các mô thức mở đầu : thân em, em như, cô
kia, ước gì,...
- Sử dụng nhiều các mô típ biểu tượng : gừng cay - muối mặn,
con đò, bến đợi, ngọn đèn, tấm khăn, cái cầu,...
- Sử dụng phổ biến các biện pháp so sánh, ẩn dụ, cường điệu,
tương phản đối lập.
- Sử dụng các thể thơ quen thuộc của dân gian (chủ yếu là lục
bát).
- Ngôn ngữ mang tính chất lời ăn tiếng nói hàng ngày, tuy rất
bày phần trả
lời.
GV
nhận xét và
đưa đáp án.
Nhận
xét về hai
đoạn miêu
tả
cảnh
Đam
Săn
múa khiên
và
đoạn
cuối tả hình
ảnh và sức
khoẻ
của
chàng trong
đoạn trích
Chiến
thắng Mtao
Mxây :
HS nhớ lại
kết quả trả
lời câu hỏi
về
nghệ
hoang đường,
kì ảo
Kết
cục
Bài học
của bi
rút ra
kich
Xung đột Bi kịch Thần Kim Quy,
Mất Cảnh
giữa An tình yêu lẫy nỏ thần, rùa tất cả giác
Dương
giữa Mị vàng đưa An (tình trong giữ
Vương - Châu và Dương Vương yêu,
nước.
Triệu Đà Trọng
xuống
biển, gia
- Cần đặt
thời
Âu Thuỷ
ngọc trai - đình, tình cảm
Lạc nước
nước giếng.
đất
cá nhân
ta.
nước) trên cộng
.
liệt kê các
biện pháp
nghệ thuật
thường
dùng. Nêu ý
nghĩa
và
dẫn chứng
Gợi ý:
Ý nghĩa
So sánh
Ẩn dụ
Hoán dụ
Nói quá
Nói
ngược
Tương
phản
Ví dụ
Là cách đối chiếu sự
vật này với sự vật khác
trên cơ sở những nét
Làm trrai cho đáng
nên trai- Khom lưng
uốn gối gánh hai hạt
vừng
Cách nói làm cho
những gì trái ngược
nhau nhưng lại nằm
trong hình thức thuận
chiều.
Cách nói tạo thành hai Chồng người đi
vế ngược nhau
ngược
về
xuôiChồng em ngồi bếp
sờ đuôi con mèo
-Năng
lực hợp
tác,
trao
đổi,
thảo
luận.
- Năng
lực giải
quyết
vấn đề:
Năng
điệp,
lấy
được bí
mật
chiếc
nỏ. An
Dương
Vương
mất
nước.
Mị
Châu,
Trọng
Thuỷ
Bi kịch
của Mị
ChâuTrọng
Thủy là
bi kịch
của tình
yêu: Mị
Châu vì
tình yêu
mà mất
cảnh
giác;
Trọng
Thủy vì
mâu
trai (theo
lời nguyện
của
Mị
Châu
trước khi
chết)
+
Ngọc
trai- giếng
nước (rửa
nước
giếng
Trọng
Thủy,
ngọc trai
sáng lên).
Tính chất
của bi kịch
Bi kịch mang
tính chất lịch
sử: đánh dấu
một
bước
ngoặt
lớn
trong lịch sử
dân
đều
bị
chết.
rơi vào
bi kịch
Bài tập 3- Phân tích truyện cổ tích Tấm Cám để làm rõ
đặc sắc nghệ thuật của truyện là sự chuyển biến hình tượng
nhân vật Tấm(SGK)
Gợi ý:
+ Trong truyện Tấm Cám, nhân vật Tấm có sự chuyển hóa
liên tục, từ chỗ yếu đuối, thụ động, đến chỗ kiên quyết đấu
tranh giành lại sự sống và hạnh phúc cho mình”.
+ Chứng minh qua các giai đoạn:
- Yếu đuối, thụ động: từ đầu đến chỗ Tấm chết hóa thành
con chim vàng anh. Trong đoạn này, nhân vật Tấm chủ yếu
xuất hiện với tư cách nạn nhân, là con người nhỏ bé, yếu đuối,
bị áp bức...
- Chuyển hoá thành chủ động, kiên quyết đấu tranh giành
lại sự sống và hạnh phúc cho mình: từ chỗ hóa thành chim
vàng anh đến hết truyện. Trong đoạn này, Tấm trở nên chủ
động, kiên quyết, mạnh mẽ hơn. Biểu hiện của những phẩm
chất đó qua tiếng chim Vàng Anh (Giặt áo chồng tao...), qua
tiếng khung cửi (Kẽo cà kẽo kẹt- Lấy tranh chồng chị- Chị
khoét mắt ra...); qua cả việc hóa thân qua các kiếp khác: kiếp
làm con chim, kiếp làm cây xoan, cây thị..., và cuối cùng trở về
kiếp con người.
+ So sánh với các truyện cổ tích khác (như Thạch Sanh,
Sự tích trầu cau và vôi...): Các truyện cổ tích khác ít có không
đã dốt lại
hay dấu
dốt
Thói tham
ô, ăn hối lộ
nhất là bị người nhà chất
vấn
Hai người cùng hối lộ
quan, quan xử kiện dựa
theo số tiền nhận hối lộ
c) Một số bài ca dao có:
- Chiếc khăn, chiếc áo :
- Biểu tượng cây đa, bến nước, con thuyền:
d) Một số câu ca dao hài h ước có tính chất giải trí, mua vui
:
- Ai làm chùa ngã xuống sông
Phật nổi lổm ngổm, chuông đồng chìm theo.
- Cái bống đi chợ Cầu Canh
Cái tôm đi trước củ hành đi sau
Con cua lạch tạch theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
- Ngồi buồn đốt một đống rơm
Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào
Khói lên đến tận Thiên Tào,
Ngọc Hoàng phán hỏi, thằng nào đốt rơm?
Bài tập 6- (SGK)
Hình tượng “lửa thử vàng” dẫn đến việc dùng từ “sáng
loà” trong câu: “Nước Việt Nam từ máu lửa- Rũ bùn đứng dậy
sáng loà”.
Và bài ca dao:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Do ý tứ của bài ca dao này mà Nguyễn Đình Thi đã sử
dụng từ “bùn” trong “Rũ bùn đứng dậy... ”.
Một số câu thơ (bài thơ) của các nhà thơ trung đại hoặc
hiện đại có sử dụng văn học dân gian làm chất liệu sáng tác:
- Câu trong Truyện Kiều :
Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
lấy ý từ câu ca dao:
Ai đi muộn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy.
- Hoặc nhà thơ Tố Hữu viết:
Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm lỡ để trên đầu.
Là khởi hứng từ truyền thuyết An Dương Vương và Mị
Châu - Trọng Thủy.
- Truyện Thánh Gióng cũng gợi ý cho nhà thơ Chế Lan
Viên viết hai câu thơ rất hay trong bài Tổ quốc bao giờ đẹp thế
này chăng? :
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng.
b. Hát
c. Diễn
d. Tất cả các hình thức trên
Câu hỏi 3: Ðánh giá nào sau đây
chưa đúng về ngôn ngữ của văn học
dân gian ?
a. Ngôn ngữ được dùng trong sáng
tác văn học dân gian là ngôn ngữ nói.
b. Ở Ðó là thứ ngôn ngữ thô sơ, đơn
giản
c. Ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu nhưng
cũng rất bóng bẩy
d. Ngôn ngữ của người bình dân
- HS thực hiện nhiệm vụ:
- HS báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ:
VẬN DỤNG
Hoạt động của GV - HS
GV sử dụng phương pháp
thảo luận nhóm và kỹ thuật
trình bày 1 phút.
GV giao nhiệm vụ: Qua
truyền thuyết An Dương
Vương và Mị Châu – Trọng
Thủy , bằng những hiểu biết
của mình, em hãy phát biểu
cách đánh giá của bản thân về
nhân vật Mị Châu.
thân cha đẻ chém đầu là hoàn toàn
hợp lí . Mị Châu gánh chịu bản án
lịch sử xuất phát từ truyền thống
yêu nước của dân tộc.
++Tuy nhiên, tất cả tội lỗi của
Mị Châu đều xuất phát từ sự quá
ngây thơ và cả tin, nên khi chết đi,
xác nàng biến thành ngọc thạch,
máu trai sò ăn phải biến thành hạt
châu . Sự hóa thân của Mị Châu thể
hiện lòng bao dung của nhân dân
đối với nàng.
- Nhận xét: Mị Châu chính là
nạn nhân của chiến tranh xâm lược,
của dã tâm con người.Qua nhân vật
Mị Châu nhân dân muốn lên án
chiến tranh xâm lược và rút ra bài
học lịch sử cho ngàn đời: phải biết
dung hòa giữa nước với nhà, giữa
chung với riêng.
3/ Kết bài: Khẳng định lại giá
trị truyền thuyết và hình tượng nhân
vật Mị Châu.
MỞ RỘNG , PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG SÁNG TẠO
Hoạt động của GV - HS
Kiến thức cần đạt
ngôn ngữ nói nhằm tạo cho các em một thái độ tự tin vào bản thân, có thể làm chủ
được mình khi trình bày ý kiến trước tập thể.
- Tạo mối quan hệ gần gũi giữa giáo viên và học sinh để giáo viên có điều kiện
hiểu hơn về năng lực của học sinh. Từ đó có biện pháp giảng dạy thích hợp hơn,
ngược lại học sinh có thể cảm nhận được sự quan tâm sâu sắc của giáo viên đối với
mình.
Trong phạm vi chủ đề nhỏ này tôi đã chia sẻ cùng các đồng nghiệp một số
kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy, hướng dẫn học sinh tìm
hiểu bài ôn tập Văn học dân gian Việt Nam. Rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các đồng chí.
Tôi xin chân thành cảm ơn các quí vị đại biểu, các thầy giáo, cô giáo đã chú
lắng nghe những chia sẻ của tôi trong bài viết này.
Cuối cùng tôi xin gửi tới quí thầy cô lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành
công! Xin trân trọng cảm ơn!