Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miểu tả cho học sinh lớp 4 - Pdf 53

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT THỌ XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG
VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Thành – Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2018


MỤC LỤC
TÊN ĐỀ MỤC
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
II. Thực trạng
1. Thực trạng về việc dạy và học Tập làm văn của giáo viên và học sinh.
2. Thực trạng dạy và học Tập làm văn của lớp 4B trường Tiểu học
Xuân Thành – Thọ Xuân
III. Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
Biện pháp 1: Rèn viết những câu văn sinh động, có hình ảnh.

2
3
4
4
4
4
5
5
7
8
8
8
10
10
10
10
14
14
15
15
15
17
18
19 - 26

A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Đảng ta đã nhận định “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo
dục quốc dân”, nền tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu trúc bền


viết văn cho học sinh, tạo cơ sở để các em học tốt môn văn lớp trên.
II. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu cách rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 như thế nào để
đạt hiệu quả nhất.
- Tìm ra phương pháp tối ưu nhất dạy viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.


- Lí giải cho những vướng mắc, cách ứng xử những tình huống có thể xảy ra khi
dạy kiểu bài văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn.
- Nhằm giúp học sinh viết được những câu văn sinh động, có hình ảnh, các ý
được liên kết chặt chẽ, diễn đạt rõ ràng góp phần nâng cao chất lượng viết văn
miêu tả cho học sinh lớp 4.
III. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 trường
Tiểu học Xuân Thành – Thọ Xuân – Thanh Hóa.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp điều tra giáo dục.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp ngữ liệu
- Phương pháp thống kê

B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
Học tốt là điều kiện đầu tiên chắp cánh cho ước mơ và hoài bão cho các
em được bay cao, bay xa. Học tốt văn giúp cho tâm hồn của các em thêm phong
phú, nó góp phần đóng góp những tình cảm lớn, tư tưởng lớn ở các em.
Chúng ta thấy rằng làm văn miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện
ra "vẽ ra" trước mắt người đọc, người nghe bức tranh cụ thể về một đối tượng đã

thiếu hình ảnh... nhiều bài văn miêu tả còn sa vào kể lể, câu văn cụt lủn, dùng từ
thiếu chính xác.
Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát và chất lượng như sau:
Lớp

4B

Tổng số
HS

Số HS
hoàn thành tốt

Số HS
hoàn thành

Số HS
chưa hoàn thành

SL

%

SL

%

SL

%

b) Sắp xếp các cụm từ sau thành câu:
- Hai bên đường.
- Các con đường ở thôn Cảnh Dương.
- Nhà cửa mọc san sát.
- Cát mịn và thẳng tắp.
HS sắp xếp được: Hai bên đường nhà cửa mọc san sát.
Các con đường ở thôn Cảnh Dương cát mịn và thẳng tắp.
c) Dùng dấu chấm, dấu phẩy ngắt câu và viết hoa cho đúng đoạn văn sau:
Bây giờ đang tháng ba đồng cỏ vẫn giữ nguyên vẻ đẹp như hồi đầu xuân
bầu trời cao vút xa xa trập trùng những đám mây trắng không khí trong lành
ngọt ngào đàn bò tung tăng nhảy đám cỏ trước mặt đàn bò gặm một loáng sạch
trơn chúng nhảy cẫng lên rồi đuổi nhau thành một vòng tròn.
Phần luyện câu đúng đã được tôi lồng vào trong các tiết dạy về câu và từ,
học sinh đã biết viết câu đúng theo cấu trúc ngữ pháp.
2. Mở rộng câu:
Tôi dạy chủ yếu trong tiết luyện từ và câu, tập làm văn là nhiều.
Từ một câu ngắn chỉ có bộ phận nòng cốt hoặc một ý cho trước tôi hướng
dẫn học sinh mở rộng câu bằng cách thêm các từ, sử dụng các hình thức làm câu
văn chân thực, sinh động. Bài tập yêu cầu từ dễ đến khó.
Ví dụ:
Thêm từ vào dấu (...) hoặc vạch xiên (/) để câu văn sinh động.
+ Bông cúc / đẹp.
Học sinh sẽ suy nghĩ thêm từ ngữ nói về bông cúc, bộc lộ vẻ đẹp của nó như:
Bông cúc xòe những cánh hoa trắng tinh, rung rinh vui đùa trước gió trông thật
là đẹp.
+ Phía đông .......mặt trời ......nhô lên đỏ rực.
Học sinh suy nghĩ điền: Phía đông sau những rặng núi xa xa, mặt trời như quả
cầu lửa nhô lên đỏ rực.
+ Con mèo ......bắt được con chuột........
Học sinh điền: Con mèo với cú nhảy điêu luyện đã bắt được con chuột trong

thân thiết, thấy đẹp, mới viết được những câu văn hay, đúng, gợi cảm, dễ thuyết
phục người đọc.
4. Sử dụng các biện pháp tu từ.
a. So sánh:
Ban đầu giáo viên cho học sinh làm quen với một số dạng bài tập về thành
ngữ, quán ngữ.
Ví dụ: - Đen như (than)
- Nhanh như (cắt).


- Đỏ như (son)
- Cứng như (thép).
Học sinh dựa vào tính chất các sự việc xung quanh để so sánh. Quen dần đưa ra
các dạng bài tập: điền vào chỗ chấm các câu sau:
- Cây bàng ở trước trường gốc to như...........tán lá sum suê tựa ...........
- Mẹ em có mái tóc đen như ........, bà em có mái tóc trắng như.............
Học sinh phải dùng óc liên tưởng, nhận xét, so sánh với nghĩa giống để tìm ra:
- Gốc bàng to như cột đình, tán lá sum suê tựa như cái ô khổng lồ.
- Mẹ em có mái tóc đen như gỗ mun, bà em có mái tóc trắng như cước.
b. Nhân hóa:
Học sinh biết sử dụng biện pháp nhân hóa, biến đồ vật, loài cây, cây cối
có hoạt động, tình cảm, suy nghĩ như con người. Học sinh biết gọi đồ vật, loài
vật là cậu, cô, chú, anh..., thể hiện sự gần gũi thân thiết với các vật tả. Khi dạy
phần này giáo viên cần đưa ra các dạng bài tập như sau: Dùng biện pháp nhân
hóa viết lại các câu sau:
- Mấy con chim hót ríu rít trên cành cây.
- Những bông hoa nở trong nắng sớm.
Học sinh tìm ra các hoạt động, trạng thái chính của sự vật trong câu cần nhân
hóa, từ đó diễn đạt lại câu.
Ví dụ : Mấy con chim trò chuyện ríu rít trên cành cây.

Đọc dạng bài tập này học sinh sẽ nhận ra vị ngữ đứng trước, chủ ngữ đứng sau.
Nội dung của câu đảo ngữ nội dung hay hơn, sâu hơn, nhấn mạnh ý cần nói: Ta
cảm thấy Tổ quốc đẹp hơn, màu hoa thơm hơn, trắng hơn, gây ấn tượng mạnh
cho người đọc....
Nói tóm lại : So sánh, nhân hóa, điệp ngữ, đảo ngữ là một số biện pháp tu
từ luyện câu, học sinh được học qua làm bài tập, nắm bản chất để vận dụng vào
việc luyện viết câu văn của mình.
5. Luyện từ:
Từ đúng, hay, giàu hình ảnh đặt đúng chỗ trong câu sẽ mang lại hiệu quả
cao. Trong khi giáo viên cần cho học sinh nắm rõ nghĩa của từ, chọn lựa từ để
diễn đạt các chi tiết cụ thể. Các tiết tập đọc, từ ngữ phục vụ đắc lực cho dạng bài
tập này. Giáo viên có thể cho học sinh hiểu từ, ý của từ trong văn cảnh, từ đứng
độc lập.
Một số dạng bài tập thực hành cho học sinh:
a. Tìm từ:
- Tìm những từ ngữ chỉ ý "to" khi nhận xét về con vật, đồ vật. (to, lớn, đồ sộ,
phổng phao...)
- Tìm những từ chỉ mức độ của mùi thơm. (thơm thoang thoảng, thơm lừng,
thơm ngát, thơm ngây ngất...)
- Tìm từ ghép, hoặc từ láy theo mẫu: Trắng + x; đỏ + x...(trắng phau, trắng
ngần, trắng trẻo, đỏ ối, đỏ rực, đo đỏ...)


b. Sắp xếp từ theo nhóm.
- Sắp xếp các từ sau thành nhóm, đặt tên cho mỗi nhóm : béo, phản bội, tầm thước,
gầy, trung thực, hiền lành, thông minh, thấp...( 2 nhóm: hình dáng và phẩm chất).
- Sắp xếp các cặp từ trái nghĩa: Sống, đẹp, khôn, tươm tất, luộm thuộm, chết,
xấu, ngu đần...
c. Tìm nghĩa của từ.
+ Tìm nghĩa của từ "nhà" trong các ví dụ sau:

Ở các tiết luyện từ và câu, các tiết trả bài, tôi đã đưa ra các bài tập về sắp
xếp câu thành đoạn.
Ví dụ : Sắp xếp các câu sau thành đoạn.
+ Thế là tôi mạo hiểm trèo lên bắt chú sáo mỏ vàng.
+ Tôi đang mơ ước có một chú sáo biết nói.
+ Một hôm, tôi phát hiện thấy một chú sáo mỏ vàng cực đẹp trên cây đa cao tít
trước nhà.
+ Sáng nay có lẽ tôi cài lồng không kĩ nên khi đi học về thì không thấy sáo đâu nữa.
Hôm nào trước khi đi học, tôi cũng đều cho sáo ăn.
+ Tôi đem sáo về chăm sóc rất kĩ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ các câu, nắm ý của từng câu, diễn
biến sự việc để sắp xếp thành một đoạn văn theo trình tự hợp lí.
2. Luyện viết đoạn văn theo chủ đề.
VD: - Viết 1 đoạn văn ngắn (5 -7 câu) giới thiệu cái thước của em.
- Viết 1 đoạn văn ngắn (5 - 7 câu) miêu tả vẻ đẹp của cây bàng.
Đây là loại bài tập viết văn ngắn, nêu yêu cầu chỉ định về số lượng câu.
Học sinh viết giới thiệu về một đối tượng nhất định. Tương tự như thế, ở mỗi đề
tập làm văn, có thể yêu cầu học sinh lập dàn bài cụ thể, cho cả lớp luyện tập viết
phần mở bài, kết luận hoặc chọn những chi tiết chính phần thân bài viết thành
đoạn văn. Yêu cầu học sinh đọc kết quả bài làm giáo viên hướng dẫn cả lớp
cùng sửa chữa, bổ sung nêu ý kiến.
Giáo viên có thể hướng dẫn vài cách viết đoạn văn: Diễn dịch, quy nạp,
phép lặp...với học sinh lớp 4B đa số các em viết theo phương pháp diễn dịch.
VD : Cây bàng mùa xuân thật đẹp. Những cành khẳng khiu trụi lá hôm nào giờ
đã tràn đầy lộc biếc. Dáng mọc của lộc rất lạ, thẳng đứng trên cành, như thể
đêm qua có ai đã thả ngàn vạn búp lá nhỏ xíu từ trên trời, xanh biếc chi chít
đầy cành. Lá non lớn nhanh, đứng thẳng và cao chừng gang tay, cuộn tròn như
những chiếc tai nhỏ. Tán bàng giờ là một màu áo lục non lỗ đỗ những vệt hoa
hồng thắm.
Hoặc : "Cái cặp của em rất đẹp" sau đó kể các chi tiết phục vụ cho cái "đẹp" mà

Biện pháp 3: Rèn viết bài văn có bố cục chặt chẽ.
Thường một bài văn viết, giáo viên hướng dẫn cho học sinh theo 3 phần:
Mở bài, thân bài, kết bài.
1. Phần mở bài:
Các em thường giới thiệu đối tượng mình sẽ nói tới: Vật gì? con gì? cảnh gì?
Đây sẽ là một đoạn văn ngắn mà theo tôi càng cô đọng càng hay. Các em có thể mở
bài bằng một lời khen, một lời nhận xét hoặc một câu hỏi, một lời khẳng định.
Có rất nhiều cách mở bài: Có thể từ khái quát đến cụ thể, hoặc ngược lại hay theo
kiểu tương liên (mượn một ý đồng nhất, một câu thơ, một lời hát để dẫn dắt)


VD: Đề bài: Tả một cây ăn quả mà em thích.
Học sinh có thể viết mở bài: Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày.
Mỗi khi nghe câu hát ấy em lại nhớ đến hình ảnh cây khế ở góc vườn, nó gắn
liền với những kỉ niệm vui buồn của tuổi thơ em.
Hay với đề bài: Tả một cây có bóng mát (hoặc cây ăn quả).
Học sinh có thể viết mở bài theo sự kiện (Mở bài gián tiếp): Hè vừa qua, em
được bố mẹ cho đi nghỉ ở bãi biển, có biết bao cảnh đẹp nhưng em thích nhất là
được ngồi dưới bóng cây dừa để hưởng những làn gió mát rượi.
Hoặc mở bài trực tiếp: Trong khoảng sân nhỏ trước nhà, bố em trồng một cây
bưởi diễn đã được bốn năm rồi.
Cách dẫn dắt vào bài ngắn, gọn, hay sẽ lôi cuốn và gây được sự thích thú của
người đọc từ ban đầu.
2. Phần thân bài
Phần chính xuyên suốt toàn bộ nội dung miêu tả. Các em phải thực hiện
khâu ghép kết các đoạn văn theo dàn ý. Tôi luyện, khuyến khích các em sáng tạo
trong viết văn, có thể đan xen thời gian, không gian, quá khứ, hiện tại...một cách
thuyết phục trong văn tả các em được xem rồi đánh giá, sau đó dùng ngòi bút
của mình để tả, thể hiện cách nhìn về sự vật và ở bất cứ sự vật tả nào cũng xuất

Ví dụ; Trong số các đồ dùng học tập của mình, bạn yêu quý cái gì nhất: Bút,
thước hay vở? riêng tôi, tôi yêu quý nhất chiếc cặp. Đó là phần thưởng bố đã
mua tặng tôi vào đầu năm học mới.
Ở cách này phần kết luận, các em nhắc lại nội dung đó như một lời khẳng
định gửi gắm tình cảm.
Như vậy bài văn là sự kết hợp nhiều đoạn văn có mở bài, phát triển bài và
kết luận. Tất cả phải được gắn kết với nhau theo các phép liên kết cơ bản, theo
trật tự ý đoạn. Các em chưa được học kỹ về văn bản, do đó qua các bài luyện
tập, lập dàn ý, trả bài giáo viên cần hướng dẫn cho các em ý thức ban đầu hiểu
về sự liên kết ý.
Đặc biệt văn miêu tả học sinh vẽ lại các hình ảnh của sự vật bằng ngôn
ngữ theo cách nhìn, xét đoán của lứa tuổi học sinh. Lời viết cần chân thực, dễ
hiểu, không bóng bấy. Có nhiều học sinh sử dụng tài liệu tham khảo máy móc,
không hiểu rõ từ vẫn "bắt chước" sao chép vào bài văn. Vì vậy khi trả bài giáo
viên nên đưa các từ sai cụ thể ra cùng lớp sửa chữa.
Tóm lại: Rèn kỹ năng viết câu đúng, hay, luyện đoạn văn liên kết ý và rèn
viết bài văn có bố cục là 3 phần cơ bản trong việc rèn kỹ năng viết bài tập làm
văn cho học sinh. Với mỗi đề tập làm văn, các em được giáo viên hướng dẫn
phân tích, tìm hiểu đề, tìm ra nội dung, trọng tâm chính cần viết, những chi tiết,
bộ phận cần nhấn mạnh, lướt qua, chuẩn bị bài nói thật chu đáo. Qua phần trình


bày miệng các em được thực hành diễn đạt, được giáo viên sửa chữa, bổ sung
hoàn chỉnh thì bài viết của các em được tốt, hiệu quả hơn.
* Hướng dẫn đề bài cụ thể
Đề bài: Em hãy tả một con gà mái dẫn đàn con đi kiếm mồi ra dáng người mẹ
chăm làm, luôn luôn bận bịu vì con. (có thể nhân hóa cho mẹ con nhà gà trò
chuyện với nhau trong khi đi kiếm ăn).
* Bước 1: Để dạy tốt bài này trước hết tôi phải cho học sinh xác định yêu cầu
của đề: Tả con gì? Trong hoàn cảnh nào? Điều gì cần làm nổi bật? (Dáng vẻ

b. Hoạt động tính nết của gà mái mẹ.
- Dáng dấp gà mẹ đi kiếm mồi như thế - Chị dùng đôi chân nứt nẻ bám đầy
nào?
đất bụi bới đất tìm mồi đôi mắt chăm
- Hoạt động kiếm mồi của gà mẹ có gì chú...


đặc biệt?

- Chị gọi đàn con chia mỗi đứa một
miếng...

- Khi kiếm được mồi, gà mẹ làm động
tác gì? (Gọi con, cho con ăn, ngó - Chúng ăn hết phần chia, lại tranh
nghiêng canh chừng xung quanh)
nhau, chị nhẹ nhàng lấy mỏ mổ nhẹ
- Thái độ của gà mẹ đối với đàn con vào đầu cảnh cáo chúng...
trong khi ăn? Chúng trò chuyện với - Ăn xong gà mẹ dẫn đàn con đi uống
nhau như thế nào?
nước rồi hóng mát trên cồn đất cao...
- Ăn xong gà mẹ làm gì? Các con làm
gì? Thái độ của gà mẹ lúc đó ra sao?
Gà mẹ "nói" gì với các con? Các con
"nói" gì vớ i gà mẹ?...
* Mục a , b có thể tả xen lẫn trong phần thân bài.
3. Kết luận:
Nhìn gà mẹ cặm cụi kiếm mồi cho đàn - Gà mẹ luôn luôn là người mẹ hết
con, chăm sóc đàn con em có cảm lòng vì đàn con...
nghĩ gì?
Hoặc: Hình ảnh đàn con quây quần

* Bước 4: Hướng dẫn học sinh đọc sửa chữa từng câu, từ, đoạn.
* Bước 5: Chép bài văn vào vở hoặc giấy.
Kết quả sau bài dạy:
Qua bài tập làm văn trên tôi thấy đa số các em đã biết lựa chọn từ ngữ, hình
ảnh, viết được những câu văn gợi cảm, hay; đoạn văn logic, bài văn súc tích.
100% các em viết bài văn đủ ý; 50% các em viết bài văn hay, logic.
Biện pháp 4: Tích lũy các từ ngữ, hình ảnh văn học.
Hướng dẫn các em cách dùng "sổ tay văn học”. Tôi khuyến khích học
sinh sau mỗi bài tập đọc lựa chọn một vài từ ngữ hoặc câu văn miêu tả hay ghi
lại, hay khi đọc sách báo tham khảo, nghe đài, xem vô tuyến,... biết được từ, câu
nào hay các em ghi ngay vào sổ tay của mình. Cứ như vậy giúp các em tích lũy
dần vốn từ ngữ miêu tả, khác gì con sông chắt chiu dần từng hạt phù sa để một
lúc nào đó cả một bãi phù sa màu mỡ đột ngột hiện lên trước mắt mọi người
chuẩn bị cho những vụ rau màu tươi xanh, bội thu.
Vì thế, mỗi HS trong lớp tôi đều có cuốn sổ tay và các em thi nhau ghi
được khá nhiều những câu, từ có hình ảnh, gợi tả, gợi cảm rất độc đáo.
VD: - Trên những cành hoa trong vườn còn đọng lại những hạt mưa như hạt ngọc.
- Mùa xuân, lá bàng mới nảy trông như những ngọn lửa xanh.
- Chàng Nhái Bén gầy, cao lêu đêu, hai cái đùi bé quắt mà dài quá nửa thân mình.
- Chiếc lá chuối ở giữa vườn cao, mở to như một cánh buồm no gió của chiếc
thuyền đang lướt đi giữa con sông lớn...


- Dòng sông như một dải lụa đào vắt lên chiếc áo màu xanh của ruộng đồng.
Tích lũy vốn văn học, ghi chép các câu văn, thơ hay giống như con ong
cần cù hút nhụy hoa. Đến một lúc nào đó, qua sự chế biến, nhụy sẽ biến thành
mật.Vốn văn học tích lũy dần như là những viên gạch dùng để xây nhà, có nhiều
gạch thì nhà dễ xây.
Có vốn từ ngữ nhưng phải dùng nó đúng lúc, đúng chỗ. Văn chương cần
hình ảnh, nhưng lạm dụng hình ảnh, tạo nên hình ảnh cầu kì hay sáo mòn thì

SL

15

60

10

%

Số HS
chưa hoàn thành
SL

TL

0

0

25
40

C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Qua tìm hiểu một số biện pháp "Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học
sinh lớp 4" tôi rút ra kết luận sau:
- Rèn kĩ năng viết một bài tập làm văn cho học sinh lớp 4 đó là một quá trình lâu
dài, đòi hỏi phải có thời gian, có sự kiên trì tập luyện cho học sinh. Viết được
một bài văn đạt yêu cầu đó là kết quả của nhiều giai đoạn, nhiều quá trình. Bởi

khảo, thường xuyên tự học, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ của bản thân.
- Học hỏi đồng nghiệp để tích lũy kinh nghiệm giảng dạy, nâng cao trình độ
chuyên môn.
* Đối với học sinh:
- Có đủ đồ dùng học tập, sách giáo khoa, sách tham khảo.


- Chú ý theo dõi sự hướng dẫn của giáo viên.
- Chủ động, tích cực suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo trong học tập.
- Hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài.
- Mạnh dạn trao đổi những băn khoăn, vướng mắc với bạn bè, thầy cô.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi về dạy viết văn miêu tả cho
học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học…. Do thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, kinh
nghiệm chưa nhiều, trong khi thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót,
kính mong được sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ chân thành của Hội đồng khoa
học các cấp để đề tài của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xác nhận của BGH nhà trường

Ngày 15 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người thực hiện

Lê Thị Hạnh


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)

Tên đề tài SKKN

Năm học đánh
giá xếp loại

Một số biện pháp rèn kĩ năng
1.

giải các dạng toán có nội dung

Phòng GD

C

2012 - 2013

Phòng GD

C

2015 - 2016


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status