Nâng cao hiệu quả công tác thu thuế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 53

PHẦN 1- MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước và là công cụ điều
tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy mà các nhà kinh tế, các nhà
quản lý luôn quan tâm nghiên cứu về chính sách thuế của quốc gia nói chung
và của từng địa phương nói riêng. Trọng tâm của các nghiên cứu là: làm thế
nào để chính sách thuế đạt được mục đích tạo nguồn thu vững chắc, đảm bảo
cân đối thu chi Ngân sách Nhà nước; đồng thời góp phần phát huy tác dụng
điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện công bằng xã hội.
Tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh mới được tái thiết lập lại từ năm 1989, đã
nhanh chóng hoà cùng với cả nước tạo thế, tạo đà vững bước đi lên; xây
dựng Thừa Thiên Huế trở thành một trung tâm kinh tế-văn hoá-du lịch ngày
càng vững mạnh. Trong quá trình phát triển kinh tế, tỉnh đã luôn quan tâm
xây dựng ngành tài chính - thuế tạo nguồn thu ngân sách, đáp ứng được
nhiệm vụ chi tiêu ngày càng cao của tỉnh nhà.
Kết quả thu ngân sách qua các năm ngày càng tăng, nhờ chính sách
thuế đã phần nào hợp lý, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
phát triển; nuôi dưỡng được nguồn thu; Hệ thống quản lý thu thuế đã từng
bước cải cách, hiện đại hóa, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng cho
đội ngũ công chức thuế, tăng hiệu quả trong quản lý thu thuế. Tuy nhiện,
Hệ thống chính sách thuế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề ở chính sách thuế,
cũng như trong quá trình tổ chức quản lý thu thuế. Hệ thống chính sách thuế
chưa bắt nhịp được với sự phát triển ngày càng cao về khoa học, công nghệ.
Sự hội nhập và quá trình toàn cầu hóa một cách nhanh chóng đã làm cho
chính sách thuế cũng như công tác tổ chức quản lý thuế bộc lộ nhiều bất cập
1
và tính khả thi thấp. Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức quản lý thu thì chưa phù
hợp, thiếu chặt chẽ, chồng chéo, nặng nề nên gây thất thu lớn về số lượng cơ
sở, đơn vị thực tế có kinh doanh nhưng không nộp thuế hoặc nộp không đầy
đủ, nợ đọng dây dưa thu ngân sách. Trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế chưa
phát huy hết tác dụng của công cụ thuế để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh có

phương pháp nghiên cứu truyền thống và được sử dụng rộng rãi trong nghiên
cứu khoa học xã hội đã được sử dụng. Cụ thể của các phương pháp nghiên
cứu này là: phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp điều tra, thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu thống kê,
phương pháp phân tích định lượng và phương pháp hạch toán, tứclà sử dụng
hệ thống các chỉ tiêu GO, IC, ... để đánh giá kết quả và hiệu quả công tác
quản lý thu thuế.
4. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3 phần chính : ngoài phần mở đầu, kết luận, phần chính
của luận văn gồm bốn chương :
Chương 1 : Tổng quan lý luận về thuế và công tác quản lý thu thuế.
Chương 2 : Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3 : Thực trạng công tác thu thuế trên địa bàn tỉnh TT-Huế.
Chương 4 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
thu thuế trên địa bàn Thừa Thiên Huế.
3
PHẦN 2- NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THU THUẾ
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ THUẾ NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm về thuế
Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khi các Nhà nước hình thành, song các
lý luận về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt
đối khái niệm về thuế [33]. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế
đưa ra, mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó không
phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này. Gần đây trong một
số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản
chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật được các khía cạnh sau : Nội
dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước

viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước ta [39].
Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một
phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ
phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà
không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người
nộp thuế.
Tính cưỡng bức, bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn
từ những lý do sau :
5
Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không
gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương
pháp tự nguyện trong việc chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công
cộng Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc các đối
tượng có thu nhập phải chuyển giao [21].
Thứ hai, trong một xã hội hiện đại, các thành viên của cộng đồng
ngày càng có nhu cầu cao về hàng hóa công cộng [20]. Nhìn chung đại bộ
phận hàng hóa công cộng do Nhà nước sản xuất và cung cấp. Để sản xuất và
cung cấp hàng hóa công cộng tất yếu phải bỏ chi phí, các chi phí đó phải
được bù đắp từ nguồn thu nhập của những người thụ hưởng hàng hóa công
cộng. Song do tính chất của hàng hóa công cộng không thể phân bổ theo
khẩu phần để sử dụng và không muốn sử dụng theo khẩu phần, do đó, không
có tính cạnh tranh, không thể trao đổi theo cơ chế thị trường. Chính vì vậy
trong việc cung cấp hàng hóa công cộng xuất hiện “người ăn không” nghĩa là
không tự nguyện trả tiền cho việc thừa hưởng hàng hóa công cộng. Do vậy
để có chi phí cho việc cung cấp hàng hóa công cộng, Nhà nước chỉ có thể sử
dụng phương pháp bắt buộc “người ăn không” chuyển giao thu nhập từ khu
vực tư sang khu vực công [22].
Tuy nhiên tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là
hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi
biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa

hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định.
Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của
nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự
biến động của ngân sách Nhà nước...
7
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế của Nhà
nước, tâm lí, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội
của dân tộc...Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã
hội như vậy nên người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã
hội tổng hợp [23].
e) Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới
hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lí của nhà nước đối
với con người và tài sản [23].
Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản
chất và nội dung bên trong của thuế. Từ những thuộc tính đó giúp ta phân
biệt thuế với các hình thức động viên khác của ngân sách nhà nước trên
nhiều phương diện khác nhau.
1.1.3. Hệ thống thuế và phân loại thuế
1.1.3.1. Khái niệm hệ thống thuế
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức khác nhau mà giữa chúng có
mối quan hệ mật thiết bao hàm việc xây dựng các sắc thuế, loại thuế;
phương pháp thu, nộp trên những nguyên tắc nhất định .Tùy thuộc vào khả
năng và ý đồ của từng Nhà nước trong việc điều tiết dòng thu nhập quốc dân,
ở những giai đoạn lịch sử cụ thể mà hình thành những hệ thống thuế khác
nhau. Tuy vậy, bất kỳ một hệ thống thuế nào cũng phải bao gồm 2 bộ phận :
Hệ thống chính sách thuế và Hệ thống quản lý thuế. Chính sách thuế là tổng
hợp các phương hướng của Nhà nước trong lĩnh vực thu nộp thuế; quản lý
thuế là các biện pháp, thủ pháp thực hiện chính sách thuế để đạt được những
mục tiêu đã định
Khi xem xét hệ thống thuế của một quốc gia nhất định, người ta ít

cường hạch toán kinh tế, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh. Thực
hiện tốt chính sách kinh tế đối ngoại trong quá trình hội nhập với khu vực và
thế giới.
+ Về xã hội : Từng bước thực hiện yêu cầu động viên đóng góp công
bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư, giảm dần
khoảng cách chênh lệch về thu nhập và tiêu dùng xã hội, góp phần ổn định
chính trị, kinh tế, an toàn xã hội.
+ Về nghiệp vụ : Chính sách chế độ đã có sự đơn giản, rõ ràng, dễ
hiểu, dễ kiểm tra; phát huy được quyền dân chủ và nâng cao được trách
nhiệm và nghĩa vụ công dân về thuế [41].
1.1.3.2 Phân loại thuế
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý và tổ chức hành thu
trong thực tế, người ta tiến hành phân loại thuế theo một số tiêu thức nhất định.
1.1.3.2.1. Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế
Theo cách phân loại truyền thống đã hình thành từ rất lâu, thuế được
chia thành hai loại : thuế trực thu và thuế gián thu. Sự phân loại này phụ
thuộc vào đối tượng đánh thuế, mối quan hệ tương hỗ giữa người nộp thuế
và nhà nước.
- Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp lên một khoản thu nhập (tiền
lương, lợi nhuận, lợi tức...) hoặc tài sản (ruộng đất, nhà cửa, chứng khoán...)
nào đó của người nộp thuế.
Thuế trực thu thường đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của người nộp
thuế, dễ gây ra tâm lý bất bình trong nhân dân. Ở nước ta, trong hệ thống
thuế hiện hành, các loại thuế dưới đây được xem là thuế trực thu : như thuế
10
lợi tức, thuế thu nhập, thuế tài nguyên, thuế nhà đất và thuế sử dụng đất nông
nghiệp.
- Thuế gián thu là một loại thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ và được
ấn định dưới hình thức một khoản phụ thêm được cấu thành trong giá cả
hàng hoá, dịch vụ nhằm điều tiết một phần thu nhập của người tiêu dùng.

Thuế nhà nước, thuế địa phương
- Phân loại theo phương thức sử dụng: Thuế tổng hợp, thuế chuyên
dùng [43].
1.1.4. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Quản lý Nhà nước đối với kinh tế là một chức năng vốn có của Nhà
nước, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì nhất thiết vai trò đó càng được
coi trọng và phát huy. Với vai trò chủ yếu là tạo ra cơ sở pháp lý cho sự phát
triển kinh tế - xã hội, sự can thiệp tích cực của Nhà nước thông qua hệ thống
Pháp luật, đặc biệt là pháp luật tài chính, thuế, ngân hàng, trong đó vai trò
của thuế trở nên cực kỳ quan trọng. Thuế được coi là công cụ điều tiết vĩ mô
nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to
lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Thuế điều tiết thu nhập trong xã hội và
góp phần đảm bảo công bằng xã hội [20].

Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước :
Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào
nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay,
các khoản viện trợ giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ
yếu của Ngân sách quốc gia, là một bộ phận cơ bản của chính sách tài chính
12
quốc gia. Sau 20 năm đổi mới tình hình kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến
tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau tăng hơn năm trước, bình quân
trong 5 năm 2001-2005 là 7,5% [42]. Lạm phát được kìm hãm và đẩy lùi, thị
trường được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng, tạo điều kiện cho sản xuất
trong nước phát triển. Quan hệ kinh tế đối ngoại từng bước được mở rộng và
phát triển hội nhập . Trong bối cảnh đó thu ngân sách hàng năm tăng đều đặn
năm sau cao hơn năm trước đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên, chi đầu
tư phát triển, góp phần tích lũy cho Ngân sách và cả việc chi trả nợ vay.
Được như vậy thuế đã góp phần tích cực trong việc tăng thu Ngân sách. Tỷ
lệ động viên GDP vào Ngân sách Nhà nước ngày càng tăng. Trong đó mức

được nhiệm vụ tập trung tích lũy ngân sách đảm bảo cho yêu cầu chi của
Nhà nước về các mặt: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển...
∗∗
Thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Thuế là một công cụ sắc bén của Nhà nước để quản lý kinh tế - xã
hội với chức năng chủ yếu là đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, hướng dẫn tiêu dùng khuyến khích sản xuất
phát triển theo định hướng của Nhà nước [32].
Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc là chính sách thuế phải
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Do vậy, bằng
các sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau.
Nhà nước điều chỉnh quy mô đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực khác nhau.
Thực hiện cân đối hàng - tiền, cân đối cung cầu ở tầm vĩ mô, hình
thành cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ giữa Trung
ương và Địa phương đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng tích lũy trong toàn
bộ nền kinh tế quốc dân. Đây là điều kiện quan trọng ổn định để thúc đẩy tốc
độ phát triển của nền kinh tế.
14
Thông qua Pháp luật thuế Nhà nước xác định đúng đắn cơ cấu và
quan hệ giữa các sắc thuế, quy định chính xác, hợp lý đối tượng nộp thuế,
chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thuế để đảm bảo việc thu đúng thu
đủ đồng thời khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động sản xuất kinh doanh
cần thiết cho xã hội, khuyến khích những thành phần kinh tế cần thiết, các
danh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời hạn chế, thu hẹp
những ngành nghề, những mặt hàng cần thiết phải hạn chế kể từ sản xuất đến
tiêu dùng xã hội theo định hướng của chiến lược phát triển kinh tế của Đảng,
Nhà nước có lợi cho quốc kế dân sinh.
"Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần
kinh tế cạnh tranh và chống độc quyền không thể áp dụng một cơ chế tài
chính đồng nhất cho các doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi

xuất kinh doanh giỏi, có hiệu quả bằng cách thừa nhận các khoản thu nhập
hợp pháp của họ.
Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển, ý thức Pháp luật, tính tự giác
của số lớn các đối tượng nộp thuế chưa cao. Để đảm bảo sự công bằng về
nghĩa vụ nộp thuế thì một việc hết sức quan trọng là phải tăng cường công
tác quản lý thu thuế. Thông qua việc kiểm tra, thanh tra việc chấp hành Pháp
luật thuế phát hiện và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm Pháp luật thuế. Từ
yêu cầu đó trong mọi luật thuế đều quy định rõ các biện pháp xử phạt, cưỡng
chế. Nhờ đó thuế đã góp phần tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Góp phần vào việc thực hiện
công bằng xã hội nói chung.
16
1.2. QUẢN LÝ THUẾ
1.2.1. Khái niệm
Quản lý thuế là quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực hiện
những quy định trong luật thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản tiền
thuế vào ngân sách nhà nước theo luật định [7][20].
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế
+ Hệ thống chính sách, pháp luật thuế
Hệ thống chính sách, pháp luật thuế được áp dụng thống nhất đối với
mọi thành phần kinh tế phải đảm bảo được sự động viên đóng góp bình đẳng
và thực hiện công bằng xã hội. Hệ thống thuế phải thực sự khuyến khích mọi
thành phần kinh tế, mọi ngành nghề kinh doanh, các tổ chức và cá nhân bỏ
vốn, lao động, đầu tư trang thiết bị và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
cho sản xuất kinh doanh theo quỹ đạo của kế hoạch nhà nước [44], [23].
Hệ thống thuế mang tính chấp vá, chồng chéo, thiếu căn cứ kinh tế, có
thể vừa gây lạm thu, vừa gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước. Ngược
lại, hệ thống chính sách thuế khoa học, đơn giản, dễ hiểu và ổn định trong
thời gian dài tạo điều kiện nâng cao hiểu biết và nhận thức về nghĩa vụ công
dân đối với thuế, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của các tầng

Khối lượng công việc quản lý hành thu thuế là rất lớn, chi phí rất cao
và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu ngân sách nhà nước. Phương pháp
càng tiến bộ thì kết quả quản lý thu thuế càng cao. Do vậy, việc ứng dụng
công nghệ tin học là một khả năng tốt nhất có tác dụng mạnh trong việc đẩy
18
mạnh cải cách thuế và phát huy những tiến bộ của ngành thuế trong công tác
quản lý và hành thu thuế hiện nay [19], [20].
Đặc điểm của công tác quản lý thuế là phải quản lý trực tiếp đến từng
đối tượng nộp thuế theo nhiều loại sắc thuế với số lượng đối tượng nộp thuế
rất lớn mà theo quy định thì tất cả các chứng từ hoạt động kinh doanh, kê
khai nộp thuế, căn cứ tính thuế, thông báo thuế phải lưu giữ là nguyên tắc bắt
buộc. Do vậy, nếu làm bằng phương pháp thủ công thì sẽ cần rất nhiều nhân
lực và chi phí cao. Mặt khác, sự sai sót, chậm trễ trong việc tính thuế và cung
cấp thông tin để chỉ đạo hành thu sẽ có nhiều khả năng tạo ra kẽ hở để thất
thu thuế, tiêu cực trong công tác quản lý thu thuế. Nếu ứng dụng tốt công tác
tin học sẽ tự động hoá các khâu công việc trên và theo một quy trình chặt chẽ
sẽ nâng cao tính pháp lý và hiệu quả sẽ rất tốt trong công tác quản lý hành
thu thuế hiện nay [40].
+ Công tác tuyên truyền chính sách thuế
Các chính sách chế độ, luật, pháp lệnh về thuế chỉ có thể thực thi một
cách đầy đủ, thống nhất khi công tác phổ biến giáo dục được triển khai sâu
rộng trong quảng đại quần chúng. Mọi tổ chức, cá nhân cần phải biết đầy đủ
các quy định, những việc phải làm và mức độ sẽ bị xử lý đối với từng hành
vi trốn lậu thuế, không chấp hành nghiêm việc kê khai, đăng ký thuế; vi
phạm về sử dụng hoá đơn chứng từ, sổ sách kế toán, dây dưa nợ đọng trốn
thuế. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế còn có ý
nghĩa nâng cao tính tự giác, ý thức về nghĩa vụ của công dân đối với nhà
nước và sự kiểm tra giám sát của xã hội đối với việc thực thi các chính sách,
pháp luật về thuế, đảm bảo tính công khai, công bằng xã hội [40].
+ Sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng

20
- Bộ máy thu thuế nhà nước được tổ chức thống nhất, thành hệ thống
dọc từ Trung ương đến các Quận, Huyện. Ở Trung ương có Tổng Cục Thuế
thuộc Bộ Tài Chính. Ở Tỉnh, Thành Phố, Đặc khu trực thuộc trung ương có
Cục Thuế thuộc Tổng Cục Thuế đồng thời chịu sự chỉ đạo của UBND cùng
cấp. Ở các Huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có Chi cục thuế chịu sự
quản lý song trùng của Cục thuế và UBND huyện, thị cùng cấp. Các đội thuế
phường, xã trực thuộc chi cục quản lý và UBND phường, xã, thị trấn cùng
cấp [6][40].
1.2.3.2. Chức trách, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan thuế các cấp
- Tổng Cục Thuế :
Đây là cơ quan thuế cao nhất trong hệ thống thu thuế nhà nước. Cơ
cấu gồm có: Các phòng chức năng và phòng nghiệp vụ được tổ chức theo
các sắc thuế. Tổng Cục Thuế có một số nhiệm vụ chủ yếu:
Một là, giúp Bộ Tài Chính soạn thảo các văn bản pháp qui về thuế và
các khoản thu khác trình cơ quan chức năng có thẩm quyền ban hành và tổ
chức thực hiện thống nhất các văn bản này trong cả nước. Tổng Cục thuế
cũng được quyền ban hành theo ủy quyền của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính các
văn bản về nghiệp vụ quản lý thu thuế và hướng dẫn cơ quan thuế cấp dưới
thực hiện thống nhất.
Hai là, hướng dẫn lập kế hoạch và tổng hợp kế hoạch thu thuế và thu
khác trình Bộ trưởng Bộ Tài Chính xem xét để trình các cơ quan có thẩm
quyền quyết định. Tổng Cục thuế xem xét giao chỉ tiêu thu thuế và thu khác
cho cơ quan thuế cấp dưới, hướng dẫn, chỉ đạo cấp dưới tổ chức thu thuế và
thu khác trên địa bàn và đảm bảo thu đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước.
Ba là, tổ chức thanh tra bộ máy thu thuế và các đối tượng nộp thuế; xử
lý vi phạm theo luật định [31].
21
- Cục Thuế
Về cơ cấu tổ chức cũng bao gồm một số phòng chức năng và phòng

Quận, Huyện.
Năm 1992, ngành thuế tập trung sắp xếp lại bộ máy Chi Cục Thuế
theo chỉ thị 238 của Chính Phủ và thông tư số 64 của Bộ Tài Chính về việc
thành lập các đội thuế Xã - Phường gắn với chính quyền cơ sở. Đồng thời
thực hiện qui trình thu thuế tách 3 bộ phận độc lập nhau : Bộ phận quản lý và
đôn đốc thu nộp, bộ phận tính thuế lập bộ và bộ phận kiểm tra thanh tra.
Việc gắn đội thuế phường, xã với chính quyền cơ sở đã có tác dụng
tích cực trong việc điều tra lập bộ quản lý nguồn thu đầy đủ, sát thực tế và tổ
chức hành thu kịp thời; chống thất thu về doanh số và số đối tượng nộp thuế;
góp phần thực hiện sự công bằng hợp lý về mức thuế của các đối tượng nộp
thuế, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa chính quyền và cơ quan thuế địa
phương, đề cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở đối với công tác thuế, vì
vậy chất lượng và hiệu quả quản lý thu thuế đã được nâng lên rõ rệt [23][31].
1.2.4. Nhiệm vụ cơ bản của công tác quản lý thuế
Nhiệm vụ của công tác quản lý thuế là làm thế nào để quản lý tốt đối
tượng nộp thuế, quản lý đối tượng tính thuế, tính thuế đúng và nộp thuế vào
ngân sách nhà nước kịp thời, đúng quy định.
1.2.4.1. Quản lý đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế là cá nhân, đơn vị, tổ chức có thu nhập có nhiệm
vụ chuyển giao một bộ phận thu nhập của mình cho nhà nước thông qua việc
23
đóng thuế. Đối tưọng nộp thuế thưòng rất đông và đa dạng do đó công tác
quản lý ĐTNT cũng phải tuỳ theo đặc điểm của đối tượng để quản lý. Trong
quản lý đối tượng nộp thuế, yêu cầu phải tổ chức lực lượng cán bộ trực tiếp
hợp lý, nhất là đội thuế phường xã, số lượng đối tượng nộp thuế và các
ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để bố trí cán bộ phù hợp, có khả
năng quản lý bao quát đến thôn, tổ dân phố, đường phố. Trách nhiệm của cán
bộ thuế phải nắm chắc tất cả các tổ chức, cá nhân đang hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn theo từng ngành nghề, quy mô kinh doanh,
quan trọng là theo dõi cho được các biến động của các đối tượng kinh doanh:

+ Mọi sự vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề trên tuy rằg pháp luật đều có quy định, nhưng thực chất sự
chấp hành của các tổ chức, cá nhân kinh doanh chưa thật nghiêm túc: đối với
doanh nghiệp nhà nước thì thực hiện khá chặt chẽ, nhưng đối với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh thì quá trình kinh doanh gắn với lợi ích cá nhân
nên rất khó quản lý được doanh số tính thuế một cách đầy đủ [31][39].
1.2.4.3. Công tác tính thuế
Nếu quản lý tốt đối tượng nộp thuế, xác định đúng đối tượng tính thuế
thì tính thuế sẽ dễ dàng. Tuy nhiên việc xác định đối tượng tính thuế rất phức
tạp, việc tính thuế, lập sổ thuế, tính thuế nợ, tính phạt, miễn giảm thuế,... là
công việc rất tốn nhiều công sức và rất dễ nhầm lẫn, gây thất thu thuế hoặc
không công bằng trong đối tượng nộp thuế. Cần phải cải tiến phương pháp
tính thuế thủ công sang tự động hoá bằng máy vi tính và cập nhật kịp thời
25

Trích đoạn MỘT SỐ QUAN ĐIỂM ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ Những thành tựu đạt được Những tồn tại trong công tác quản lý thuế Đặc điểm về điều kiện tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế Những thành tựu kinh tế-xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế (số liệu đến 2005)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status