BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG
- TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
chia sẻ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Chu Xuân Khánh, là
người thầy tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Trong quá trình thực hiện đề tài mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do
thời gian và khả năng có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy,
rất mong được sự góp ý và giúp đỡ của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp để
luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Chu Xuân
Khánh. Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Huyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯ VIỆN VÀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THƯ VIỆN CÔNG CỘNG.....................................9
1.1. Những vấn đề chung về thư viện........................................................... 9
1.1.1. Các khái niệm cơ bản..................................................................9
2.3.1. Những thành tựu....................................................................... 71
2.3.2. Những hạn chế.......................................................................... 73
2.3.3. Nguyên nhân.............................................................................74
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG 78
3.1. Phương hướng đẩy mạnh quản lý nhà nước về hoạt động thư viện
công cộng ở nước ta hiện nay............................................................. 78
3.2. Những giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước đối
với thư viện công cộng.......................................................................87
KẾT LUẬN....................................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................98
CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
BCHTƯ
Ban chấp hành trung ương
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
CNTT
Công nghệ thông tin
CSDL
Cơ sở dữ liệu
Ủy ban nhân dân
UBTVQH
Ủy ban thường vụ Quốc hội
UNESCO
Tổ chức giáo dục và văn hóa Liên Hiệp Quốc
VBQPPL
Văn bản quy phạm pháp luật
VHTT&DL
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong mọi
lĩnh vực hoạt động. Muốn thực hiện thành công sự nghiệp CNH - HĐH đất
nước, rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển, con đường duy nhất
của chúng ta là khai thác triệt để nguồn thông tin khoa học phong phú trên thế
giới, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn của Việt Nam. Đảm bảo thông
tin cho các tầng lớp nhân dân là sứ mạng của hệ thống các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam, trong đó có hệ thống thư viện công cộng.
Văn hóa đọc là một yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả quá trình tự học,
trong đó sách là phương tiện cơ bản và hữu hiệu nhất để con người tiếp cận
trong thư viện cũng được cải tiến, nâng cao chất lượng và đa dạng hơn, phù
hợp với tâm lý và tập quán của người dùng tin. Mọi người dân Việt Nam từ
miền núi đến đồng bằng, từ thành thị đến nông thôn đều có cơ hội tiếp cận và
sử dụng tài liệu của TVCC. Thư viện công cộng đã và đang trở thành trung
tâm văn hóa và thông tin của các địa phương trong cả nước.
Như chúng ta đều biết, từ trước đến nay trong nhiều lĩnh vực hoạt động
văn hóa có sự lẫn lộn, chồng lẫn giữa hoạt động quản lý Nhà nước và hoạt
động sự nghiệp. Lĩnh vực hoạt động thư viện cũng đang ở trong tình trạng
này. Tình trạng đó đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển cũng như khả năng phát
huy hoạt động của từng lĩnh vực. Đó là chưa kể đến những mâu thuẫn, rắc rối
không cần thiết đã từng nảy sinh trong quá trình hoạt động thực hiện nhiệm
vụ được giao của từng lĩnh vực. Vì vậy, việc dự thảo Luật thư viện đã quy
định rạch ròi chức năng quản lý nhà nước với chức năng sự nghiệp là một
việc làm hết sức có ý nghĩa, thiết thực. Đây chính là hành lang pháp lý để cho
từng lĩnh vực tập trung thực thi chức năng - nhiệm vụ của mình, nhất là ở cấp
trung ương - cấp chiến lược, cấp ban hành cơ chế, chính sách và định hướng
2
phát triển... hiện có một tổ chức bộ máy chuyên sâu trong thực thi nhiệm vụ.
Tuy nhiên, đối với hoạt động TVCC ở địa phương, việc quy định chức năng,
nhiệm vụ cho hoạt động QLNN và hoạt động sự nghiệp cần xem xét đến tình
hình thực tế, năng lực - khả năng của từng lĩnh vực hiện nay để có sự điều tiết
về chức năng - nhiệm vụ nếu chức năng - nhiệm vụ đó không ảnh hưởng đến
hoạt động và sự phát triển của ngành.
Có một thực tế là trong hoạt động TVCC ở địa phương, từ trước đến
nay ở hầu hết các địa phương các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh (Sở
VHTT&DL) và cấp huyện (Phòng VHTT) đều rất ít quan tâm đến công tác
QLNN. Ngoài các nguyên nhân khách quan và chủ quan khác thì có những
hóa, Thể thao và Du lịch- Vụ thư viện. Cuốn sách gồm 2 phần:
+ Phần thứ nhất: Các văn kiện của Đảng nói về công tác Thư viện
+ Phần thứ hai: Các văn bản pháp quy hiện hành về công tác thư viện
hoặc liên quan đến công tác thư viện.
Và đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về thư viện trong đó tập
trung vào các vấn đề như:
- “Chính sách đầu tư của Nhà nước cho hệ thống thư viện công cộng
và một số ý kiến đề xuất” của tác giả Nguyễn Thanh Đức (2014), tạp chí Thư
viện Việt Nam số 1/ 2014. Tác giả nêu lên những tồn tại trong chính sách của
Nhà nước với hệ thống thư viện công cộng, từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm tăng cường đầu tư cho hệ thống.
- “Phát triển nhu cầu thông tin trong các thư viện công cộng” của
Trần Thị Minh Nguyệt ( 2010), tạp chí Nghiên cứu văn hóa. Nghiên cứu nhu
cầu tin của bạn đọc trong các thư viện công cộng, định hướng phát triển
nguồn thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin cho đối tượng bạn đọc tại thư viện
công cộng.
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công: “Hệ thống thư viện
công cộng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập phát triển” của Nguyễn
Thị Hoạt (2010). Đi sâu phân tích các kết quả đạt được trên mọi mặt hoạt động
của hệ thống. Đánh giá được những thuận lợi và khó khăn, những cơ hội và
4
thách thức mà hệ thống thư viện công cộng đã và sẽ trải qua trong quá trình
đổi mới hội nhập và phát triển. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của hệ thống thư viện công cộng, góp phần vào sự phát triển sự
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn đổi mới.
- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công: “QLNN về hoạt
động thư viện công cộng (từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh)” của Bùi Xuân
phương.
- “Thư viện Thái Nguyên chặng đường 4 năm nhìn lại (2005-2008”)
(2008) của Mai Thanh Nhàn (tạp chí Thư viện Việt Nam số 18)....
Như vậy, hiện nay có khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về
QLNN về hoạt động thư viện và đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến các
lĩnh vực công tác của thư viện tỉnh Thái Nguyên song đến nay chưa có luận
văn nào nghiên cứu QLNN về hoạt động thư viện công cộng tỉnh Thái
Nguyên. Vì vậy, có thể khẳng định đề tài: Quản lý nhà nước về hoạt động
thư viện công cộng - từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên là đề tài hoàn toàn mới
và không trùng lặp với các công trình đã công bố trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống lý luận QLNN về hoạt động TVCC và
tìm hiểu thực trạng công tác QLNN về hoạt động TVCC ở tỉnh Thái Nguyên,
từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả QLNN đối với
thư viện công cộng tại Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ:
Đi sâu nghiên cứu một số lý luận chung về thư viện và quản lý nhà
nước về thư viện. Đánh giá thực trạng QLNN về thư viện công cộng tại tỉnh
Thái Nguyên để chỉ ra được những điểm còn tồn tại trong công tác quản lý
nhà nước về thư viện công cộng.
6
Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi trong quản lý nhà nước về
thư viện công cộng góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước đối với
ngành thư viện trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nội dung công tác quản lý nhà nước về TVCC.
biệt là TVCC làm căn cứ để góp phần xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nhà
nước đối với TVCC nói riêng và thư viện ở nước ta nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng QLNN về hoạt động
TVCC giúp có cái nhìn khách quan về thực trạng QLNN về hoạt động TVCC ở
tỉnh Thái Nguyên. Qua đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế, xác định những
nguyên nhân khách quan, chủ quan và rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tế đó
nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với thư viện công cộng tỉnh Thái Nguyên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Kết cấu
của luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thư viện và quản lý nhà nước đối
với thư viện công cộng.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với thư viện công cộng ở
nước ta hiện nay - từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh quản lý nhà nước về
hoạt động thư viện công cộng ở nước ta.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯ VIỆN
VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THƯ VIỆN CÔNG CỘNG
1.1. Những vấn đề chung về thư viện
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Thư viện
Thuật ngữ “thư viện” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ “ biblio theke”:
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5453-1991, thư viện được xác định là cơ
quan hoặc một bộ phận của cơ quan thực hiện chức năng thu thập, xử lý, bảo
quản tài liệu và phục vụ bạn đọc, đồng thời tiến hành tuyên truyền giới thiệu
các tài liệu đó.
Nhìn chung các định nghĩa trên đều nhìn nhận và xem xét thư viện dưới
góc độ vai trò và chức năng mà chưa đề cập đến các yếu tố cấu tạo của nó. Ở
một góc độ tiếp cận khác, nhà thư viện học người Nga Xtaliarop đã khẳng
định: Thư viện là một hệ thống bao gồm 4 yếu tố: tài liệu, người đọc, cơ sở
vật chất và cán bộ thư viện. Bốn yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
trong đó tài liệu là nền tảng vật chất của hệ thống, người đọc là mục tiêu vận
hành của hệ thống, cán bộ thư viện có vai trò là người điều khiển, cơ sở vật
chất là yếu tố đảm bảo cho sự vận hành và là môi trường bên trong của hệ
thống.
Năm 1970, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
UNESCO đã định nghĩa về thư viện. Định nghĩa này có tính chất bao hàm và
khái quát đầy đủ bản chất của thư viện: Thư viện không phụ thuộc vào tên gọi
của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc
các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách
nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin,
nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí.
10
Như vậy trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về thư viện.
Nhưng với định nghĩa của UNESCO cho chúng ta cái nhìn đầy đủ về thư
viện. Định nghĩa đã nêu được các thành phần cấu tạo nên thư viện cũng như
chức năng, nhiệm vụ chủ yếu và quá trình phát triển của nó trong lịch sử.
Hiện nay trên thế giới có sự công nhận khá rộng rãi là thư viện được tạo thành
từ bốn yếu tố: vốn tài liệu, cán bộ thư viện, cơ sở vật chất kỹ thuật và bạn đọc.
Thư viện công cộng thực hiện bốn chức năng: văn hóa, giáo dục, thông
tin và giải trí. Thông qua việc phổ cập tri thức tổng hợp về mọi lĩnh vực chính
trị, xã hội, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thư viện góp phần nâng cao dân trí,
giáo dục thẩm mỹ, giáo dục con người phát triển toàn diện.
- Chức năng văn hóa: Thư viện công cộng có nhiệm vụ giữ gìn di sản
thư tịch của dân tộc bao gồm toàn bộ sách, báo, văn bản chép tay, bản đồ,
tranh ảnh và các tài liệu khác đã và đang được lưu hành. Đây là nơi giữ gìn,
bảo quản di sản văn hóa của quốc gia và nhân loại. Thư viện công cộng đã trở
thành trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân và góp phần
không nhỏ vào việc tuyên truyền các di sản văn hóa, phổ biến kiến thức, thu
hút nhiều đối tượng người đọc khác nhau đến sử dụng.
- Chức năng thông tin: Thư viện thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai
thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung
cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và công tác của mọi tầng
lớp nhân dân. Vốn tài liệu là những tài liệu được sưu tầm, tập hợp theo chủ
đề, nội dung nhất định được xử lý theo quy tắc, quy trình khoa học nghiệp vụ
thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt hiệu quả cao. Trong những năm
gần đây chức năng thông tin của thư viện đặc biệt được chú trọng. Từ quản trị
tài liệu, các thư viện công cộng đã và đang chuyển sang quản trị thông tin. Từ
việc cung cấp tài liệu cho bạn đọc, thư viện công cộng đã hướng tới việc cung
cấp thông tin theo yêu cầu. Trong tuyên ngôn của UNESCO, thư viện công
cộng cũng đã được xác định là: “Trung tâm thông tin địa phương tạo điều
kiện cho người sử dụng của mình sự tiếp cận nhanh chóng tới tri thức và
12
thông tin ở tất cả các dạng thức”. Việc áp dụng công nghệ thông tin đã giúp
các thư viện công cộng phát triển các loại hình dịch vụ khác nhau nhằm cung
cấp thông tin cho bạn đọc dưới các dạng: thông tin thư mục, thông tin dữ kiện,
cuộc sống tinh thần của mọi người dân.
Thư viện công cộng giữ vai trò văn hóa và là công cụ đắc lực trong việc
tuyên truyền phổ biến tri thức về di sản văn hóa dân tộc, văn hóa thế giới và
những thành tựu khoa học kỹ thuật mới đáp ứng nhu cầu sử dụng cho mọi
người. Là nơi tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền phổ biến các kiến
thức về các loại hình nghệ thuật (các cuộc triển lãm tranh, ảnh, thư pháp...), là
nơi gặp gỡ các nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, là nơi tổ
chức các câu lạc bộ theo sở thích. Thư viện công cộng góp phần giáo dục
thẩm mỹ, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, phát huy các giá trị văn
hóa tinh thần dân tộc truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại góp
phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Thư viện công cộng giữ vai trò giáo dục đây là công cụ hiệu quả để hỗ trợ
việc tự học và thực hiện việc tự học của mỗi cá nhân thông qua việc đọc sách tại
thư viện, nhân dân có thể tự học để nâng cao trình độ nhận thức và hiểu biết cho
bản thân. Góp phần xóa nạn mù chữ, mù tin ở nhiều nơi, góp phần giáo dục thế
hệ trẻ, hình thành và củng cố thói quen đọc sách của người dân đặc biệt là trẻ em
và thanh thiếu niên, nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho độc giả.
Thư viện công cộng góp phần nâng cao trình độ, giác ngộ chính trị,
giáo dục tư tưởng cho toàn dân, bồi dưỡng truyền thống cách mạng, tinh thần
yêu nước, tinh thần quốc tế chân chính bằng các hình thức tuyên truyền, giới
thiệu các tài liệu chính trị, xã hội, chú trọng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của
Đảng và Nhà nước.
Thư viện công cộng phổ biến kiến thức về khoa học và công nghệ, góp
phần đưa tri thức khoa học và công nghệ đến với từng người dân giúp họ
14
- Thư viện xã, phường, thị trấn.
- Thư viện, tủ sách thôn, làng, bản, ấp…
- Thư viện thiếu nhi.
Đến nay, theo thống kê của Vụ Thư viện thì hệ thống thư viện công
cộng Việt Nam đã có sự phát triển và hoàn thiện về mặt cơ cấu số lượng
tương đối mạnh. Cụ thể về số lượng các thư viện trong hệ thống như sau:
- 01 Thư viện Quốc gia;
- 63 thư viện tỉnh, thành phố;
- 608 thư viện cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;
- 1.503 thư viện xã, phường, thị trấn;
- 9.087 tủ sách bản, làng, thôn;
- 455 phòng đọc thiếu nhi trong các thư viện
1.2. Những vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với thư viện công
cộng
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Quản lý nhà nước
Theo quan điểm lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhà nước xét về
bản chất, là một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, tồn tại dựa trên một
cơ sở kinh tế nhất định; là công cụ để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối
với giai cấp khác, là một tổ chức quyền lực đặc biệt, có bộ máy chuyên trách
để cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý nhằm thực hiện và bảo vệ
lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng.
Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó.
Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống
trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội. Chức năng thống trị chính trị
của giai cấp - chức năng giai cấp - là chức năng nhà nước làm công cụ chuyên
chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể
16
chủ động dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của
các loại hình thư viện trong mối liên kết chặt chẽ, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
1.2.1.3. Quản lý nhà nước về thư viện công cộng
QLNN về lĩnh vực TVCC có thể hiểu là quá trình nhà nước sử dụng trong
phạm vi quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh vào các quan hệ
nảy sinh trong hoạt động TVCC nhằm đảm bảo cho hoạt động TVCC diễn ra
theo đúng quy định của pháp luật và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của lĩnh
vực này. Nói cách khác, QLNN về lĩnh vực TVCC là sự tác động có chủ đích, có
định hướng của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động liên quan đến TVCC bằng
quyền lực của nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường,
lực lượng vật chất và tài chính nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.2. Chủ thể quản lý nhà nước đối với thư viện công cộng
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thư viện. Bộ Văn hóa Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện
quản lý nhà nước về thư viện. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và cơ quan khác của Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về thư viện. Chính phủ
quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp với Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về thư viện.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc
xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thư
viện. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về thư viện trong
phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.
Chính phủ quy định Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm
soạn thảo và trình Chính phủ các dự án Luật, Pháp lệnh và các văn bản quy
phạm pháp luật về thư viện; ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm
18