BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
............…/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
BÙI NGỌC TUẤN
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ - TỪ
THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LƢƠNG THANH CƢỜNG
THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn không trùng lắp với các công trình có liên quan đã
công bố. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin
Bùi Ngọc Tuçn
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ......8
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ....................................... 8
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính................................................................................. 8
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
.........................................................................................................................................................
13
1.1.3. Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
.........................................................................................................................................................
16
1.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ....................18
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ
.........................................................................................................................................................
bộ41
Tiểu kết chương 1.......................................................................................................................... 47
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY......48
2.1. Đặc điểm tình hình trên địa bàn tỉnh Phú yên có liên quan đến xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ................................................... 48
2.2. Thực trạng và nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay............................................................................. 50
2.2.1. Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
tỉnh Phú Yên hiện nay............................................................................................................ 50
2.2.2. Nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay.................................................................................................. 57
2.3. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
tỉnh Phú Yên hiện nay................................................................................................................. 61
2.3.1. Tổng hợp chung........................................................................................................... 61
2.3.2. Kết quả xử lý theo nhóm hành vi vi phạm.......................................................... 64
2.4. Hoạt động kiểm soát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên..................................................................................... 77
2.4.1. Giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp......................................................... 77
2.4.2. Kiểm tra của các cơ quan hành chính nhà nước............................................. 79
2.4.3. Giám sát của Tòa án.................................................................................................. 80
2.5. Nhận xét về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
ở tỉnh Phú Yên hiện nay.............................................................................................................. 80
2.5.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân........................................................................ 80
2.4.2. Hạn chế, khó khăn và nguyên nhân...................................................................... 82
Tiểu kết chương 2.......................................................................................................................... 87
Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
.........................................................................................................................................................
94
3.2.3. Hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị phục vụ phát hiện và ngăn chặn
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
.........................................................................................................................................................
96
3.2.4. Nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động xử phạt
vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ và các trường hợp sai phạm khác của
người thực thi công vụ nhà nước
.........................................................................................................................................................
98
3.2.5. Giải pháp khác cho tỉnh Phú Yên....................................................................... 101
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................... 109
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSGT:
Cảnh sát giao thông
Bảng 2.6: Tổng hợp số vụ lái xe ô tô bị xử lý vi phạm hành chính về quy tắc giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017)............65
Bảng 2.7: Tổng hợp số vụ lái xe mô tô bị xử lý vi phạm hành chính về quy tắc giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017)............67
Bảng 2.8: Tổng hợp số vụ xe ô tô không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia giao
thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017).................................. 70
Bảng 2.9: Tổng hợp số vụ xe mô tô không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia
giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017)........................70
Bảng 2.10: Tổng hợp số vụ người điều khiển phương tiện cơ giới không giấy phép khi
tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017).....73
Bảng 2.11: Tổng hợp số vụ xe Ô tô vi phạm quy định vận tải đường bộ bị xử lý trên
địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017)....................................................... 75
Bảng 2.12: Tổng hợp số vụ xe Mô tô vi phạm quy định vận tải đường bộ bị xử lý
trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017).............................................. 76
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Yên .............................................................. 48
Hình 2.2: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số vụ vi phạm hành chính giao thông
đường độ đã xử lý trên địa bàn tỉnh Phú Yên ........................................................... 52
Hình 2.3: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số vụ tai nạn giao thông đường độ do vi
phạm hành chính gân nên địa bàn tỉnh Phú Yên ....................................................... 53
Hình 2.4: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số người chết do tai nạn giao thông đường
độ gân nên địa bàn tỉnh Phú Yên ..............................................................................
54
Hình 2.5: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số người bị thương do tai nạn giao thông
đường độ bộ gây nên địa bàn tỉnh Phú Yên ..............................................................
Hình 2.17: So sánh số vụ vi phạm quy định vận tải đường bộ về chở quá người của
xe Ô tô và xe Mô tô trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016...........77
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Những năm qua, cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
nhằm tạo tiền đề, động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,
Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện pháp luật về giao thông đường bộ, trong đó
có nội dung quan trọng là xử phạt vi phạm hành chính.
Dưới góc độ luật học, xử phạt vi phạm hành chính là một chế định quan
trọng của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, để điều chỉnh hoạt động xử phạt các vi
phạm hành chính. Dưới góc độ quản lý, xử phạt vi phạm hành chính là một hoạt
động để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng hướng tới
mục phòng ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà
nước.
Vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
Việt Nam hiện nay được điều chỉnh bởi hai “dọc” pháp lý là pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính và pháp luật về giao thông đường bộ. Trong những năm qua, hai
hệ thống quy phạm này đã ngày càng được hoàn thiện, tiêu biểu là sự ra đời của
Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 (tiền thân là Pháp lệnh xử phạt vi phạm
hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung năm các năm 2007, 2008), Luật Giao thông
đường bộ năm 2008 (thay thế Luật này được ban hành năm 2001), cùng với chúng
là sự ra đời các văn bản hướng dẫn thi hành của khối các cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền. Điều này đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời
phương tiện; đường sắt: 9.563 trường hợp; đường thủy nội địa: 223.548 trường hợp.
Các lỗi chủ yếu bị xử lý như chở hàng quá trọng tải trên đường bộ 94.188 trường
hợp; người điều khiển mô tô, xe máy không đội mũ bảo hiểm, đội mũ bảo hiểm
không cài quai đúng quy cách 800.650 trường hợp; vi phạm quy định về nồng độ
cồn 80.000 trường hợp; vi phạm của xe khách 108.388 trường hợp…[30].
Trước tình hình này, đã có nhiều nguyên nhân được được chỉ ra, trong đó có
nguyên nhân thuộc về công tác phòng chống vi phạm của cơ quan công quyền có
2
liên quan tới sự khiếm khuyết của hệ thống thi hành pháp luật như: triển khai thực
hiện luật chưa quyết liệt, chậm phát hiện vi phạm, xử phạt thiếu tính răn đe, xử phạt
thiếu nghiêm túc. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề xử phạt vi phạm hành chính là
cần thiết, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc,
đặc biệt là đối với những người làm công tác quản lý nhà nước về giao thông đường
bộ hay những người nghiên cứu về khoa học luật, khoa học hành chính công.
Ở bình diện địa phương, tình trạng vi phạm hành chính trong giao thông
đường bộ cũng diễn ra phổ biến và đa dạng, trong đó có tỉnh Phú Yên. Tỉnh Phú
Yên có hệ thống giao thông khá đa dạng. Hệ thống giao thông đường bộ trọng yếu
trên địa bàn tỉnh gồm có: Quốc lộ 1A nối với Bình Định và Khánh Hòa; Quốc lộ
25 nối với Gia Lai; Quốc lộ 1D nối Thị xã Sông Cầu với thành phố Quy Nhơn;
Quốc lộ 29 nối huyện Đông Hòa (từ Vũng Rô) với thị xã Buôn Hồ Đăk Lăk; Tỉnh lộ
641 từ Thị trấn Chí Thạnh chạy dọc theo đường sắt Bắc-Nam qua Thị trấn La Hai
rồi gặp lại QL1A tại Thị trấn Diêu Trì (Bình Định); Đường Phước Tân-Bãi Ngà
chạy từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng Vũng Rô. Những tuyến quốc lộ này là
mạch máu trung gian quan trọng của vùng. Chính vì thế, tình hình vi phạm và xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ của tỉnh là một vấn đề
quan trọng. Làm tốt được hoạt động này, có nghĩa là huyết mạch giao thông của tỉnh
Phú Yên sẽ được thông suốt, góp phần lớn vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của
đường bộ nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và giới nghiên
cứu khoa học. Một số công trình khoa học tiêu biểu có thể kể đến là:
- Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (1980), Xử phạt vi phạm hành chính,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (mã số 85 98 008), Hà Nội;
Đề tài lần đầu tiên đề cập đến một cách toàn diện về việc xây dựng một hệ
thống khoa học của việc xử phạt vi phạm hành chính. Từ đó, đề tài làm nền tảng
pháp lý nghiên cứu áp dụng cho việc xử phạt vi phạm hành chính trên nhiều lĩnh
vực khác nhau trong đó có cả lĩnh vực giao thông đường bộ.
- TS. Vũ Thư (1996), Chế tài hành chính – Lý luận và thực tiễn, Chuyên đề
hội thảo khoa học về giao thông, Hà Nội;
Tác giả đã đề cập sâu về nội dung chế tài hành chính cả trên phương diện lý
luận và thực tiễn. Công trình nghiên cứu đã làm tài liệu tham khảo hiệu quả cho
nhiều tác giả của các trường Đại học trong cả nước khi hoàn thành giáo trình Luật
Hành chính như Học viện Hành chính quốc gia, Đại học Luật Hà Nội…
Nhiều đề tài luận văn liên quan đến đề tài, có thể kể đến:
4
- Nguyễn Văn Đô (2007), Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự,
an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ quản lý hành
chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội;
Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Đô đề cập đến vấn đề xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên phạm vi toàn quốc khá toàn
diện với lý luận sâu và đặc biệt là bảng số liệu phong phú về nhiều nội dung đã khái
quát được khá rõ về hoạt động về đề tài nghiên cứu. Nhưng, nhìn chung thì Luận
văn của tác giả lại khá giống với một bản báo cáo của ngành Công an về hoạt động
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB trên phạm vi toàn quốc vì tác giả
không có sự đánh giá trên phương diện của người nghiên cứu vấn đề về những tồn
tại của hoạt động trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ quy định pháp luật và tình hình
thực hiện quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện
quy định và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về
giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
Để hoàn thành được mục đích đặt ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu sau đây:
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về vi phạm hành chính
và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, giao thông đường bộ;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình vi phạm hành chính và hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn
tỉnh Phú Yên trong thời gian qua. Từ đó, rút ra được những ưu điểm và hạn chế của
công tác này.
Ba là, trên cơ sở quán triệt các quan điểm có tính chất chỉ đạo, đề xuất một
số giải pháp góp phần làm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Phú Yên trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, pháp lý của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ;
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Từ năm 2012 đến tháng 2/2017.
- Về không gian: tỉnh Phú Yên.
6
- Về nội dung: Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng cảnh sát
7
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đƣờng bộ
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Nhà nước là một tổ chức được xã hội thành lập nên để thực hiện việc quản
lý, phát triển xã hội. Để có thể thực hiện được vai trò đó, Nhà nước luôn phải tác
động lên các quan hệ xã hội bằng một hệ thống các quy tắc quản lý nhà nước được
quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Trên thực tế, trong đời sống xã hội
luôn xảy ra tình trạng vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước. Các vi phạm đó diễn
ra hàng ngày trong đời sống xã hội, từ những hành vi đơn giản và phổ biến như hút
thuốc lá nơi công cộng, đến những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm hơn như
tham gia giao thông đường bộ không đội mũ bảo hiểm, đi ngược chiều, lạng lách
đánh võng, gây tai nạn,…hoặc hành vi làm ô nhiễm môi trường, xây dựng trái phép,
trốn thuế… Những hành vi vi phạm rất đa dạng và “có mặt” trong tất cả các lĩnh
vực quản lý nhà nước.
Dưới góc độ lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật được cấu thành bởi các
mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể của nó. Tổng hợp các yếu tố đó ta
có thể hiểu vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng
lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ.
Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà vi phạm pháp luật được phân thành
nhiều loại khác nhau. Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật được chia thành các loại sau:
- Vi phạm hình sự (tội phạm): là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi
và được quy định trong bộ luật hình sự.
- Vi phạm hành chính: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi nhưng mức độ
nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính.
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc tổ
chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây tác hại
đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý. Những biểu hiện này được kiểm
soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành chính. Hành vi là
biểu hiện rõ nhất trong mặt khách quan của vi phạm hành chính, chúng có ý nghĩa
9
quyết định đến nội dung biểu hiện khác trong mặt khách quan (hậu quả, công cụ
phương tiện, thời gian, địa điểm); đồng thời hành vi cũng là thể thống nhất giữa mặt
khách quan và chủ quan. Hành vi khách quan của vi phạm hành chính có thể là hành
vi hành động hoặc không hành động. Song dù biểu hiện bằng hình thức nào đi
chăng nữa thì nó cũng chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi hành vi đó trái với pháp
luật. Hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành
chính, nhưng đây không phải là thuộc tính riêng của vi phạm hành chính. Rất nhiều
hành vi tội phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành chính. Để phân biệt vi phạm
hành chính với tội phạm trong trường hợp cả hai loại hành vi có cùng chung khách
thể, người ta lấy tiêu chí là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Hành vi vi phạm
hành chính ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm hình sự.
Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu
quả của vi phạm hành chính vi phạm hành chính: Chính là tính xâm hại khách quan
của vi phạm hành chính, được thể hiện ở vi phạm hành chính đã xâm hại hoặc đe
dọa xâm hại các quan hệ đã được pháp luật quy định thành quy tắc quản lý nhà
nước. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hậu quả của vi phạm hành chính được biểu
hiện ở các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, về tự do thân thể của
cá nhân hoặc làm thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tập thể và công dân. Hậu quả
của vi phạm hành chính là kết quả của hành vi vi phạm hành chính do con người
đầy đủ khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ pháp lý quy định
Chủ thể của vi phạm hành chính
Khác với luật hình sự xác định chủ thể tội phạm chỉ có thể là cá nhân, trong
luật hành chính chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức; cá nhân
hoặc tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực
trách nhiệm pháp lý hành chính.
+ Đối với cá nhân: Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm công
dân Việt Nam và người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền ưu đãi,
miễn trừ ngoại giao và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh
thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải. Những người này
phải có năng lực trách nhiệm hành chính. Năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính
thể hiện khả năng nhận thức của con người với hành vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để
xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: Đạt độ tuổi theo quy định của pháp
luật, không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức của hành vi. Điều 5 Luật xử phạt
vi phạm hành chính năm 2012 xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là
11
cá nhân bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành
chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm
hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính (điểm a khoản 1).
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành
chính thì bị xử phạt như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức
phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động
có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan,
đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử phạt.
Mặt khác, Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 còn quy định: Người
từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo; Người chưa
thành niên vi phạm hành chính gây ra thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
chúng ta sẽ làm rõ vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng.
Văn bản pháp quy hiện hành trực tiếp quy định về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (GTĐB) và đường sắt là Nghị định số
46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 không đưa ra định nghĩa pháp lý thế nào là vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Điều này cũng diễn ra tương
tự với Nghị định bị thay thế trước đó là Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày
13/3/2013. Tuy nhiên hai văn bản này lại xác định phạm vi của thuật ngữ “lĩnh vực
giao thông đường bộ” theo các hiểu tại các Nghị định này. Theo Khoản 1 Điều 2
Nghị định số 46/2016/NĐ-CP, “lĩnh vực giao thông đường bộ” được xác định bởi
loại phương tiện tham gia giao thông, đó là: a) Máy kéo; b) Các loại xe tương tự xe
ô tô; c) Các loại xe tương tự xe mô tô; d) Xe máy điện; đ) Các loại xe tương tự xe
gắn máy; e) Xe đạp máy.
Từ góc độ lý luận, có thể thấy đã từng có một định nghĩa pháp lý về vi phạm
hành chính trong lĩnh vực GTĐB. Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 34/2010/NĐ–CP
ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính Phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ quy định: “Vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ là những hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy
định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách cố ý hoặc vô ý mà
không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm
hành chính…” .
Như vậy, điều luật này đã đưa ra định nghĩa pháp lý về vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Qua định nghĩa này, có thể thấy được các dấu
hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là:
13