MỤC LỤC
Trang
I : MỞ ĐẦU:
1
1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm.
1
2. Mục đích nghiên cứu.
2
3. Đối tượng nghiên cứu.
3
4. Phương pháp nghiên cứu.
3
II : NỘI DUNG SÁNG KIẾN:
4
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
4
2. Thực trạng của việc rèn kỹ năng mở rộng vốn từ cho học sinh
1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm:
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, để cùng hội nhập với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Sự nghiệp giáo dục là mối quan tâm hàng đầu của
đất nước. Đảng ta đã chỉ rõ: “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Thế hệ trẻ chính là
tài sản vô giá của dân tộc. Họ không chỉ được trang bị hệ thống kiến thức vững
vàng, mà quan trọng hơn cả là lớp trẻ phải được trang bị khả năng vận dụng kiến
thức vào thực tế. Tức là phát triển ở học sinh khả năng, năng lực để các em trở
thành con người có khả năng hành động, khả năng giải quyết vấn đề mà cuộc sống
đặt ra. Môn Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng, góp phần đắc
lực vào việc thực hiện mục tiêu chung của sự nghiệp Giáo dục Đào tạo, hình
thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Trong môn Tiếng Việt mỗi phân
môn đều có vai trò lớn trong việc bồi dưỡng rèn luyện kỹ năng đọc, viết, nghe,
nói ..., góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu môn học. Qua môn
Tiếng Việt nhằm nâng cao khả năng giao tiếp góp phần hình thành nhân cách,
bồi dưỡng tình cảm, cảm xúc, thẩm mỹ, làm giàu vốn sống, vốn văn hoá của học
sinh. Môn Tiếng Việt là một trong những môn có đóng góp tích cực vào quá
trình giáo dưỡng các em thành những con người phát triển toàn diện. Ở mỗi khối
lớp môn Tiếng Việt có yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau. Đặc biệt giai đoạn đầu
của bậc tiểu học có nhiệm vụ dạy cho học sinh nắm chắc vốn kiến thức cơ bản
làm nền tảng để các em tiếp tục học tập, rèn luyện các kiến thức, kỹ năng có
mức độ cao hơn ở các bậc học tiếp theo. Do đó, trong giai đoạn đầu của Tiểu
học việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt vừa phải
quan tâm đến hệ thống hoá, khái quát hoá nội dung học tập vừa phải chú ý quan
tâm bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, đây là những nhiệm vụ
quan trọng góp phần hướng đạt được các mục tiêu: trang bị kiến thức và kỹ năng
cơ bản trong giao tiếp hàng ngày; tạo nền tảng kỹ năng, kiến thức để các em học
tập, nghiên cứu và rèn luyện môn Tiếng Việt ở các bậc học tiếp theo. Hơn thế
nữa môn Tiếng Việt là công cụ để học tốt các môn học khác, học sinh học tốt
môn Tiếng Việt sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu, học tập kỹ năng,
kiến thức ở những môn học khác. Vì vậy Đảng ta nói chung, Bộ Giáo dục và
chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Qua môn Tiếng Việt tạo cho học sinh cơ
hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, biết đồng
cảm, sẻ chia, có cá tính và đời sống tâm hồn phong phú; bồi dưỡng cho học sinh
tình yêu đối với Tiếng Việt ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần
giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam.
Đặc điểm của dạy môn Tiếng Việt trong đó phân môn Luyện từ và câu lớp
2 là một phân môn mới đối với các em. Bởi các em chuyển từ giai đoạn đọc
thành tiếng, đoạn văn, thơ sang đọc bài và hiểu nội dung của bài để nói, viết góp
phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu cái
thiện và cái đẹp, dạy cho các em cách tư duy có hình ảnh và luôn “rèn kỹ năng
2
mở rộng vốn từ cho học sinh”.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Rèn kỹ năng mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 ở trường Tiểu học hiện
nay nói chung và học sinh lớp 2A trường Tiểu học Thiệu Dương nói riêng.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Để việc nghiên cứu đạt kết quả tốt, tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:
- Phương pháp kế thừa tài liệu.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Dạy thực nghiệm.
- Trao đổi, toạ đàm với đồng nghiệp.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
3
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
- Giáo viên đã vận dụng đầy đủ phương pháp dạy học để rèn kỹ năng mở
rộng vốn từ cho học sinh, tuy nhiên việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực
chưa thường xuyên, chưa thực sự nhuần nhuyễn.
4
- Giáo viên chưa tổ chức được các chương trình ngoại khoá lý thú, bổ ích
cho việc rèn kỹ năng mở rộng vốn từ của học sinh.
- Thiếu sự kết nối của giáo viên – phụ huynh. Một số phụ huynh có thái
độ thờ ơ, xem nhẹ việc học của con em, phó mặc hoàn toàn cho nhà trường và
giáo viên.
- Nội dung sinh hoạt Sao, Đội đơn điệu, thiếu sinh động, chưa đóng góp
tích cực cho việc rèn kỹ năng mở rộng vốn từ cho học sinh.
- Thiếu văn hoá phẩm ( sách, báo, truyện tranh…) dành cho các em ttrong
các giờ sinh hoạt đầu giờ, cuối tuần…. v.v.
2.2. Một số thuận lợi, khó khăn trong việc dạy rèn kỹ năng mở rộng vốn
từ cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Thiệu Dương.
a) Thuận lợi:
- Trường có đội ngũ giáo viên vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ sư
phạm, nhiệt tình công tác, yêu nghề, yêu trẻ.
- Cơ sở vật chất của trường tương đối đầy đủ, khang trang.
- Hầu hết các em đã biết đọc, viết, có ý thức học tập và đã bắt đầu hình
thành khả năng hoạt động độc lập. Đặc biệt là lòng ham học hỏi, ý thức tìm hiểu
về sự vật, hiện tượng và môi trường xung quanh….
- Đa phần phụ huynh thể hiện sự quan tâm và đầu tư đúng mức cho con
em học hành nên đa số các em có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập.
- Các em sinh ra và lớn lên ở địa phương có nhiều tập tục văn hoá hay,
đẹp…
b) Khó khăn:
- Nhìn chung đối với học sinh lớp 2 vốn từ của các em còn rất nghèo nàn;
Tổng số
học sinh
(em)
Mức đạt
Số
Tỷ lệ
được
lượng
(%)
(điểm số) (em)
Hoàn
thành tốt
(điểm 9,
10)
32
Hoàn
thành
(điểm
5,6,7,8)
Chưa
hoàn
thành
(điểm
dưới 5)
4
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng về kỹ năng mở rộng vốn từ của
học sinh, về mục tiêu đổi mới chương trình sách giáo khoa, về phương pháp dạy
học tích cực... Để “ rèn kỹ năng mở rộng vốn từ” cho học sinh đạt hiệu quả
cao, theo tôi có thể áp dụng những biện pháp sau:
Biện pháp thứ nhất: Xác định đúng cấu trúc chương trình Tiếng Việt lớp 2.
Để đạt mục tiêu cao “rèn kỹ năng mở rộng vốn từ cho học sinh “ chúng ta
phải nắm được cấu trúc chương trình tiếng Việt lớp 2: Tiếng Việt lớp 2 đã được
xây dựng theo hai trục kiến thức là chủ điểm và kỹ năng. Trong đó chủ điểm được
lấy làm khung cho cả cuốn sách, còn kỹ năng được lấy làm khung cho từng tuần,
từng đơn vị học. Cấu trúc của sách gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một
chủ điểm. Mỗi chủ điểm có các chủ điểm nhỏ. Chủ điểm trường học được chia
nhỏ thành các chủ điểm: Em là học sinh; Bạn bè; Trường học; Thầy cô. Chủ điểm
gia đình được chia nhỏ thành các chủ điểm: Ông bà; Cha mẹ; Anh em; Bạn trong
nhà. Chủ điểm thiên nhiên gồm 5 chủ điểm nhỏ: Bốn mùa; Chim chóc; Muông
thú; Sông biển; Cây cối. Còn chủ điểm xã hội ở lớp 2 mới chỉ đề cập đến 2 chủ
điểm nhỏ: Bác Hồ; Nhân dân. Bên cạnh các tuần học theo từng chủ điểm, trong
mỗi học kỳ còn có một tuần giữa và tuần cuối dành ôn tập và kiểm tra.Về cấu trúc
của đơn vị học: Mỗi đơn vị học gồm 2 tuần, trừ chủ điểm Nhân dân là nội dung
khá rộng nên học trong ba tuần. Trong mỗi tuần học, học sinh học từng phân môn
với thứ tự sau: Tập đọc (2 tiết); Kể chuyện (1 tiết); Chính tả (2 tiết); Tập đọc (1
tiết); Luyện từ và câu (1 tiết); Tập viết (1 tiết); Tập làm văn (1 tiết). Nhằm mục
đích mở rộng vốn từ cho học sinh qua các phân môn Tiếng việt một cách dễ nhớ,
ví dụ chủ điểm gia đình gồm có ông, bà, cha, mẹ… Học sinh biết phân biệt ông
bà nội, ngoại ngoài ra còn biết tình cảm, trách nhiệm con cháu đối với ông bà….
Biện pháp thứ hai: Xác định đúng mục tiêu, nội dung Tiếng Việt 2 theo
phương pháp mới (phải đọc kỹ sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tập
huấn, tài liệu giảm tải và các tài liệu liên quan khác).
Theo cấu trúc Tiếng Việt 2 được xây dựng qua những chủ điểm như trên. Các
chủ điểm, bài học trong từng chủ điểm gần gũi, quen thuộc, gắn bó hàng ngày với
các em. Nếu giáo viên vận dụng tốt mọi phương pháp dạy học sẽ giúp học sinh hệ
học tốt, song các em chưa thật mạnh dạn, ít hoặc còn ngại tham gia vào các hoạt
động tập thể, ít trao đổi với bạn bè, người lớn. Tuy nhiên, trong nhóm này cũng
có một số em khả năng nhận thức, tiếp thu bài ở mức trung bình, ý thức học tập
chưa cao, trầm, không mạnh dạn, không tham gia các hoạt động tập thể...
c) Đối với nhóm học sinh mức đạt được là mức “Chưa hoàn thành”: nhóm
này chủ yếu là học sinh trong các hộ nghèo, gia đình đông con, ít có sự quan tâm
giáo dục con. Các em ở trong hoàn cảnh khó khăn nên ít có điều kiện học tập,
giao tiếp, tính cách rụt rè, thiếu tự tin, tự ti trước bạn bè, thậm chí nhiều lúc cô
gọi đọc bài các em còn ngượng ngại.... Vì vậy mà các em không những hạn chế
8
về vốn từ mà nhiều em còn biểu hiện không muốn học.
Căn cứ vào những nguyên nhân dẫn đến thực trạng năng lực của mỗi
nhóm học sinh nói trên, tôi đã áp dụng phương pháp dạy học sao cho phù hợp
với từng nhóm học sinh, cụ thể:
* Đối với học sinh có vốn từ phong phú, có kỹ năng tốt trong việc sử
dụng vốn từ, sử dụng ngôn ngữ thì ngoài việc thực hiện mục tiêu của từng môn
học, bài học (trong môn Tiếng Việt), tôi ra thêm nhiều bài tập nâng cao, đòi hỏi
kỹ năng sử dụng vốn từ phức tạp hơn; khuyến khích học sinh đọc báo, đọc
chuyện, kể chuyện, viết thơ... (theo khả năng, lứa tuổi của mình) nhằm phát huy
kỹ năng giao tiếp và ngày càng mở rộng thêm vốn từ.
* Đối với nhóm học sinh có vốn từ trung bình, chưa phong phú, có kỹ
năng từ trung bình đến khá trong việc sử dụng, vận dụng vốn từ của bản thân,
việc đọc, nói đôi lúc chưa trôi chảy: Tôi đã tăng cường kiểm tra bài cũ, kiểm tra
làm bài tập theo SGK, tăng cường gọi các em đọc bài, gọi phát biểu ý kiến…v.v.
Bên cạnh đó khuyến khích, động viên các em tích cực luyện nghe, nói, đọc, viết
thông qua hình thức thuật lại chuyện kể đã nghe, viết lại chuyện đã đọc, phát
biểu ý nghĩa, cảm tưởng về bài văn, thơ..v.v.
* Đối với học sinh vốn từ ít, kỹ năng sử dụng vốn từ còn lúng túng, diễn
hợp và phân tích; phương pháp đi từ âm sai đến âm đúng qua âm trung gian.
Trong đó việc rèn luyện theo mẫu (tức việc đọc mẫu của giáo viên) là cực kì
quan trọng. Nhưng hiện nay việc đọc mẫu của giáo viên cũng không phải là việc
dễ dàng, không phải là giáo viên nào cũng làm tốt vì việc xác định chỗ ngắt
nhịp, ngắt nghỉ hơi trong câu văn, câu thơ nhiều lúc chúng ta còn lúng túng.
Ngắt nhịp sai sẽ dẫn đến việc dạy đọc, nghe, cảm thụ từ, ngữ, câu, bài sẽ không
hiệu quả nếu không muốn nói sẽ lệch lạc nội dung bài. Vì vậy, giáo viên cần
nắm được những nguyên tắc khi dạy học sinh ngắt nhịp thơ, văn:
- Giáo viên cần bám sát ý nghĩa của câu văn câu thơ, các cụm từ, hình ảnh
âm thanh các từ có mặt trong câu. Ngoài ra, cần xác định đúng cấu trúc ngữ
pháp của câu, của các cụm từ, các từ và bám sát cảm xúc, ý định của người viết
cộng hưởng cảm xúc của người đọc.
Đối với việc rèn luyện kỹ năng nói, giáo viên phải có hình thức chăm lo,
uốn nắn các trường hợp dùng từ chưa chính xác, có thể qua đó giáo viên cung
cấp cho học sinh một số từ đồng nghĩa, trái nghĩa, hướng dẫn học sinh tìm hiểu
dạng từ cùng dạng, từ có thể thay thế từ đã cho.
Đặc biệt khi dạy học sinh mức đạt được “Chưa hoàn thành” luyện các kỹ
năng đọc và nói thì mỗi lần đọc, nói của học sinh được coi như một lần đọc mẫu,
nói mẫu của giáo viên để học sinh khác học tập. Không những thế mà còn tạo sự
tập trung trong học tập của các em. Khi luyện kỹ năng đọc to, nói to, rõ ràng học
sinh cũng tự mình có ý thức đọc đúng (bởi nếu đọc sai thì các bạn nghe được và sẽ
cảm thấy xấu hổ). Hơn nữa khi học sinh đọc to, nói to thì giáo viên cũng như các
bạn trong lớp mới có thể phát hiện chỗ sai và sữa chữa kịp thời. Vì vậy đọc to, nói
10
to có tác dụng không chỉ phát hiện ở một em nào đó mà còn có tác dụng với các em
khác khi biết bạn sai và được giáo viên sữa chữa. Nói cách khác đọc và nói tốt
không chỉ vốn từ được mở rộng mà còn sử dụng vốn từ một cách chính xác.
Ngoài ra đối với học sinh mức đạt được “Chưa hoàn thành”, hàng ngày bằng
11
mới sách giáo khoa lớp 2 nói riêng thì giáo viên phải năng động vận dụng tối đa
phương pháp dạy học theo hướng tích cực để học sinh chủ động tìm tòi, sáng tạo
tự lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng, hiệu quả. Giáo viên phải tìm tòi để có
thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết học.
Thay vì áp dụng quan điểm và phương pháp dạy học trước đây (như đã đề
cập ở phần đặt vấn đề) là chỉ tập trung, chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh
chủ yếu trong phân môn Luyện từ và câu, Tập đọc...thì giờ đây giáo viên phải
biết chú trọng đồng đều, phát huy tối đa mục tiêu của các phân môn trong môn
Tiếng Việt. Đối với việc vận dụng trong thực tế dạy học môn Tiếng Việt lớp 2,
chúng ta cần biết rằng ở mỗi phân môn đều có một vai trò, nhiệm vụ cực kỳ
quan trọng trong việc mở rộng vốn từ, rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu, rèn
luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, tư duy. Chẳng hạn như: trong
phân môn Tập đọc, quá trình rèn kỹ năng đọc cho học sinh giáo viên cần phải
giải thích nghĩa của những từ ngữ khác ngoài từ ngữ đã được chú giải, tức là
phải nắm được nội dung dạy từ ở phân môn này gồm những gì?
Ví dụ: trước đây, đối với một bài Tập đọc cụ thể nào đó, sau khi giáo viên
đọc mẫu, hướng dẫn học sinh luyện đọc, chúng tôi kết hợp tìm hiểu nội dung,
trong quá trình đó hướng dẫn học sinh nắm, hiểu nghĩa một số từ cơ bản sau đó
là rèn kỹ năng đọc cho học sinh. Còn bây giờ, để mở rộng vốn từ cho học sinh,
chúng ta phải thực hiện các bước sau:
- Đọc mẫu của giáo viên, giáo viên hướng dẫn sơ qua cách đọc.
- Tổ chức cho học sinh cách tìm, phát hiện từ khó, tiếng khó (khó cả về cách
phát âm, khó cả về nghĩa), câu khó (khó cả về cách đọc và cách hiểu). Từ đó
hướng dẫn học sinh hiểu những từ - tiếng - câu khó đó trong văn bản, trong ngữ
cảnh... Những từ khó ở đây không chỉ là những từ được chú giải ở sách giáo khoa
mà có thể là từ chốt nội dung bài hoặc từ mới đối với học sinh mà có liên quan
chặt chẽ tới nội dung bài. Còn câu khó giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định
các cụm từ này, giáo viên có thể dùng cách diễn đạt mộc mạc, dễ hiểu phù hợp
với trình độ học sinh (có thể đa dạng những cụm từ, những thành ngữ cùng
nghĩa hay khác nghĩa để thay thế từ đã cho).
Nội dung dạy từ trong phân môn Chính tả thì chủ yếu giới hạn ở việc giúp
các em nắm nghĩa của từ và mở rộng vốn từ ở cả các ngữ liệu và bài tập chính tả.
Học sinh làm được bài tập chính tả tức là các em đã củng cố, khắc sâu nghĩa của
từ. Ở phần này sau khi học sinh viết chính tả, làm bài tập chính tả thì việc chấm,
chữa bài trực tiếp ở bảng là rất quan trọng. Bởi vì, có những từ khó, có khi học
sinh lại tìm và làm đúng, nhưng đôi lúc có những từ rất rễ nhưng do tính chủ quan
học sinh hay làm sai, nếu ta không chấm và chữa bài thì không biết được những
sai sót thông thường đó. Không chữa bài dẫn đến việc học sinh sẽ không nhận ra
các sai đó và có thể tiếp tục phạm cái sai này trong các bài sau.
Nói tóm lại: Khi dạy, giáo viên cần kết hợp sử dụng tối đa các phương pháp
để tiết học có hiệu quả. Ở phân môn Kể chuyện, với mục đích dạy từ, giáo viên cần
13
chú trọng tạo điều kiện để học sinh được luyện tập, sử dụng từ nhằm phát triển kỹ
năng nghe, nói. Cần cho học sinh luyện tập nhiều về từ ngữ - các từ trong tranh
trạng thái hoạt động, vận động để giúp học sinh có thể nối bằng một từ, một câu về
nội dung tranh đó. Từ đó học sinh có thể kể thành một nội dung trọn vẹn.
Đối với phân môn Tập làm văn, thì giáo viên phải nhận thấy được rằng:
với mục đích dạy từ thì dạy Tập làm văn chính là dạy sử dụng từ nhằm củng cố
các kỹ năng nói - viết - nghe - đọc phục vụ cho việc học tập, giao tiếp của học
sinh. Nội dung luyện tập, sử dụng từ ở phân môn Tập làm văn nhằm đạt được
các mục đích: học sinh hiểu từ để lĩnh hội văn bản và biết cách dùng từ chính
xác; mở rộng được vốn từ.
Trong việc dạy - học, giáo viên phải nắm rõ và thực hiện được mục tiêu
kiến thức trong từng phân môn Tiếng Việt, từ đó giáo viên phải biết lựa chọn, kết
hợp các hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Có liên quan, xâu chuỗi các phương
thông qua các buổi họp phụ huynh tôi thực hiện công tác tuyên truyền tới các
bậc phụ huynh và nội dung chương trình học, thống nhất một số biện pháp để
mở rộng vốn từ cho học sinh.
- Kết hợp các bậc cha mẹ không chỉ giúp cha mẹ và giáo viên có kiến thức, mà
còn giúp cha mẹ hiểu được thêm công việc của giáo viên ở lớp cũng như giáo
viên hiểu được hoàn cảnh và điều kiện sống của trẻ ở gia đình. Để có biện pháp
giáo dục phù hợp, tạo nên mối quan hệ thân thiết, cởi mở, thân thiện giữa phụ
huynh và giáo viên để mở rộng vốn từ cho học sinh. Ví dụ như chủ đề: Gia đình.
Trẻ biết được các thành viên trong gia đình, mối quan hệ, tình cảm và trách
nhiệm của các thành viên trong gia đình với nhau. Trẻ tôn trọng lễ phép với ông
bà, bố mẹ, yêu quý em nhỏ…biết công việc hàng ngày của bố mẹ.
- Ngoài ra phối kết hợp với các phụ huynh của lớp, kết hợp với nhà trường
trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội và các sự kiện đặc biệt ở trường tiểu học: tết
trung thu, tết thiếu nhi 1/6,…để các em có cơ hội giao tiếp tốt hơn.
Nếu giáo viên và phụ huynh có liên kết tốt, có ý thức trách nhiệm cao đối
với học sinh, đối với con em mình thì kết quả học môn Tiếng Việt nói riêng, kết
quả học tập nói chung sẽ được nâng cao. Có thể nói phụ huynh cũng là thầy cô
giáo ở nhà “chỉ dạy một học sinh là con mình” họ có thể ra bài, hướng dẫn, giảng
dạy con mình một cách rất hiệu quả. Nhờ vậy các em sẽ có điều kiện học tập tốt
hơn, vấn đề mở rộng vốn từ được phát triển, giao tiếp và tư duy sẽ tốt hơn.
Biện pháp thứ bảy : Kết hợp với tổ chức Đội và giờ Hoạt động ngoại khoá:
Hoạt động tổ chức Đội, hoạt động ngoại khoá không chỉ là một hoạt động
vui chơi giải trí đơn thuần. Nó thực sự góp phần bồi bổ kiến thức cho các em.
Chính hoạt động Đội, hoạt động ngoại khoá ở trong nhà trường đang góp phần giúp
các em tự tin, mạnh dạn hơn, dùng từ đặt câu phong phú. Ngoài ra giúp học sinh
tham gia, đem lại cho các em những giây phút thư giãn lý thú sau những giờ học
căng thẳng và còn giao tiếp tốt hơn. Vì vậy mà giáo viên phải kết hợp chặt chẽ với
tổ chức Đội trong nhà trường, thường xuyên cho học sinh tham gia đầy đủ các hoạt
15
32
Hoàn thành
(điểm
5,6,7,8)
Chưa hoàn
thành
(điểm dưới
5)
Số
lượng
(em)
14
18
0
Tỷ
lệ
(%)
Nhận xét
Nhóm HS này có vốn từ phong phú,
đa dạng và có kỹ năng tốt trong việc
43,7
II tình trạng này không còn nữa. Vốn từ của các em dần trở nên phong phú hơn;
kỹ năng vận dụng, sử dụng vốn từ khá linh hoạt, khá hình ảnh trong làm bài,
trong giao tiếp. Việc hiểu yêu cầu của từng bài, từng lời, từng ý ở các bài học,
bài tập trong sách giáo khoa cũng dễ dàng, đơn giản hơn.
Theo tôi, nếu áp dụng các biện pháp nói trên một cách nhuần nhuyễn vào
việc dạy học Tiếng Việt thì sau khi học xong lớp 2 học sinh sẽ có vốn từ khá
phong phú, việc sử dụng từ cũng chuẩn xác và hiệu quả hơn. Kỹ năng giao tiếp
sẽ tốt hơn tạo tiền đề để các em học tốt các phân môn trong Tiếng Việt (đọc, nói,
viết, làm văn,...) phù hợp với mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt cũng như tạo tiền
đề để các em học tốt các môn học khác bây giờ và cả ở các lớp trên.
17
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Như vậy, từ thực tế giảng dạy nhiều năm và một số năm dạy chương trình
lớp hai sau khi vận dụng những kinh nghiệm năm trước và một số kinh nghiệm
được bổ sung ở năm nay, tôi nhận thấy: Để học sinh có vốn từ đa dạng, phong
phú; có kỹ năng giao tiếp, sử dụng tốt Tiếng Việt thì giáo viên là người có vai trò
quan trọng nhất. Giáo viên phải là người thực sự yêu nghề, thực sự có tâm
huyết, thực sự vì học sinh. Giáo viên phải luôn luôn tìm tòi, học hỏi, kiên trì,
nhẫn nại trong quá trình dạy học. Ngoài ra giáo viên cần biết tận dụng sự hỗ trợ
đắc lực của phụ huynh, của tổ chức Đội, Sao... Nếu thoã mãn được các yêu cầu
trên thì kết quả học tập, đặc biệt là kỹ năng mở rộng vốn từ ở học sinh sẽ tiến bộ
rõ rệt.
2. Kiến nghị:
Từ những thực tế giảng dạy nhiều năm ở lớp 2 tôi mạnh dạn đề xuất một
số kiến nghị sau:
a. Đối với học sinh, phụ huynh.
- Tổ chức các cuộc thảo luận về việc thực hiện Thông tư số 30/2014/TTBGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ Giáo dục Đào tạo về việc đánh giá
học sinh Tiểu học và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm
2016 của Bộ Giáo dục Đào tạo về việc sửa đổi quy định đánh giá học sinh Tiểu
học nhằm thu thập kinh nghiệm từ các cán bộ của ngành giáo dục và nhất là từ
những giáo viên trực tiếp đứng lớp - giảng dạy.
- Phòng nên tham mưu với Sở, Bộ áp dụng cách đánh giá học sinh Tiểu
học theo Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 10 năm 2009 về việc
đánh giá học sinh tiểu học (đánh giá bằng điểm số). Bởi vì theo cách đánh giá
hiện nay, việc hằng ngày giáo viên chấm – phê các em sẽ rất khó để phân biệt rõ
được năng lực, chất lượng học tập của các em như cách đánh giá bằng điểm số.
- Phòng cần tạo điều kiện để giáo viên được tiếp cận, học tập nhiều
phương pháp giảng dạy mới có hiệu quả cao hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi được rút ra trong quá
trình giảng dạy của năm học 2017 - 2018. Theo tôi, đó là những việc làm thiết
thực để góp phần cải tiến phương pháp dạy nhằm ngày càng nâng cao năng lực
học tập, rèn luyện của học sinh.
Vì điều kiện, thời gian và khả năng có hạn, chắc chắn sáng kiến còn nhiều
hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ, góp ý, bổ sung của Hội
đồng khoa học, của Ban Giám hiệu nhà trường và của các đồng nghiệp để sáng
kiến được hoàn thiện hơn. Qua đó, giúp tôi nâng cao được năng lực giảng dạy,
mở rộng kiến thức chuyên môn, tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao.
19
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường cùng các bạn đồng nghiệp
trường Tiểu học Thiệu Dương, tập thể phụ huynh lớp 2A đã tạo điều kiện giúp
đỡ cho tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 26 tháng 3 năm 2018.