Tư liệu địa lí phổ thông- Công nghệ sinh học - Pdf 53

Công nghệ sinh học
Ngày 4-3-2005 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 50-CT/TƯ về việc
đẩy mạnh phát triển và ứng dụng Công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Mở đầu bản Chỉ thị đã nhấn mạnh "Công nghệ sinh học là
một lĩnh vực công nghệ cao dựa trên nền tảng khoa học về sự sống, kết hợp với quy trình
và thiết bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai thác các hoạt động sống của vi sinh
vật, tế bào thực vật và động vât để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm sinh học
có chất lượng cao, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường".
Đó là một nhận định chính xác và có tính chỉ đạo cao đối với sự nghiệp phát triển Công
nghệ sinh học ở nước ta. Trong một lần trao đổi gần đây với cán bộ khoa học, Phó Thủ
tướng Phạm Gia Khiêm đã cho rằng: cần đưa Công nghệ sinh học phát triển nhanh như
Công nghệ thông tin hoặc cao hơn thì càng tốt.
Chúng ta biết rằng Công nghệ sinh học (Biotechnology) và Công nghệ thông tin
(Informatic technology) được coi là làn sóng thứ năm trong lịch sử phát triển của khoa học
và công nghệ.. Vậy mà đúng như nhận định được nêu lên trong Chỉ thị 50 nói trên: Công
nghệ sinh học hiện đại của nước ta vẫn đang ở tình trạng lạc hậu so với một số nước
trong khu vực và nhiều nước trên thế giới, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng
của phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao mức sống của nhân dân.
Công nghiệp sinh học chậm phát triển, chưa tạo ra được các sản phẩm chủ lực cho nền
kinh tế quốc dân.
Chúng ta cần nhớ rằng Công nghệ sinh học (CNSH) có 3 cấp độ khác nhau: CNSH truyền
thống như các hoạt động chế biến thực phẩm (rượu, giấm , sữa chua, dưa chua, cà muối,
pho-mát, tương, nước mắm, men bánh mỳ...),ủ phân , phơi ải đất, diệt khuẩn và ức chế vi
sinh vật có hại...CNSH cận đại với việc sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm của
công nghệ lên men, công nghệ vi sinh vật (cồn, bia, dung môi hữu cơ, bột ngọt và các axít
amin khác, axit xitric và các axit hữu cơ khác, chất kháng sinh, nhiều vitamin, các loại
văcxin, kháng độc tố, các kit chẩn đoán bệnh truyền nhiễm, thuốc trừ sâu sinh học, phân
bón sinh học...). CNSH hiện đại chỉ mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. CNSH hiện
đại sử dụng các kỹ thuật trao đổi, sửa chữa, tổ hợp hoặc cải tạo vật chất di truyền ở mức độ
phân tử để tạo ra những loại sinh vật mới hoặc bắt các sinh vật này tạo ra các protein hay
các sản phẩm khác mà vốn dĩ chúng không tạo ra được.

bán giống và các chế phẩm sinh học được dùng để trang trải cho mọi chi phí và cho sự phát
triển nhanh chóng của ATCC.. Hiện tại ATCC đang bảo quản trong điều kiện siêu lạnh
(trong nitơ lỏng) và trong đông khô vài vạn chủng vi sinh vật , ngoài ra còn có 75 dòng tế
bào và 400 loại hạt giống đã đăng ký sáng chế. Các nhà khoa học tại ATCC đang lưu giữ
các nguồn gen quý giá không chỉ cho nước Mỹ mà cho toàn nhân loại, vì bất kỳ ai muốn
đăng ký mua chủng nào, hạt giống nào cũng được (qua E-mail: ).
CN di truyền còn gọi là CN gen, Kỹ thuật tái tổ hợp ADN (DNA recombination) thực hiện
việc chuyển gen để tạo ra các tế bào hoặc cá thể mang các gen mới nhằm tạo ra những vật
chất cần thiết cho con người. Đó là những thành tựu kỳ diệu nhằm giúp chẩn đoán, cứu
chữa hoặc phòng ngừa các bệnh hiểm nghèo, chẳng hạn như việc sản xuất ở quy mô công
nghiệp insulin (dùng cho bệnh nhân tiểu đường), kích tố sinh trưởng người (BN lùn bẩm
sinh), các loại interferon (chống virut và ung thư), các nhân tố kích thích tập lạc tế bào
(CSF), giới tố bạch cầu (IL), nhân tố gây chết khối u (TNF), nhân tố sinh trưởng biểu bì
(EGF), nhân tố sinh trưởng tế bào nội bì mạch máu (PDGF), nhân tố sinh trưởng chuyển
hoá (TGF), các chemokin (C, CC, CXC, CX3C), nhân tố kích hoạt plasminogen tổ chức
(tPA), men urokinase (UK), pro-urokinase (pro-UK ), calcitonin, nhân tố sinh trưởng thần
kinh ( NGF), enkephalin (chữa bệnh thần kinh), thymosin (tăng cường miễn dịch ),
hemopoietin (chữa thiếu máu) , protein huyết tương (PP) , relaxin (hỗ trợ sản phụ), nhân tố
đông tụ máu (BCF), các loại vắc xin tái tổ hợp (phòng chống viêm gan B, viêm não Nhật
Bản, dịch tả, sởi, bại liệt, dại, sốt rét, lở mồm long móng...)
CN gen tạo cơ sở điều trị các bệnh di truyền mà trước đây hoàn toàn chịu bó tay: bệnh
nhiễm sắc thể thường, bệnh NST giới tính, hội chứng đa bội thể, bệnh đa gen, bệnh phân
tử, một số bệnh ung thư...
CN gen hỗ trợ hữu hiệu cho việc chọn giống cây trồng: chọn giống đơn bội, chọn giống đa
bội, tạo dưa hấu không hạt, chọn giống có hiệu suất quang hợp cao, chọn giống mang gen
cố định đạm (không cần phân đạm), chọn giống mang gen diệt sâu hại ( hạn chế sử dụng
thuốc trừ sâu), chọn giống kháng virut, chọn giống giàu dinh dưỡng, chọn giống đề kháng
thuốc trừ cỏ...
CN gen mở ra tiền đồ to lớn trong việc tạo ra các cây trồng chuyển gen (GMC hay GMO):
Cây thuốc lá là cây chuyển gen đầu tiên được đưa vào ứng dụng (1983). Sau đó là cây

transplantation) và sự ra đời con cừu Dolly của Wilmut vào năm 1997. Đó là thành công
mở đầu của việc sinh sản vô tính (cloning) một động vật có vú. Về sau các nhà khoa học
khác đã liên tiếp tạo ra bằng phương pháp sinh sản vô tính này các con chuột, dê, cừu, bò,
lợn… Nếu thành công trong việc chuyển vào lợn những gen của người để chống lại sự đào
thải sau khi ghép phủ tạng rồi cho sinh sản vô tính để tạo ra hàng loạt các con lợn quý giá
này thì hoàn toàn có thể mở ra một tiền đồ rộng lớn trong việc dùng phủ tạng của lợn
(thận, gan, tim...) để ghép cho người bệnh.
Người ta cũng đã thành công trong việc nuôi cấy các tế bào g?c của phôi thai (embryonic
stem cell) và dùng chúng vào các mục tiêu điều trị các bệnh hiểm nghèo , kể cả các bệnh di
truyền.
Về công nghệ enzym/protein người ta đã sử dụng thành công kỹ thuật enzym bất động
(immobilized ezyme) hoặc tế bào bất động (immobilized cell) đã sản xuất ở quy mô công
nghiệp các sản phẩm được tạo thành nhờ hoạt động xúc tác của enzym. Nhờ sử dụng công
nghệ gen người tacó thể tạo ra khả năng sản sinh một enzym mới nhờ vi khuẩn hoặc nấm
men hoặc là nâng cao thêm lên nhiều lần hoạt tính sản sinh enzym của chúng.
Sản phẩm CNSH có giá trị thực tiễn rất lớn và vì vậy đã đem lại những nguồn doanh thu
khổng lồ cho các Công ty CNSH ở nhiều nước. Sau khi sản xuất thành công insulin vào
năm 1982 đến nay cơ quan FDA của Hoa Kỳ đã cho phép sản xuất mới trên 50 loại dược
phẩm tái tổ hợp gen. Hiện nay ở Hoa Kỳ đã có trên 1300 Công ty CNSH, Châu Âu có 700
Công ty CNSH. Năm 1996 doanh thu chỉ riêng về các dược phẩm tái tổ hợp gen ở Hoa Kỳ
đã đạt tới 8 tỷ USD, mõi năm bình quân tăng 13% và dự kiến doanh thu vào năm 2006 là
25 tỷ USD (!). Nhật Bản vào thời điểm 1996 doanh thu về các dược phẩm tái tổ hợp gen đã
đạt đến 489,1 tỷ Yen, chiếm 25% tổng doanh thu về các sản phẩm CNSH. Tại Hoa Kỳ năm
2000 doanh thu chỉ riêng các sản phẩm CNSH nông nghiệp đã đạt đến 11-15 tỷ USD (!)
Công nghệ sinh học còn cần sớm tiếp cận với Công nghệ sinh học nanô
(Nanobiotechnology). Đó là việc tạo ra các thiết bị hiển vi có thể đưa vào mọi nơi trong cơ
thể để tiêu diệt virút và các tế bào ung thư, tạo ra hàng trăm các dược phẩm mới từ các vi
sinh vật mang ADN tái tổ hợp (recombinant DNA), tạo ra các protein truyền cảm (protein
sensor) có thể tiếp nhận các tín hiệu của môi trường sống, tạo ra các động cơ sinh học mà
phần di động được chỉ có kích cỡ phân tử protein, tạo ra các chip sinh học (biochip) và tiến

với Công nghệ thông tin. Mong sao với chỉ thị này CNSH sẽ có một bứt phá nhanh chóng
và có hiệu quả cao. Nước ta có nguồn gen sinh học đa dạng vào loại nhất thế giới; có rất
nhiều tiềm năng để phát huy thế mạnh của nghề nông, nghề rừng, nghề biển; có phong phú
các nguồn nguyên liệu cho công nghệ lên men (rỉ đường, tinh bột, xenluloza và lignin...).
Chúng ta có trí thông minh chẳng thua kém ai nhưng nếu được tổ chức lại thì trí thông
minh ấy mới có thể biến thành sức mạnh.
Để hưởng ứng Chỉ thị 50 của Ban Bí thư Trung ương Đảng tôi xin mạnh dạn đề xuất 5
kiến nghị cụ thể sau đây:
• Cần coi các Trường Đại học Quốc gia và các Trường Đại học trọng điểm là nguồn
đào tạo chủ yếu cán bộ có trình độ Đại học và trên Đại học về CNSH. Cần nâng
cao chất lượng các giáo trình và điều kiện thực hành cho sinh viên chuyên ngành
CNSH. Cần ưu tiên các học bổng du học cho CNSH.
• Chấn chỉnh lại các Phòng thí nghiệm trọng điểm theo hướng tách khỏi hoạt động
của các Viện lớn và thu hút về đây nhiều nhân tài đã được đào tạo sâu ở nước ngoài
nhưng đang tản mát tại các cơ quan khác. Có chế độ hợp tác mật thiết với các
Trường Đại học trong nghiên cứu khoa học và trong việc đào tạo sinh viên , nghiên
cứu sinh tại các Phòng thí nghiệm này.
• Nhà nước giao trách nhiệm cụ thể về từng vấn đề ưu tiên trong CNSH cho từng
đơn vị và tạo đủ điều kiện để hoàn thành trong một thời hạn nhất định. Cần có biện
pháp dân chủ để lựa chọn đúng vấn đề và đúng đối tượng được giao trách nhiệm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status