1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Tiếng Việt là bộ môn quan trọng trong chương trình Tiểu học. Môn Tiếng
Việt góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào tạo toàn diện thế hệ trẻ. Việc dạy
học Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học nhằm tạo cho học sinh năng lực sử
dụng Tiếng Việt văn hoá hiện đại, để suy nghĩ, giao tiếp và học tập, giáo dục cho
các em những tư tưởng, tình cảm trong sáng, lành mạnh. Trong môn Tiếng Việt
muốn “ Phát huy tính tích cực học tập của học sinh”, người thầy cần biết tổ chức
cho học sinh được “Tự bộc lộ” năng lực nhận thức và hành động qua các kỹ
năng nghe, đọc, nói, viết cùng với sự hợp tác trong học tập của bạn bè.
Trong 4 kỹ năng trên, nói là một hoạt động giao tiếp cần thiết của mỗi con
người. Trong cuộc sống hàng ngày, ở tất cả mọi người, mọi ngành nghề đều cần
đến các hoạt động giao tiếp. Giao tiếp là quá trình người nói diễn đạt thông tin
đến các đối tượng cần giao tiếp, nhằm đạt đến kết quả cuối cùng của hoạt động
giao tiếp. Chính vì vậy mà ngay từ khi bước vào lớp 1 sách giáo khoa đã rất chú
trọng đến việc dạy 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh. Nói là một trong
4 kỹ năng cơ bản ( nghe, nói, đọc, viết) cần rèn luyện và phải đạt được khi hoàn
thành chương trình Tiếng Việt lớp 1. Rèn kỹ năng nói là giúp học sinh phát triển
ngôn ngữ nói. Luyện nói tốt tức là cơ sở nền móng cho việc phát triển ngôn ngữ
nói, viết trong suốt bậc học và cả sau này. Ngoài ra, luyện nói cho học sinh, sẽ
giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Các em biết sử dụng từ ngữ
trong giao tiếp một cách chính xác, phong phú, phát huy trí tưởng tượng về ngôn
ngữ theo 1 chủ đề, một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể ,biết ứng xử và nhận xét sự
vật, sự việc trên những nhận thức riêng, bằng sự cảm nhận ngây thơ của con
mắt trẻ thơ. Vì thế, để học sinh luyện nói lưu loát, đạt hiệu quả, giáo viên cần
phải có cách tổ chức dạy để khơi gợi, kích thích học sinh có hứng thú bộc lộ
cảm xúc, ý nghĩ của mình và diễn đạt suy nghĩ ấy bằng ngôn ngữ nói của mình,
nhằm giúp trẻ sớm có tính cách mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn trong quá trình
giao tiếp.
Vì vậy với mong muốn nâng cao chất lượng đại trà ở môn Tiếng Việt mà cụ
thể là rèn kỹ năng nói cho các em lớp 1 bản thân tôi đã học hỏi đồng nghiệp, tự
c. Phương pháp điều tra:
Thông qua việc trao đổi với đồng nghiệp, với phụ huynh học sinh và học
sinh nhằm nắm bắt thu thập tài liệu, các thông tin về tình hình thực tế có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu. Tìm hiểu thực trạng về những lỗi học sinh thường
mắc phải, từ đó phát hiện các vấn đề cần nghiên cứu và chuẩn bị cho các bước
nghiên cứu tiếp theo.
d. Phương pháp đàm thoại:
Trao đổi với đồng nghiệp về những thuận lợi, khó khăn trong dạy học và
cách sử dụng phương pháp hiện nay.
e. Phương pháp quan sát:
Thông qua các tiết dự giờ, thao giảng trên lớp có thể quan sát trực tiếp tình
hình học tập của học sinh trong một tiết học qua đó biết được khả năng tiếp thu
bài, nắm bắt kiến thức qua bài làm của học sinh. Bên cạnh đó học hỏi đồng
nghiệp và chỉ ra những hạn chế trong giảng dạy của giáo viên.
g. Phương pháp thực nghiệm:
Để kiểm nghiệm tính khả thi và tác dụng của các bài đã thiết kế qua các bài
điều chỉnh cho hợp lí nhằm đạt kết quả cao trong dạy và học cũng như trong rèn
kỹ năng cho học sinh.
h. Xử lí tài liệu bằng PP thống kê.
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận.
Không biết từ bao giờ, trải qua hàng ngàn năm tiến hóa của loài người,
ngôn ngữ nói có tác dụng sơ khai là trao đổi thông tin và đóng vai trò biểu hiện
tình cảm, trạng thái tâm lí và là một yếu tố quan trọng để biểu lộ văn hóa, tính
cách con người. Việc giáo dục lời nói trong giao tiếp từ xưa đã được Ông cha ta
rất coi trọng: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Bên cạnh đó, với trẻ em, đây
lượng học sinh, cũng như việc sử dụng đồ dùng tương đối có hiệu quả. Sự chỉ
đạo chuyên môn của phòng giáo dục, Ban giám hiệu, Tổ chuyên môn có vai
trò tích cực giúp giáo viên đi đúng nội dung, chương trình phân môn Tiếng
Việt.
Bản thân tôi đã nhiều năm liền dạy lớp 1, ít nhiều cũng đúc rút được
chút kinh nghiệm trong giảng dạy. Nhiều năm nay, ở trường Tiểu học Nga
3
Nhân, chất lượng dạy học phân môn Tiếng Việt nói chung và việc rèn kỹ năng
nói cho học sinh đã được nâng lên. Bởi dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà
trường, đội ngũ giáo viên đã đổi mới phương pháp giảng dạy đó là phát huy tính
tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập.
* Tồn tại:
- Một số giáo viên còn xem nhẹ hoạt động nói của học sinh trước lớp, chỉ
chú trọng đến kĩ năng đọc, viết nên trong giờ học tiếng Việt thời lượng dành cho
hoạt động nói của học sinh quá ít. Chính vì thời lượng ít nên số lượng học sinh
tham gia nói về nội dung bài không được nhiều mà chỉ qua loa một vài em mà
thôi. Đa số các đồng chí trong thao giảng hoặc các tiết dự giờ rất ngại dạy các
tiết 2 của bài Tiếng Việt. Bởi vì tiết 2 có hoạt động luyện nói cho học sinh.
- Chưa phân loại đối tượng học sinh để đưa câu hỏi cho phù hợp với đối
tượng. Nêu câu hỏi chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp, câu hỏi
dễ lại dành cho học sinh khá, câu hỏi khó đôi khi muốn học sinh yếu trả lời,
giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh trả lời chứ chưa biết bằng các câu hỏi gợi mở
để giúp học sinh khá, giỏi có thể nói được những câu có hình ảnh hơn.
- Trong phần luyện nói giáo viên chủ yếu sử dụng các hình ảnh có sẵn trong
SGK chứ chưa sưu tầm thêm các loại tranh ảnh khác phục vụ cho bài luyện nói
đạt kết quả cao hơn.
- Giáo viên nghiên cứu nội dung của chủ đề luyện nói, và tranh phục vụ cho
bài luyện nói chưa kỹ.
trước, sau 2 tháng dạy học tôi khảo sát kỹ năng nói của học sinh lớp 1B đầu
năm học 2017- 2018 kết quả thu được như sau:
Sĩ số học sinh
21
Sồ học sinh nói
tốt
Sồ học sinh nói
đạt yêu cầu
Số HS nói chưa đạt
yêu cầu
(Nói thành câu,
thành đoạn)
(Nói đủ câu, lưu
loát, đúng chủ đề)
(Nói chưa đủ câu, nói
chưa lưu loát, chưa
đúng chủ đề)
số
lượng
Tỉ lệ
học nói chung và lớp 1B trường Tiểu học Nga Nhân nói riêng.
2.3. Các giải pháp thực hiện.
Giải pháp 1: Nghiên cứu nội dung, yêu cầu chương trình môn Tiếng Việt
lớp 1.
Để giúp HS luyện nói một cách có hiệu quả trước hết người giáo viên cần
nghiên cứu toàn bộ nội dung chương trình phân môn học vần - Tập đọc lớp 1.
Hệ thống lại toàn bộ các chủ đề luyện nói, nghiên cứu kỹ nội dung của từng chủ
đề, xác định rõ mục tiêu chính của các chủ đề luyện nói. Nghiên cứu tranh, đồ
dùng, phương tiện dạy học nhằm phục vụ tốt cho bài luỵên nói, cách sử dụng
tranh cho bài luyện nói như thế nào tránh sử dụng tranh như dùng trong dạy học
các bài đạo đức.
Kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt lớp 1 được xác định như sau:
5
- Nói trong hội thoại: Nói đủ to, rõ ràng, thành câu; Biết đặt và trả lời câu
hỏi lựa chọn về đối tượng; Biết chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học.
- Nói thành bài: Kể lại một câu chuyện đơn giản đã được nghe.
Phần 1. Phần học Vần: Chương trình Học vần ở lớp 1 được học trong 24 tuần,
bao gồm 103 bài ứng với 206 tiết dạy, được phân bố trong hai tập sách: tập 1
gồm 83, tập 2 gồm 20 bài. Có thể chia nội dung dạy học Học vần làm 3 phần:
phần thứ nhất (6 bài đầu) có nội dung làm quen với chữ cái e, b, các dấu thanh;
phần thứ hai gồm 25 bài tiếp theo dành cho các chữ cái và âm (cấu trúc âm tiết
có vần là 1 nguyên âm); phần thứ ba gồm 72 bài giới thiệu vần phức tạp và các
tiếng có vần phức tạp dần. Nếu lấy mục đích của bài học làm tiêu chí phân loại,
có thể chia các bài Học vần thành 3 dạng: Dạng bài làm quen với âm và chữ
(và dấu thanh), dạng bài dạy học Âm- vần mới và dạng bài Ôn tập.
* Dạng bài thứ nhất: làm quen với âm và chữ
Ở giai đoạn này, phần luyện nói theo tranh tương đối tự do, theo chủ đề
của tranh, không gò bó trong các âm thanh vừa học. giáo viên gợi ý theo định
6
Ví dụ: Dạy phần luyện nói Bài 30: ua - a
Chủ đề luyện nói: Gi÷a tra
Tôi đã đưa ra các câu hỏi gợi ý theo tranh để học sinh có điểm tựa luyện nói:
- Trong tranh vẽ gì?
- Tại sao em biết đây là bức tranh vẽ giữa trưa mùa hè?
- Giữa trưa, là lúc mấy giờ?
- Buổi trưa, mọi người thường ở đâu và làm gì?
- Buổi trưa, em và các bạn thường làm gì?
- Tại sao trẻ em không nên chơi đùa vào buổi trưa?
* Dạng bài thứ ba: Ôn tập âm, vần
Ở dạng bài này không có phần luyện nói như ở 2 dạng bài trên mà luyện
nói thông qua kể chuyện theo tranh. Nhưng giáo viên kể cho học sinh nghe là
chủ yếu. Sau phần kể chuyện, nếu còn thời gian, giáo viên đặt câu hỏi đơn giản
về nội dung câu chuyện cho học sinh trả lời.
Phần thứ 2: Phần luyện tập tổng hợp:
Gồm 13 tuần, tiếp tục phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học
sinh thông qua các loại bài: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện được cấu
trúc theo cách xen kẽ các chủ điểm: Nhà trường, gia đình, thiên nhiên – Đất
nước. Mỗi chủ điểm học trong 1 tuần. Sau 3 tuần sẽ kết thúc 1 vòng 3 chủ điểm.
Tiếp đó, các chủ điểm được nhắc lại nhưng có sự phát triển, mở rộng hoặc đổi
mới. Tuần cuối cùng( tuần 35) dành cho ôn tập- kiểm tra.
Giải pháp 2: Xây dựng hình ảnh người giáo viên có uy tín, mẫu mực kiên
nhẫn và tận tâm.
Có thể nói uy tín, mẫu mực, kiên nhẫn và tận tâm là các yếu tố đóng vai
trò quyết định trong việc hình thành cho học sinh kĩ năng nói đúng và nói chuẩn.
Học sinh tiểu học nhất là học sinh lớp 1, mọi thao tác hoạt động của các
em hầu như là bắt chước giáo viên. Do vậy, muốn học sinh nói đủ to, rõ ràng,
đội, lao công, thợ xây…
- Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi:
+ Mai sau khôn lớn em sẽ làm gì ?
HS: Mai sau khôn lớn em sẽ làm công nhân.
+ Muốn trở thành một công nhân giỏi thì bây giờ em phải làm gì?
HS: Em phải cố gắng học tập.
Như vậy, các em sẽ biết nói đúng câu, đúng chủ đề. Thông qua nội dung
này, giáo viên giáo dục các em phải làm theo các nội quy trường, lớp, có cách
học phù hợp để có kết quả học tập tốt.
Sau khi học sinh đã biết nói đủ câu, đúng chủ đề có thể cho học sinh tự
hỏi đáp với bạn mình một cách tự nhiên.
Ví dụ: Luyện nói theo chủ đề “Ngày chủ nhật” (Bài ăt-ât)
- Có thể gợi ý cho học sinh nói theo hệ thống câu hỏi sau:
+ Chủ nhật bạn làm gì?
+ Trong các việc đó, bạn thích nhất việc nào?
+ Hãy kể cho mình nghe về một ngày chủ nhật mà bạn nhớ nhất?
Trong quá trình hướng dẫn học sinh luyện nói, giáo viên phải tuân theo
những thao tác sư phạm bắt buộc như:
+ Giới thiệu chủ đề luyện nói (có thể yêu cầu học sinh nêu tên chủ đề).
+ Hướng dẫn học sinh quan sát tranh của chủ đề.
+ Hướng dẫn học sinh luyện nói theo yêu cầu.
+ Cho học sinh luyện nói (với nhiều hình thức khác nhau).
Thời gian giành cho phần luyện nói trong tiết học vần (HK1) và Tập đọc
(HK2) rất ít (5-7 phút), do vậy, giáo viên cần hạn chế nói nhiều. Điều quan trọng
là giáo viên phải biết cách khơi gợi, tạo hứng thú cho học sinh nói, bộc lộ được
cảm xúc, ý nghĩa của mình.
Ví dụ: Khi dạy bài “Ngôi nhà”, phần luyện nói giáo viên phải gợi mở để
học sinh nói về ngôi nhà mình đang ở, nêu được những đặc điểm nổi bật, những
tình cảm gắn bó trong ngôi nhà của gia đình mình, và qua quan sát tranh trong
sách giáo khoa được giáo viên trình chiếu trên màn hình và qua sự gợi mở khéo
sống cho học sinh cách xử lí tình huống trong thực tế.
Tóm lại, để học sinh nói đủ to, rõ ràng, đúng câu, đủ ý diễn đạt, giáo viên
phải thật sự kiên nhẫn, tận tâm, tận tụy hướng dẫn. Cũng từ việc rèn nói trong
các giờ học mà giúp cho các em sớm có tính mạnh dạn, cởi mở, tự tin.
Giải pháp 3: Đề cao biện pháp dạy học cá thể hóa.
Đây là một việc làm vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến
bộ của học sinh. Do vậy, giáo viên cần phải quan tâm đến mọi đối tượng học
sinh trong lớp học, với mỗi đối tượng cụ thể cần có các phương pháp thích hợp.
+ Đối với học sinh tiếp thu bài tốt (học sinh khá, giỏi) nói đúng, tự nhiên,
lưu loát thì giáo viên cần bồi dưỡng bằng các câu hỏi mở rộng, phân công làm
nhóm trưởng để có thể nhận xét và giúp các bạn trong nhóm sửa sai.
+ Đối với học sinh tiếp thu bài còn hơi chậm (học sinh trung bình) chỉ biết
nói theo mẫu, đúng chủ đề thì giáo viên cần tạo nhiều tình huống phù hợp với
chủ đề cho các em nói. Khuyến khích các em nói trước đám đông, giúp các em
mạnh dạn, tự tin.
9
+ Đối với học sinh tiếp thu bài chậm (học sinh yếu) cần cung cấp cho học
sinh một vốn từ thật chuẩn (qua phần tập đọc, quan sát tranh ảnh…). Giáo viên
cần hướng dẫn thật tỉ mỉ và cụ thể, không nóng vội khi các em nói sai, nói nhỏ.
Ban đầu có thể giúp học sinh nói bằng cách trả lời câu hỏi (theo mẫu).
Phần luyện nói trong tiết học là rất ít song phần này được thể hiện thường
xuyên trong từng bài. Do vậy giáo viên phải thay đổi các hình thức luyện nói để
học sinh không nhàm chán.
Tổ chức luyện nói theo chủ đề trong nhóm đôi sau đó cho các em nói ở
nhóm lớn (4 - 6 em) và mới nói trước lớp. Có như vậy các em sẽ vững vàng hơn
để tự tin hơn khi nói trước lớp.
Trong khi tổ chức hoạt động theo nhóm lớn, chú ý luân phiên nhóm trưởng
để tất cả các em trong nhóm đều được đại diện nhóm nói trước lớp.
10
+ Tranh vẽ gì? Thay vì phải trả lời: “Thưa cô, tranh vẽ con hổ ạ”. Thì học
sinh thường chỉ trả lời: “con hổ”.
+ Hay trong tiếng “hổ” có dấu gì ? học sinh thường trả lời: “dấu hỏi”, chứ
không phải là: “Thưa cô, trong tiếng hổ có dấu hỏi”.
Bởi lẽ do thói quen hàng ngày giao tiếp, do vốn từ và khả năng nhớ nội
dung câu hỏi của học sinh còn hạn chế. Chính vì vậy ngay từ khi bắt đầu bước
chân vào lớp 1, với 6 bài học đầu tiên về âm và dấu thanh. Đồng thời áp dụng
với tất cả các tiết học khác như: toán, tự nhiên xã hội, đạo đức…Tôi bắt đầu tập
trung rèn luyện cho học sinh kỹ năng nói cho đủ câu, đủ ý, biết cách trả lời câu
hỏi của giáo viên đưa ra.
Ví dụ: Khi dạy bài 9: Giáo viên đưa tranh cho học sinh quan sát và hỏi:
Tranh vẽ con gì ? (cho học sinh trả lời)
Nếu học sinh trả lời “Con bß” hoặc không biết cách trả lời thì giáo viên
hướng dẫn học sinh cách trả lời như: Nhắc lại một phần câu hỏi, khi trả lời phải
kèm theo lời thưa cô (thầy).
M: Thưa cô, tranh vẽ con bß. Sau đó cho học sinh nhắc lại.
Lúc đầu có thể giáo viên phải làm mẫu một vài lần, cho học sinh nhắc lại
câu trả lời với hình thức cá nhân, nối tiếp và đôi khi cho học sinh đọc câu trả lời
đồng thanh (cô đọc trước học sinh đọc lại sau). Với cách làm như vậy dần dần
hình thành thói quen cho học sinh nói đủ câu, đủ ý và trả lời câu hỏi rõ ràng đầy
đủ câu. Quan tâm uốn nắn sửa sai kịp thời cho các em ở mọi lúc, trong bất kỳ
môn học nào, sau vài lần sửa các em đã ý thức được việc nói phải đầy đủ câu.
Mặt khác, học sinh lớp 1 các em còn rất ngây thơ, trong tâm trí các em cô
giáo luôn là hình mẫu chuẩn, lí tưởng. Chính vì vậy mà mỗi lời nói, cử chỉ của
cô giáo luôn là tấm gương để học sinh bắt chước.
Giải pháp 5: Rèn cho học sinh kỹ năng nói thành câu, thành đoạn.
Đối với học sinh lớp 1, đặc biệt là con em vùng nông thôn thì vốn từ của
+ Ở gia đình em ai là người thường kể chuyện cổ tích cho em nghe?
+ Em yêu quý bà nhất ở điều gì?
Kết hợp với các câu hỏi làm điểm tựa để các em trả lời, khi hướng dẫn
học sinh luyện nói giáo viên phải thường xuyên chú ý cách trình bày, sửa cho
các em câu, từ, cách dùng từ ngữ để diễn đạt. Có như vậy mới hình thành cho
học sinh nền nếp, thói quen trình bày một vấn đề nào đó phải có sự lô gíc. Đây
cũng là tiền đề để học sinh có khả năng viết văn ở các lớp học tiếp theo.
Giải pháp 6. Lựa chọn hình thức, phương pháp và cách sử dụng ĐDDH
hiệu quả giúp học sinh phát huy khả năng luyện nói, nâng cao chất lượng
dạy học Tiếng Việt.
Mỗi bài học, mỗi chủ đề giáo viên lựa chọn các cách hướng dẫn, giới
thiệu khác nhau tạo cho giờ học sinh động, gây hứng thú cho học sinh. Trong khi
dạy luyện nói cho học sinh lớp 1, giáo viên cần sử dụng phối hợp nhiều hình
thức, phương pháp, đồ dùng dạy học hỗ trợ, giúp học sinh tiếp thu bài nhanh
chóng và hiệu quả hơn. Các em sẽ thấy hứng thú hơn khi thực hành luyện nói.
Bởi đây là giai đoạn tâm lí lứa tuổi của các em thích mới lạ nhưng cũng rất
nhanh chán. Nếu rập khuôn một cách máy móc một hình thức hướng dẫn học
sinh luyện nói dễ làm cho học sinh nhàm chán, không hứng thú với hoạt động
luyện nói. Đặc biệt trong một lớp sẽ có nhiều đối tượng học sinh. Chính vì vậy
mà giáo viên cũng cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho từng nhóm đối
tượng, tuỳ nội dung từng bài.
Chẳng hạn như với các chủ đề nói về: cây cối, hoa trái …giáo viên có thể
đưa những vật thật hoặc tranh ảnh để học quan sát lấy điểm tựa để luyện nói.
Ở những bài chỉ có 1- 2 câu gợi ý sách giáo khoa, giáo viên có thể ứng
dụng Công nghệ thông tin trong một phần nội dung của tiết học (ở phần luyện
12
nói theo chủ đề ) để giúp học sinh có cơ hội được xem, được thấy những gì có
liên quan đến chủ đề mình đang học qua đó có thể hiểu và nói tốt hơn.
+ Gọi đại diện 2-3 nhóm học sinh nói trước lớp, kèm theo tranh, ảnh về
cây hoặc cây thật. Chẳng hạn:
Học sinh A: Bạn có thể cho mình biết đây là cây gì?
Học sinh B: Đó là cây hoa lan.
Học sinh A: Bạn có biết cây hoa lan sống ở đâu không?
Học sinh B: Nó sống trên thân cây, ở trong mùn đất, than củi,…
Học sinh A: Cây hoa lan có thể dùng làm gì?
Học sinh B: Hoa lan để trang trí...
Với những chủ đề gần gũi với học sinh, giáo viên gợi mở cho học sinh nói
qua vốn hiểu biết thực tế của các em, chọn lựa những hình thức dạy học như trò
chơi học tập, sắm vai nhân vật hay thảo luận nhóm.
Ví dụ: Chủ đề nói về gia đình “Ba má”, “Bà cháu”… có thể cho học sinh
sắm vai nhân vật thể hiện tình cảm của ông bà, ba mẹ đã yêu thương, quan tâm,
chăm sóc em. Hoặc những tình cảm, việc làm của em thể hiện sự hiếu thảo của
một người cháu, người con đối với ông bà, cha mẹ của mình.
Chủ đề: Nặn đồ chơi; Áo choàng, áo len, áo sơ mi; Ghế đẩu, ghế xoay,
ghế tựa; Phim hoạt hình; Đọc truyện tranh… tổ chức cho học sinh tham gia
chơi trò chơi nặn hình bằng đất, tô màu, vẽ tranh, hay chọn các loại áo thích hợp
với thời tiết…
Với những chủ đề lạ, xa với cuộc sống của các em như chủ đề: Rừng,
Suối, đèo, thung lũng; Lễ hội; Đất nước ta tuyệt đẹp; …giáo viên có thể dùng
tranh ảnh hỗ trợ giúp học sinh có thể cảm nhận, hiểu được nội dung chủ đề
luyện nói.
14
Trong khi hướng dẫn học sinh luyện nói giáo viên cũng cần chú trọng đến
việc phân hóa đối tượng học sinh trong lớp. Tùy từng đối tượng học sinh mà có
cách sử dụng câu hỏi gợi ý.
các em. Thông qua sổ liên lạc điện tử, những buổi họp phụ huynh và những lần
giáo viên gặp gỡ trực tiếp phụ huynh học sinh cần trao đổi cụ thể và tìm ra
những giải pháp tối ưu nhất để giúp học sinh nói lưu loát, tự nhiên.
Đối với một số em là học sinh yếu nói chưa lưu loát, chưa dùng đúng từ,
đúng câu, chưa phù hợp với chủ đề khi luyện nói, giáo viên phát phiếu về gia
đình để phụ huynh luyện nói cho con em mình. Yêu cầu phụ huynh đánh số lần
15
hc sinh ó luyn núi mu cõu ú v khoanh trũn trc kt qu m hc sinh ó
t c.
Vớ d: Khi dy luyn núi v cõy hoa sen trong bi m sen.
Ni dung ca phiu nh sau:
Mu cõu cn luyn núi
Núi ni tip v cõy sen:
Cõy sen mc trong m.
Lỏ sen cú mu xanh thm.
Hoa sen cú mu o nht.
Ht sen dựng lm thuc.
S ln ó núi
Kt qu
a. Núi ỳng mu cõu,
lu loỏt, rừ rng, t nhiờn.
b. Núi ỳng mu cõu
nhng cha lu loỏt, rừ rng,
t nhiờn.
c. Núi cha ỳng mu cõu.
nhưng sau quá trình được hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói các em đã có sự
tiến bộ rõ rệt, đã tự tin hơn khi giao tiếp, hăng hái phát biểu xây dựng bài, đã
mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình trước lớp, kết quả học tập của các em có sự
tiến bộ rõ rệt.
Kết quả qua các lần khảo sát ở cuối học kì I và kết quả đến thời điểm
tháng 4 năm 2018 đã đạt được như sau:
Thời
gian
Sĩ số
Sồ học sinh nói
tốt
(Nói thành câu,
thành đoạn
Sồ học sinh nói
đạt yêu cầu
Số HS nói chưa
đạt yêu cầu
(Nói đủ câu, lưu loát, (Nói chưa đủ câu,
đúng chủ đề)
nói chưa lưu loát,
chưa đúng chủ đề
Số lượng
Tỉ lệ
0
Cuối học kỳ 1
21 học sinh
Tháng 4/ 2018
21 học sinh
Nhìn vào bảng kết quả cho ta thấy việc áp dụng các biện pháp rèn
kỹ năng luyện nói cho học sinh lớp 1 như trên đã đem lại hiệu quả cao. Giúp học
sinh có kỹ năng nói, giao tiếp tốt, tự tin và đó là tiền đề để hình thành nhân cách
cho trẻ.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Qua việc nghiên cứu và áp dụng những biện pháp rèn kỹ năng nói cho học
sinh lớp 1, bản thân tôi thấy để đạt được hiệu quả cao trong rèn kỹ năng nói cho
học sinh thì bản thân mỗi giáo viên cần:
- Nắm bắt và hiểu nội dung, mục tiêu của chương trình, ý đồ của từng chủ
đề luyện nói.
- Hình thức tổ chức hoạt động học tập phải linh hoạt. Tận dụng tối đa
phương tiện trực quan, phát huy năng lực quan sát của học sinh. Hệ thống câu
hỏi dẫn dắt, gợi ý phải rõ ràng, ngắn gọn xoay quanh chủ đề luyện nói, phù hợp
với mọi trình độ của học sinh trong lớp.
- Khi học sinh tham gia vào nhóm hoạt động, giáo viên cần theo dõi và
không bỏ sót học sinh nào khi yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi, chứ không chỉ
chú ý đến những em hay giơ tay. Giáo viên cần đảm bảo tạo cơ hội cho tất cả
17
các học sinh lần lượt được nói trước lớp. Chính vì vậy, việc phân nhóm nhỏ để
cho các em được tập nói là rất cần thiết.
Mai Thị Hường
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Hoàng Thị Nhung
18
19