CÁC NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN
PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC PHẦN
“CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
Ở TRƯỜNG THCS VÀ THPT
TRẦN NGỌC HOẰNG,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Các nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường
THCS và THPT Trần Ngọc Hoằng, thành phố Cần Thơ
- Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu môn học
“Môn Giáo dục công dân (GDCD) được đánh giá là môn
học giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho
HS. Môn GDCD ở THPT có vai trò cung cấp hệ thống tri
thức cơ bản về giá trị đạo đức - nhân văn, đường lối chính
sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế thừa các
truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung thành
với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu
những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại, qua đó nhằm
định hướng phát triển nhân cách của HS.
Đặc biệt, trong nội dung chương trình Giáo dục công dân
THPT có 3 phần chứa đựng nhiều nội dung có thể kết hợp giáo
dục đạo đức kinh doanh, đó là: phần Công dân với đạo đức,
Công dân với kinh tế và công dân với pháp luật. Với mục tiêu
tạo HS thành những công dân có đủ năng lực và phẩm chất đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong bối
cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới, đặc biệt là
Mục tiêu dạy học sẽ thể hiện rõ mối quan hệ giữa GV và HS
trong quá trình dạy học. Vì vậy, việc xác định mục tiêu môn
học cho HS, là khâu tối quan trọng và cần thiết, mà người GV
phải bắt tay vào thực hiện đầu tiên trước khi thiết kế quá
trình dạy học.”{7,51}
Để đạt được những yêu cầu đảm bảo tính mục tiêu:
“Thứ nhất, khâu quan trọng đầu tiên là phải xác định và
vạch rõ ra cho HS mục tiêu mà việc giáo dục ky năng sống cần
đạt được.
Mục tiêu hình thành ky năng sống cho HS trong tất cả
các hành vi. Cần tăng cường việc làm quen, tiếp thu, thực
hành và trải nghiệm trong cuộc sống hằng ngày về các quy
phạm đạo đức, nhất là cách ứng xử đúng đắn giữa HS với HS,
giữa HS với nhà trường, gia đình và xã hội. Vì giá trị, phẩm
chất, đạo đức của một HS chỉ có ý nghĩa khi được thể hiện
bằng hành vi, hành động, việc làm chứ không phải nói suông,
học thuộc lòng kiến thức.
Thứ hai: Tăng cường đầu tư soạn giảng đồng thời đi sâu
khai thác trọng tâm bài học. Từ đó giúp HS nắm được bản
chất vấn đề, chứ không nhất thiết học thuộc lòng.
GV là yếu tố đóng vai trò quyết định chất lượng giáo
dục; chính vì vậy, muốn nâng cao chất lượng dạy học và đảm
bảo điều kiện để ôn thi tốt nghiệp THPT quốc gia đạt kết quả
cao, giáo viên cần tăng cường đầu tư soạn giảng có chất lượng
cao; tập trung khai thác hiệu quả trọng tâm bài học có như vậy
mới giúp học sinh hiểu và nắm chắc được bản chất bài học,
chứ không nhất thiết học thuộc lòng. Các chuẩn mực đạo đức
được xây dựng phải phù hợp tâm lý lứa tuổi HS. Các nội dung
chưa. Từ kết quả đó giúp GV điều chỉnh các phương pháp và
hình thức dạy học đạt chất lương trong quá trình dạy học. Nếu
công tác kiểm tra, đánh giá không được coi trọng, không được
làm bài bản, chắc chắn kết quả dạy học sẽ không đạt yêu cầu
Thứ 5: Tăng cường sử dụng các tình huống từ cuộc sống
hằng ngày, tình huống pháp luật và các video người thật việc
thật.
Kiến thức môn GDCD chỉ có thông qua thực tiễn thì
mới giúp HS khắc sâu kiến thức. Trên thực tế giảng dạy cho
chúng ta thấy rằng nếu GV khai thác tốt các phương tiện,
thiết bị và công nghệ thông tin vào giảng dạy thì tiết học sẽ
trở nên sôi nổi, hấp dẫn và rất hào hứng giúp HS tiếp thu kiến
thức hiệu quả.”{9,37}
- Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn của địa
phương.
“Nguyên tắc “lý luận gắn liền với thực tiễn” được vận
dụng vào thực tế giảng dạy bất kỳ môn học nào ở trường
THPT. Với riêng môn GDCD, có tri thức luôn gắn chặt với
thực tế của đời sống xã hội, sự phát triển của thế giới, của đất
nước, của con người Việt Nam. Thực tế sinh động của sự vận
động và biến đổi của thế giới khách quan và cuộc sống, chính
là cơ sở cho việc làm sáng tỏ, chứng minh cho lí thuyết khoa
học của bộ môn. Bên cạnh đó, thực tiễn giúp rèn luyện tư duy
lí luận cho từng HS, từng bước giúp các em tiếp cận với
phương pháp nhận thức, phương pháp nghiên cứu và rèn
luyện cho mình cách suy nghĩ độc lập, sáng tạo. Tuy nhiên
học tập cho HS”.
Với định hướng của Đảng và Nhà nước, GV cả nước nói
chung, GV giảng dạy GDCD ở các trường THPT nói riêng
trong những năm qua đã tích cực đổi mới phương pháp giảng
dạy, tìm tòi các biện pháp để phát huy tích cực học tập, tư duy
sáng tạo của HS. Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn một bộ phận
GV chưa “nhập cuộc”, vẫn lên lớp giảng dạy với những
phương pháp rất đỗi quen thuộc: chỉ thuyết trình hoặc thuyết
trình kết hợp một số rất ít các câu hỏi đàm thoại. Tại Hội thảo
“Đánh giá hiệu quả dạy học môn GDCD” tháng 4 năm 2009,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhận định: GV dạy GDCD đã
có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học.
Tuy nhiên, hiện tượng dạy học lệ thuộc vào sách giáo khoa và
sách GV còn phổ biến. Việc rèn luyện kĩ năng và giáo dục
thái độ và hành vi của HS trong dạy học môn GDCD thực
hiện chưa đạt được yêu cầu đề ra của chương trình. Thực
trạng trên đòi hỏi người GV GDCD trong nhà trường phổ
thông cần phải phát tăng cường đổi mới phương pháp pháp
giảng dạy, không ngừng phát huy tính tích cực, sáng tạo của
HS trong học tập.
“Để phát huy được tích tích cực học tập của HS phụ
thuộc rất nhiều vào cách sử dụng phương pháp của GV chứ
không phải là phụ thuộc vào bản thân phương pháp đó. Việc
lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố như nội dung bài học, đối tượng HS, cơ sở vật
chất của nhà trường, sở trường của GV… GV lựa chọn và vận
dụng phương pháp dạy học như thế nào để người học được
hoạt động tích cực về mặt nhận thức cũng như về mặt thực
dụng đúng lúc, đúng chỗ, mang nặng tính minh họa chứ
không phải tồn tại đúng theo nghĩa là một phương pháp giảng
dạy. Đúng ra những dẫn chứng phải được sử dụng như một
phương tiện trọng yếu để hướng HS tự mình đi đến nhận thức
khái niệm một cách tự nhiên, sâu sắc thì ngược lại nhiều GV
chủ yếu lại dựa vào sách giáo khoa cho các em phát biểu nội
dung khái niệm trong sách, sau đó mới giảng giải rồi cùng các
em dẫn chứng liên hệ một cục. Điều đặc biệt chú ý là các dẫn
chứng liên hệ được các GV thông báo một cách khô khan đơn
điệu, ít được sinh động hóa bằng hình ảnh cụ thể giàu tính
thực tiễn và giáo dục các dẫn chứng liên hệ thực tế chưa được
chú ý khêu gợi, phát huy từ phía HS.
Dạy học GDCD phải chú trọng sử dụng có hiệu quả các
thiết bị dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS trong
dạy học môn GDCD cần phải gắn liền với đổi mới phương
tiện dạy học. Trong quá trình dạy học môn GDCD, GV cần
lựa chọn và sử dụng hợp lí, có hiệu quả các thiết bị dạy học đã
được cung cấp theo danh mục cũng như các thiết bị, đồ dùng
dạy học do GV, HS tự làm; đặc biệt GV cần tích cực sử dụng
công nghệ thông tin trong để có thể “nối dài” các giác quan
của HS, cung cấp cho HS những hình ảnh, âm thanh sống
động.”{7,56}
- Các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường
THCS và THPT Trần Ngọc Hoằng, thành phố Cần Thơ
- Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực
trong dạy học trên lớp
- Sử dụng phương pháp xử lý tình huống
nhau để giải quyết các vấn đề và ra quyết định.
Tình huống được biên soạn cần đảm bảo các yêu cầu
sau:
Thứ nhất, Tình huống phải mang tính thời sự, sát với
thực tế; phải chứa đựng thông tin đầy đủ, buộc người học phải
sử dụng thông tin trong tình huống để giải quyết vấn đề.
Trong tình huống phải cung cấp đầy đủ các dữ liệu cần thiết
như thời gian, địa điểm, những nguyên nhân phát sinh sự
kiện, vấn đề.
Thứ hai, Tình huống đưa ra phải thể hiện những thách
thức thực sự đối với người học, phải tạo ra khả năng để người
học đưa ra nhiều giải pháp, để thu hút sự chú ý, kích thích tư
duy, tình huống phải "có vấn đề" và không có câu trả lời duy
nhất đúng cho vấn đề đó. Các nhân vật, sự kiện trong tình
huống có tính hiện thực.
Thứ ba, Tình huống đưa ra phải có tính phức tạp vừa đủ,
buộc người học phải suy nghĩ, vận dụng khả năng trí tuệ để
giải quyết. Một tình huống có thể rất dài, phức tạp hoặc rất
ngắn gọn và đơn giản. Độ dài và độ phức tạp của tình huống
không phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy mà giảng viên đề ra.
Nói chung, độ dài của tình huống không quyết định mức độ
phức tạp của tình huống. Tuy nhiên, giảng viên có thể tạo ra
các nhân vật, sự kiện, bổ sung thông tin để phục vụ cho mục
tiêu giảng dạy của mình.
Thứ tư, Nội dung tình huống phải phù hợp với trình độ
của người học. Khi viết hoặc lựa chọn tình huống cần lưu ý
trong tình huống, tự tìm cách giải quyết vấn đề hoặc xác định,
phân tích tình huống theo quan điểm cá nhân. Tuy nhiên, với
những HS chưa quen với cách tư duy độc lập, GV cần hướng
dẫn cụ thể hơn, kết hợp cung cấp tri thức với liên hệ, vận
dụng tri thức theo từng giai đoạn của hoạt động học tập. Vì
vậy, các bước dưới đây cần được vận dụng linh hoạt, vai trò
của người GV thay đổi tùy thuộc vào điều kiện học tập và
trình độ nhận thức của HS.
- Xác định vấn đề cần giải quyết: Tùy thuộc vào mục
tiêu bài học, trình độ HS và nội dung kiến thức mà GV chọn
cách đưa ra câu hỏi cho HS.
Ở những tình huống ngắn gọn, lượng kiến thức không
nhiều, thời gian ngắn GV có thể yêu cầu HS suy nghĩ và trả
lời ngay.
Ở những tình huống phức tạp, GV có thể thảo luận với
HS để tìm ra vấn đề hoặc để HS tự tìm ra vấn đề và cách giải
quyết.
- Giải quyết vấn đề: Trong phương pháp tình huống,
cách giải quyết vấn đề chủ yếu thông qua làm việc nhóm. Tuy
nhiên, GV có thể áp dụng đa dạng, linh hoạt. HS có thể làm
việc cá nhân, làm việc kết hợp cá nhân và nhóm, làm việc
theo nhóm nhỏ. GV cũng có thể sáng tạo kết hợp với nhiều
phương pháp khác: đóng vai, tranh luận, dự án nhỏ,…
-Trình bày vấn đề
HS trình bày và bảo vệ quan điểm của mình. GV yêu cầu
HS trình bày theo các luận điểm, có lập luận rõ ràng, có thể
nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy
nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng
người. Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên
kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp
cho mọi HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học
tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh
nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội
dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi
lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ
chung.
Khi sử dụng PPDH này, lớp học được chia thành những
nhóm từ 4 đến 6 người. Tùy mục đích sư phạm và yêu cầu của
vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có
chủ định, được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi
theo từng hoạt động, từng phần của tiết học, các nhóm được
giao nhiệm vụ giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ
khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung.
Về mặt ky năng và thái độ phương pháp dạy học hợp tác
vô tình chung đang xây dựng cho HS về phẩm chất nhân ái,
các em em có ky năng làm việc nhóm, biết chia sẻ với mọi
người những gì mình có, cũng như có trách nhiệm với phần
công việc mình đảm nhiệm. Đây ắt hẳn là những phẩm chất,
ky năng được đánh gia cao đối với một chủ thể tham gia vào
sản xuất, kinh doanh.
Cấu tạo của một hoạt động theo nhóm (trong một phần
của tiết học, hoặc một tiết, một buổi) có thể là như sau:
Bước 1. Làm việc chung cả lớp
thiết của nhân loại” giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận
về chủ đề: bùng nổ dân số và trách nhiệm của công dân trong
việc hạn chế của sự bùng nổ dân số”
Mục tiêu: học sinh hiểu được sự bùng nổ dân số, tác hại
của nó và trách nhiệm của công dân trong sự bùng nổ dân số.
Cách tiến hành: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu
về sự bùng nổ dân số, tác hại của nó và trách nhiệm của công
dân và yêu cầu học sinh thảo luận một số câu hỏi sau:
+ Bùng nổ dân số là gì?
+ Em hãy nhận xét về tình hình dân số thế giới và Việt
Nam hiện nay?
+ Dân số tăng quá nhanh có ảnh hưởng thế nào đối với
cá nhân, gia đình, xã hội?
+ Em hãy kể các câu chuyện có thật ở địa phương về
sinh đông con, thất nghiệp...mà em biết?
+ Là HS em hiểu mình cần phải làm gì để khắc phục tình
trạng trên?
- Giáo viên tiến hành chia lớp thành 4 nhóm để tiến
hành thảo luận
- Học sinh thảo luận, Giáo viên cần đến các nhóm, quan
sát, lắng nghe, gợi ý, giúp đỡ HS khi cần thiết.
- Đại diện các nhóm được bốc thăm ngẫu nhiên báo
cáo.
- GV hướng dẫn HS chốt lại những ý chính.
- Sử dụng phương pháp dạy học trò chơi
“Phương pháp trò chơi là tổ chức cho người học chơi
một trò chơi nào đó để thông qua đó mà tìm hiểu một vấn đề,
biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm.