Phân tích các dấu hiệu xác định DN,HTX lâm vào tình trạng phá sản (19 trang) - Pdf 53

ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
------------

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC DẤU HIỆU XÁC ĐỊNH
DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ LÂM VÀO TÌNH
TRẠNG PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN DOANH
NGHIỆP 1993 VÀ LUẬT PHÁ SẢN 2004


MỤC LỤC:
A- Dẫn nhập
B-Nội dung
I)
Luật Phá sản doanh nghiệp 1993
1) Các dấu hiệu xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản
2) Dẫn chứng
3) Những hạn chế của Luật Phá sản doanh nghiệp 1993
II) Luật Phá sản 2004
1) Các dấu hiệu xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản
2)Những tiến bộ và hạn chế của Luật Phá sản 2004
C-Đánh giá


A- DẪN NHẬP
Giống như các thực thể sống khác, doanh nghiệp cũng có các giai đoạn ra đời, tăng
trưởng, phát triển phồn thịnh và suy vong. Trong nền kinh thế thị trường hiện nay, cuộc
chiến giữa các nhà kinh doanh bao giờ cũng mang lại một hệ quả nhất định. Thường là

thời khi điều chỉnh vấn đề này mà chúng ta sẽ tiến hành phân tích cụ thể sau đây.
Thuật ngữ “ phá sản” ở đây xét về phương diện ngôn ngữ thì thường được sử dụng
để chỉ những chủ thể đã lâm vào tình trạng hỗn loạn về tài chính, vỡ nợ. Pháp luật phá
sản ở Việt Nam không có một định nghĩa chính thức nào về phá sản, tuy nhiên lại có đề
cập đến “ tình trạng phá sản” tại Điều 3, Luật Phá sản 2004 : “ Doanh nghiệp, hợp tác
xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì
coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Theo tiêu chí của thế giới, tình trạng phá sản được xác
định dựa vào:
o Tiêu chí định lượng: không thanh tóan đựơc một món nợ đến hạn có giá trị
tối thiểu. Ở Anh, con số này là 50 bảng, Singapore là 2000$...
o Tiêu chí kế toán: Tổng giá trị tài sản nợ phải lớn hơn tổng giá trị tài sản có.
Tiêu chí này phản ánh chính xác hơn tình trạng tài chính của doanh nghiệp
mắc nợ và thu hẹp hơn phạm vi những doanh nghiệp mở thủ tục phá sản.
o Tiêu chí định tính “mất khả năng thanh tóan” : khả năng mở thủ tục phá sản
đối với một doanh nghiệp sớm hơn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Doanh nghiệp mắc nợ và các chủ nợ, ngăn chặn hiện tượng phá sản dây
chuyền.
Quay lại về phá sản, khái quát chung, phá sản là hiện tượng “con nợ” lâm vào
tình trạng mất khả năng thanh tóan các khoản nợ đến hạn, bị Tòa án tuyên bố phá sản
nhằm phân chia tài sản còn lại của con nợ cho các bên có liên quan theo thủ tục do pháp
luật quy định .
Việc phân loại phá sản được dựa vào nhiều tiêu chí.
Nếu căn cứ vào đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản thì có 2 loại phá sản:


o Phá sản cá nhân: là các chủ thể như chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân
đăng kí kinh doanh, thành viên hợp danh trong công ty hợp danh….
o Phá sản pháp nhân: doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nếu căn cứ vào mục đính sử dụng các khoản vay có nguy cơ không được thanh
tóan thì có 2 loại phá sản:

Tuy không có định nghĩa chính thức về phá sản doanh nghiệp nhưng có định nghĩa
về “tình trạng phá sản” của doanh nghiệp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 thì:
“Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ
trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn
mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”.
Nghị định 189/1994/NĐ-CP ngày 23/12/1994 hướng dẫn thi hành Luật Phá sản
doanh nghiệp 1993 làm rõ khái niệm này tại khoản 1 Điều 3:
Doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản là “doanh
nghiệp bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn,
không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động và hợp đồng lao động
trong ba tháng liên tiếp”.
Từ các quy định trên nhận thấy: Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 là sự “kết hợp
mỹ mãn” các dấu hiệu cả về “tính định tính” và “tính định lượng” để xác định một doanh
nghiệp nào đó đang lâm vào tình trạng phá sản.
1) Các dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản:
 Thứ nhất, là dấu hiệu về tính định tính:
Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức
không trả được các khoản nợ đến hạn và không trả được lương cho người lao động.
Việc thua lỗ có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau trong quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp như: quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, quy luật
cung – cầu,...
Theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định 189/1994/ NĐ-CP ngày 23/12/1994 hướng dẫn thi
hành Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 thì:


Khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp phải áp dụng các
biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn,
đó là:
“a) Có phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các khoản chi

Điều 7
- Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không được
doanh nghiệp thanh toán nợ, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần
có quyền nộp đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết
việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
+ Thời điểm: kể từ ngày bị đòi nợ.
+ Thời hạn: 30 ngày
- Không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động và hợp đồng lao
động trong ba tháng liên tiếp.
2) Dẫn chứng:
Sau đây nhóm xin đưa ra một ví dụ để phân tích rõ thêm về tính định lượng và tính
định tính trong Luật Phá sản năm 1993.
Công ty X kinh doanh về mặt hàng điện máy, máy tính, viễn thông; thành lập vào
năm 1999.
Sau 3 năm hoạt động, công ty X đã thua lỗ 5,2 tỷ đồng, trong đó có 900 triệu tiền
đặt cọc thuê mặt bằng, 2 tỷ đồng hàng tồn đọng, phần còn lại là khoản tiền thuê mặt bằng
hàng tháng.
Công ty X kinh doanh không hiệu quả bằng những cửa tiệm khác và khoản tiền
thuê mặt bằng quá cao. Công ty X thuê mặt bằng với giá 250 triệu một tháng.
Vào cuối tháng 5 năm 2001, do không có khả năng chi trả khoản tiền thuê mặt
bằng nên chủ nhà, theo hợp đồng đã gia hạn mười ngày để công ty X xoay xở nhưng vì
không xoay xở được nên chủ nhà thu lại mặt bằng. Nhưng do khi kí hợp đồng, vì quá chủ
quan nên có những điều khoản bất lợi cho công ty: “Nếu không thanh toán đúng hạn tiền
thuê mặt bằng, sau mười ngày nếu không có khả năng trả nợ thì chủ nhà sẽ giữ số tiền
cọc”. Chính vì thế, công ty X mất 900 triệu tiền đặt cọc không lấy lại được.


Tính đến tháng 6 năm 2001, công ty X đã nợ các nhà phân phối 3 tỷ đồng và đã 3
tháng không giải quyết được chế độ tiền lương, trợ cấp thất nghiệp,.. cho 100 lao động
của công ty.

đối với nhiều doanh nghiệp trở nên khó khăn, do không đáp ứng được điều
kiện về thời gian (kinh doanh bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp đến mức
không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao
động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp),
mặc dù doanh nghiệp đã hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và
sự tồn tại của nó là hoàn toàn không cần thiết.
+ Gây khó khăn cho “Chủ nợ” trong việc chủ động bảo vệ quyền lợi của
mình. Vì thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản đòi hỏi phải chứng minh doanh nghiệp đã làm ăn thua lỗ trong 2
năm liên tiếp, đòi hỏi phải có những giấy tờ kinh doanh liên quan của công
ty – đây là một việc bất khả thi vì nó thuộc về bí mật kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ Doanh nghiệp muốn thực hiện thủ tục này cần phải tiến hành thẩm định tài
sản, đòi hỏi chi phí mà đối với 1 doanh nghiệp đã thua lỗ trong 2 năm liên
tiếp thường không có khả năng thanh toán.
+ Tiêu chí “Doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để
khắc phục việc mất khả năng thanh toán nhưng không khắc phục được”
mang tính cảm tính, làm cho điều luật trở nên “phi kinh tế” hơn và gây khó
khăn cho việc giải quyết những trường hợp phá sản trên thực tế. Nếu thiết
lập một căn cứ duy nhất là lỗi không thanh toán được nợ đến hạn sẽ vừa
dễ tiếp cận đối với con nợ đồng thời vừa đơn giản đối với các chủ nợ và
trong trường hợp này chứng cứ chính là bảng cân đối tài chính của doanh
nghiệp.
+ Điều đáng chú ý là trong Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, phục hồi hoạt
động kinh doanh gần như là một hoạt động bắt buộc trước hoạt động thanh
lý. Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu
giải quyết tuyên bố phá sản đã có nhiều con nợ ngừng hoạt động, hoàn toàn
không còn khả năng phục hồi nhưng do Luật quy định, thẩm phán vẫn phải




Trước thực trạng đó, 15/6/2004 Quốc hội XI kì họp thứ 5 đã thông qua Luật Phá sản
2004, đạo luật này có hiệu lực từ ngày 15/10/2004.

II) Luật Phá sản 2004:
Cũng giống như Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, Luật Phá sản 2004 cũng không
có định nghĩa về phá sản, song đạo luật này quy định về tình trạng phá sản khác với luật
1993.
Tại điều 3 Luật Phá sản 2004 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả
năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình
trạng phá sản”.
Ta thấy ở đây Luật đã đưa ra ba dấu hiệu để xác định một doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản, đó là có các khoản nợ đến hạn, chủ nợ đã có yêu cầu thanh
toán và doanh ngiệp, hợp tác xã không có (mất) khả năng thanh toán.
1) Các dấu hiệu xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản:
 Dấu hiệu thứ nhất đó là doanh nghiệp, hợp tác xã phải có các khoản nợ đến hạn.
Đây là một điều tất yếu vì nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không có nợ hoặc nợ vẫn
chưa đến hạn trả thì không cần phải đặt ra vấn đề doanh nghiệp, hợp tác xã có khả năng
thanh toán hay không, do đó tất nhiên doanh nghiệp, hợp tác xã không lâm vào tình trạng
phá sản.
Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn các khoản nợ đến hạn phải là các
khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm
đến hạn) đã rõ ràng được các bên xác nhận, có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu để chứng minh
và không có tranh chấp.
Ở đây không tính đến nợ có bảo đảm vì xuất phát từ quan điểm quyền lợi của các
chủ nợ này đã được bảo đảm bằng chính tài sản bảo đảm của doanh nghiệp hoặc người
thứ ba. Do đó, lợi ích của chủ nợ không bị đe dọa khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản.
Về lí thuyết có 3 loại nợ: nợ có bảo đảm, nợ có bảo đảm một phần và nợ không có

doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, không còn phương cách nào khác
để các chủ nợ đòi nợ. Trái lại, chủ nợ có quyền kiện doanh nghiệp ra Tòa bất
kì khi nào để đòi nợ, trong thủ tục dân sự hay hành chính.


+ Mặc dù thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp do tòa án nhân dân tiến hành nhưng
khác với tố tụng hình sự hay tố tụng dân sự, thủ tục phá sản không có sự tham
gia của hội thẩm nhân dân và kiểm sát viên, điều tra viên trong thủ tục phá
sản. Thủ tục phá sản chỉ có thể được tiến hành đối với con nợ là doanh nghiệp
hoặc hợp tác xã khi mà doanh nghiệp, hợp tác xã đó đang lâm vào tình trạng
phá sản và có yêu cầu của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật phá
sản.
+ Trong vụ án dân sự, con nợ không nhất thiết phải là doanh nghiệp, hợp tác xã
đang lâm vào tình trạng phá sản; chủ nợ có thể không cần quan tâm tới việc
mất khả năng thanh toán của con nợ; việc đòi nợ của chủ nợ không dẫn đến
việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ. Đối với thủ
tục phá sản thì sau khi Tòa án tuyên doanh nghiệp phá sản thì đương nhiên
doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại.
Ngoài ra, thủ tục pháp lí của phá sản có tính tổng hợp và phức tạp hơn so với vụ
kiện dân sự hay hành chính. Ví dụ như Tòa án không chỉ xem xét tình trạng nợ nần của
doanh nghiệp để tuyên phá sản doanh nghiệp mà còn phải quản lí tài sản của doanh
nghiệp mắc nợ, thanh lý tài sản, triệu tập và chủ trì Hội nghị chủ nợ…
Vậy các chủ nợ nên đòi nợ theo phương thức nào: theo thủ tục phá sản hay vụ kiện
dân sự, hành chính?
Trên lí thuyết, thủ tục phá sản được đặt ra với mục tiêu trước hết là bảo vệ chủ nợ.
Tòa án tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của con nợ và thông qua đó bán toàn bộ tài sản của
con nợ, việc trả nợ được đảm bảo. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả giải quyết phá sản còn
kém, tỷ lệ thu hồi nợ rất thấp. Do đó, nếu kiện theo thủ tục dân sự hay hành chính thì sẽ
mang lại nhiều hiệu quả hơn. Bởi nếu doanh nghiệp còn tài sản thì khi bán đấu giá, chủ
nợ sẽ được đảm bảo trả mà không phải phân chia với ai. Song, với mục đích hàng đầu của

Như chúng ta đều biết khái niệm tình trạng phá sản là một khái niệm cực kì quan trọng
của pháp luật phá sản. Việc xác định tình trạng phá sản sẽ quyết định sự can thiệp của nhà
nước vào hiện tượng phá sản sớm hay muộn, lập trường của nhà nước nghiêng về bảo vệ
lợi ích của ai nhiều hơn.
2) Những tiến bộ và hạn chế của Luật Phá sản 2004:
Nếu như khái niệm tình trạng phá sản trong Luật Phá sản doanh nghiệp 1993
dường như được xây dựng dựa trên sự kết hợp mỹ mãn các tiêu chí định lượng và định


tính. Theo luật 1993, chủ nợ chỉ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nếu con nợ
không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi nợ hoặc con nợ nợ 3 tháng lương liên
tiếp đối với người lao động. Ngoài ra chủ nợ còn phải chứng minh con nợ thua lỗ, khó
khăn… Với khái niệm như vây, trên thực tế các chủ nợ khó hoặc có thể nói là không bao
giờ thực hiện được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ của mình vì
họ không thể nào có được những thông tin vốn thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của con
nợ để chứng minh lí do vì sao con nợ trễ hạn thanh toán.
Luật Phá sản 2004 (Điều3) khi đưa ra khái niệm phá sản đã đoạn tuyệt với nguyên
nhân khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và thời hạn thua lỗ. Chỉ cần không đủ
tiền và tài sản để thanh toán các khoản nợ đến hạn bất luận vì lý do gì mà không thể khắc
phục được thì đều được coi là đã lâm vào tình trạng phá sản. Đây là một bước tiến lớn của
pháp luật phá sản nước ta, thể hiện sự can thiệp sớm của Nhà nước vào hiện tượng phá
sản. Chủ nợ không cần chứng minh con nợ khó khăn, thua lỗ mà chỉ cần chứng minh
mình đã có yêu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn
không thanh toán. Như vậy quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản của chủ nợ mới khả
thi, lợi ích chính đáng của chủ nợ mới được bảo đảm. Chủ nợ không cần chờ 30 ngày sau
ngày đòi nợ, người lao động không cần chờ 3 tháng lương liên tiếp, quy định này giúp
khắc phục được tình trạng quá muộn để phục hồi doanh nghiệp hay tạo điều kiện tốt hơn
trong việc thanh toán cho các chủ nợ.
Như vậy, luật phá sản 2004 đã được xây dựng trên tinh thần tạo điều kiện cho
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được phục hồi, được trở lại hoạt

2004.
 Một điều cần quan tâm khi nghiên cứu về pháp luật phá sản Việt Nam
là phải phân biệt được các phạm trù tình trạng phá sản và phá sản.
Dưới góc độ pháp luật khái niệm phá sản có mối liên hệ chặt chẽ với khái niệm
tình trạng phá sản. Trong thực tiễn kinh doanh, đôi khi người ta có thể nhầm lẫn giữa tình
trạng phá sản và phá sản, nhưng dưới góc độ pháp luật đây là hai khái niệm khác nhau.
Doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi thỏa mãn các dấu
hiệu: doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và có
yêu cầu của chủ nợ. Doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là phá sản khi đáp ứng 2 điều kiện


sau: doanh nghiệp, hợp tác xã đang lâm vào tình trạng phá sản theo quy định tại Điều 3
của luật phá sản 2004 và bị tòa án tuyên bố phá sản. Vì thế, việc một doanh nghiệp bị lâm
vào tình trạng phá sản chưa chắc doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản. Chẳng hạn ở Mĩ,
không phải mọi hành động nộp đơn xin phá sản đều là sự đóng cửa của công ty, kết thúc
sự tồn tại của một công ty; bởi lẽ doanh nghiệp đó có thể phục hồi và trở lại hoạt động
kinh doanh bình thường. Cụ thể là Chương 7 Luật phá sản Mĩ quy định về thanh lý con
nợ, còn Chương 11 và Chương 13 thì quy định việc tổ chức lại con nợ. Nhiều công ty lớn
của nước Mĩ đã từng nộp đơn xin bảo hộ phá sản, tổ chức lại kinh doanh đã và đang hoạt
động kinh doanh khá bình thường.
Một điểm khác biệt nữa giữa tình trạng phá sản và phá sản là về thời điểm. Thời
điểm doanh nghiệp, hợp tác xã ở trong tình trạng phá sản là thời điểm tòa án ra quyết định
mở thủ tục phá sản. Còn thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản là thời điểm bị tòa
án tuyên bố phá sản bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật.

C- ĐÁNH GIÁ
Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu xây dựng và hoàn
thiện khung pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật phá sản nói riêng luôn được các
quốc gia quan tâm, chú ý. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến
việc xây dựng, sửa đổi pháp luật, theo đó pháp luật phá sản cũng không là ngoại lệ.

việc kinh doanh một cách công bằng; đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho
các bộ phận khác của xã hội liên quan đến các doanh nghiệp, bất kể họ là người cho
doanh nghiệp vay tiền hay là người làm công ăn lương cho doanh nghiệp. Và điều quan
trọng hơn là các quy định này phải đảm bảo một cách có hiệu quả nhất các quyền và lợi
ích hợp pháp của các bên có liên quan và của các doanh nghiệp khi doanh nghiệp đã lâm
vào tình trạng phá sản.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status