ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------
Trần Thanh Dũ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
CỦA KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN TIẾNG VIỆT
(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62. 22 .02.41
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2018
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh)
Tập thể hướng dẫn khoa học:
+ Lê Thị Thanh, Ph.D
+ Lưu Trọng Tuấn, Ph.D
Phản biện độc lập 1: ……………………………………………
Phản biện độc lập 2: ……………………………………………
Phản biện 1: ……………………………………………….
Phản biện 2 ……………………………………………….
Phản biện 3: ……………………………………………….
điểm ngôn ngữ của KHTTTV.
0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những mục đích nghiên cứu đã được xác định, LA đặt ra 4 nhiệm
vụ nghiên cứu chủ yếu sau: (1) xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết và thực tiễn
hữu quan; (2) khảo sát, sưu tầm, phân loại và phân tích một cách có hệ thống
ngôn ngữ KHTTTV trên các bình diện và cấp độ: từ vựng, ngữ pháp, tu từ,
HĐNT, chức năng phản ánh giá trị VHXH của ngôn ngữ; (3) khảo sát, sưu
tầm, phân loại và phân tích có hệ thống ngôn ngữ KHTT tiếng Anh, đối chiếu
với tiếng Việt để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng ở các
bình diện và cấp độ tương ứng; (4) đề xuất chiến sử dụng ngôn ngữ cụ thể cho
KHTT.
0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
0.4.1. Đối tượng nghiên cứu
LA khảo sát KHTT, một đối tượng quan trọng và cũng là hình thức
đặc thù của hoạt động giao tiếp trong lĩnh vực truyền thông đại chúng. Các
hiện tượng từ vựng, ngữ pháp, hành động ngôn từ (HĐNT), giá trị phản ánh
được khảo sát không chỉ cần phải được đặt trong hệ thống và chức năng của
các yếu tố, đơn vị để xem xét mà còn cần phải được luận giải bằng những tri
thức liên ngành.
0.4.2. Phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Vận dụng các nguyên tắc xác định cở mẫu của Schumacher &
McMillan [172], LA xác định nguồn ngữ liệu gồm 900 KHTT cho mỗi ngôn
ngữ, với nội dung chủ đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
0.5. Hướng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
0.5.1. Hướng nghiên cứu
Để phù hợp với đối tượng nghiên cứu và để đạt được mục tiêu nghiên
1.1.1.2. Tiêu chí xác định khẩu hiệu tuyên truyền
Dù được thể hiện dưới hình thức nào đi chăng nữa thì phần lời (ngôn
ngữ) của KHTT cũng cần phải được thể hiện một cách tiết kiệm nhất. Điều
đáng lưu ý là do KHTT thường được thể hiện dưới dạng giao tiếp không trực
tiếp giữa người phát thông điệp và người nhận thông điệp nên thường có dung
lượng thông tin không lớn và có mục đích thực dụng rõ ràng.
1.1.1.3. Phân loại khẩu hiệu tuyên truyền
Cùng với sự đa dạng về cách tiếp cận thuật ngữ, KHTT cũng có thể
được phân loại dựa theo những tiêu chí khác nhau. Do mục đích của KHTT là
tác động đến nhận thức, tình cảm và hành vi gắn với những chiến dịch tuyên
truyền nhất định nên bên cạnh cách phân loại theo nội dung chủ đề phản ánh
thì cách phân loại theo tiêu chí hồi đáp của đối tượng tiếp nhận cũng được xem
là cơ sở quan trọng để nghiên cứu, xem xét đặc điểm và hành chức của các yếu
tố, đơn vị ngôn ngữ của KHTT.
1.1.1.4. Chức năng của khẩu hiệu tuyên truyền
Là yếu tố quan trọng của tuyên truyền, chức năng của KHTT cũng gắn
chức năng của tuyên truyền nói chung, gồm chức năng thông tin nhằm “thay
đổi suy nghĩ, nhận thức hay thái độ của công chúng” và chức năng điều khiển
(còn gọi là chức năng tác động) nhằm “tạo hành động trong công chúng”.
Ngoài hai chức năng trên, cũng như bất kỳ một diễn ngôn nào khác, KHTT
còn thực hiện một số chức năng khác của ngôn ngữ như: chức năng liên nhân,
chức năng phản ánh xã hội, chức năng định hướng cảm xúc, chức năng hướng
dẫn dư luận, v.v..
1.1.2. Lý thuyết về các bình diện và cấp độ ngôn ngữ liên quan đến
khẩu hiệu tuyên truyền
1.1.2.1. Lý thuyết về từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp và tu từ
4
Từ hướng tiếp cận vấn đề đã được xác định, lý thuyết về cấu trúc ngôn
Bên cạnh các bình diện từ vựng và ngữ pháp từ góc nhìn của ngữ pháp
truyền thống, một công trình nghiên cứu ngôn ngữ được cho là toàn diện
không thể không đề cập đến yếu tố tu từ. Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ
được kết hợp mà tu từ có thể được xem xét ở các cấp độ khác nhau như : ngữ
âm, từ vựng - ngữ nghĩa, cú pháp và văn bản. Ứng với mỗi cấp độ, tu từ cũng
5
có thể được phân thành những phương tiện và biện pháp tu từ (PT&BPTT)
khác nhau.
1.1.2.2. Lý thuyết về hành động ngôn từ
Theo Austin [87], có 3 loại hành động trong một phát ngôn: hành
động tạo lời, hành động ở lời và hành động mượn lời. Trong ngữ dụng học,
người ta thường chỉ nghiên cứu hành động tại lời [15]. Đó chính là “hành
động mà người phát thực hiện ngay trong lời nói của mình” [16, tr.515]. Nếu
như trong hội thoại thông thường, hai tham thoại có chức năng tại lời dẫn nhập
(của SP1) và hồi đáp (của SP2) tạo nên cặp thoại thì đối với KHTT, hành động
tuyên truyền chỉ có chức năng tại lời dẫn nhập.
Dù cách diễn đạt có khác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều có cùng
quan điểm khi tiếp cận lập luận trong mối quan hệ với HĐNT: Quan hệ lập
luận có thể diễn ra giữa các hành động ở lời.
1.1.2.3. Lý thuyết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Dù cách diễn đạt có khác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều thống
nhất quan điểm cho rằng cách thức con người suy nghĩ và hành xử đều phụ
thuộc vào cấu trúc ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên trong hoạt động giao
tiếp và chúng ta có thể hiểu được các giá trị VHXH, trong đó có YTH từ đặc
điểm ngôn ngữ được sử dụng trong những môi trường xã hội khác nhau.
1.1.2.4. Lý thuyết về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán
Diễn ngôn là “một hình thức hoạt động xã hội quan trọng được thực
hiện để duy trì trật tự và cải tạo xã hội” [117, tr.64]. Với quan điểm “bất kỳ
và bối cảnh xã hội nên chủ thể sáng tạo KHTT ở Việt Nam và Mỹ bên cạnh
những điểm tương đồng vẫn có nhiều điểm khác biệt.
1.2.1.3. Hình thức thể hiện khẩu hiệu tuyên truyền
Cùng với dòng chảy của lịch sử, KHTT đã chứng tỏ là một trong
những kênh truyền thông quan trọng thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo
dục, hướng dẫn thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách trong quá
trình hoạt động điều hành của các tổ chức trong hệ thống chính quyền - chính
trị đất nước. Dù chưa có tài liệu nào đề cập nhưng theo quan sát của chúng tôi,
cách thức thể hiện KHTT ở các quốc gia khác nhau cũng không đồng nhất.
1.2.2. Những yêu cầu đối với ngôn ngữ khẩu hiệu tuyên truyền
Căn cứ vào khái niệm, chức năng của KHTT, tiêu chí xác định KHTT
kết hợp với tìm hiểu cách thức sử dụng KHTT trong thực tiễn, chúng tôi nhận
thấy để đạt hiệu quả giao tiếp - tuyên truyền thì từ ngữ được sử dụng trong
KHTT cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: tính chính xác, chuẩn mực; tính
ngắn gọn, cô đọng; tính phổ thông, đơn giản, dễ hiểu; tính ấn tượng, sáng tạo;
tính lịch sự, trang trọng; tính văn hóa.
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG, NGỮ PHÁP, TU TỪ
CỦA KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN TIẾNG VIỆT
(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)
7
Từ hệ thống cơ sở lý thuyết đã được xác định, chương này tìm hiểu
đặc điểm ngôn ngữ của KHTT tiếng Việt, đối chiếu với tiếng Anh sử dụng
hướng nghiên cứu cấu trúc luận làm nền tảng.
2.1. Đặc điểm từ vựng, ngữ pháp, tu từ của khẩu hiệu tuyên truyền tiếng
Việt
2.1.1. Đặc điểm từ vựng
là sự xuất hiện với mật độ cao lớp từ ngữ mang ý nghĩa biểu thái đánh giá tích
cực. Thuộc lớp từ này bao gồm:
(i) Nhóm từ ngữ đề cập đến những mối quan hệ thiêng liêng, thân
thiết của con người như: đất nước, nhân dân, dân tộc, làng xóm, quê hương,
gia đình, ông, bà, cha, mẹ, con (cái), vợ, chồng, bạn, người thân, v.v., như
trong: An toàn là bạn, tai nạn là thù [V.53]; Xây dựng xã văn hóa và xã nông
thôn mới là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [V.877].
8
(ii) Nhóm từ ngữ đề cập đến những nhu cầu cơ bản của cuộc sống
như: sức khỏe, thực phẩm, tương lai, nghề nghiệp, niềm vui, (niềm) hạnh
phúc, văn hóa, chất lượng, (sự) văn minh, (sự) an toàn, (sự) bình đẳng, (sự)
phát triển, v.v., như trong: Hãy hành động vì sự an toàn và phát triển toàn
diện của vị thành niên, thanh niên [V.20]; Bảo hiểm y tế toàn dân vì an sinh
xã hội, vì hạnh phúc mọi nhà [V.4].
(iii) Nhóm từ ngữ đề cập đến những yếu tố hoặc phẩm chất có nhiều ý
nghĩa và giá trị trong cuộc sống như: vàng, đạo lý, truyền thống, đạo đức, cội
nguồn, v.v., như trong: Cơ cấu dân số vàng - cơ hội vàng để hội nhập và phát
triển [V.345]; Tự hào về cội nguồn dân tộc, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [V.440].
(iv) Nhóm từ ngữ đề cập đến bộ phận cơ thể hoặc những yếu tố quan
trọng, thiết thân của sự sống như: máu, trái tim, gốc, rễ, tế bào, lá phổi, tính
mạng, v.v., như trong: Bảo vệ môi trường là gốc rễ của sự phát triển bền vững
[V.193]; Bảo vệ rừng là bảo vệ lá phổi của chính mình [V.203].
Bên cạnh lớp từ ngữ mang ý nghĩa biểu thái đánh giá tích cực, từ ngữ
mang ý nghĩa biểu thái đánh giá tiêu cực cũng được sử dụng, nhất là đối với
những KHTT có chức năng cảnh báo, can ngăn.
2.1.2. Đặc điểm ngữ pháp
Câu trong KHTT được tiếp cận ở hai bình diện: cấu trúc và MĐPN.
Bảng 2.3. CTĐT và cấu trúc thông tin trong KHTTTV (Mô hình 1)
Cấu trúc
Thành phần, nội dung
Đề - thuyết
Đề
Thuyết
Thông tin
Tiếp thể (đích) của hành
Hành động
động
Ví dụ
Chung tay
vì một môi trường bền
vững [V.208].
Quyết tâm xây dựng
đơn vị có môi trường văn
hóa tốt [V.829].
Hãy nhuộm xanh
nền kinh tế biển [V.249].
Bảng 2.4. CTĐT và cấu trúc thông tin trong KHTTTV (Mô hình 2)
Cấu trúc
Thành phần, nội dung
Đề - thuyết
Đề
Thuyết
Thông tin
Chủ thể
Hành động
Ví dụ
Cộng đồng
Đề
Thuyết
Thông tin
Bối cảnh hoặc yếu tố
Nội dung, kết quả
có liên quan đến nội dung chủ
hay hệ quả của phần đề
đề
10
Ví dụ
Nhà tiêu hợp vệ sinh,
cả xóm làng văn minh.
[V.275]
Một giọt máu cho đi,
một cuộc đời ở lại. [V.883]
Đại dương xanh,
tương lai xanh. [V.223]
Kết quả thống kê từ nghiệm thể cũng cho thấy CTĐT (đặc thù) cũng là
kiểu cấu trúc đặc trưng của câu trong KHTTTV. Trong cấu trúc này, phần đề
thường là yếu tố nêu nội dung chủ đề, là tâm điểm thu hút sự chú ý của công
chúng; còn phần thuyết là phần nội dung có liên quan và tác động đến phần đề
hoặc mang tính chất bổ sung cho phần đề. Cấu trúc này vừa có tác dụng giúp
công chúng nhận ra và xác định rõ chủ đề được nêu lên ngay trong phần đề,
vừa có tác dụng tập trung sự chú ý đến phần trọng tâm của thông điệp được
nêu lên trong phần thuyết.
Về cấu trúc thông tin, quan sát 887 KHTT có CTĐT hoặc cấu trúc
Loại câu
Số lượng (N=913)
Tần suất (%)
Câu trần thuật (CTT)
533
58.37
Câu cầu khiến (CCK)
380
41.63
Điều đặc biệt mà chúng tôi quan sát được từ nghiệm thể là hầu hết
CTT trong KHTT đều mang ý nghĩa chủ động. Câu chủ động có giá trị ngữ
dụng tập trung sự chú ý đến tác nhân của hành động - là chủ thể thực hiện
hành vi, là đối tượng quan trọng mà KHTT hướng đến. Dù cả hai thức khẳng
định và phủ định đều được sử dụng nhưng do phải thực hiện chức năng thông
tin và tác động vốn có của KHTT nên thức khẳng định vẫn giữ vai trò chủ đạo
và chi phối (chiếm 95.11%).
2.1.3. Đặc điểm tu từ
Khảo sát cũng chỉ ra việc sử dụng với tần suất cao các PT&BPTT
cũng là đặc điểm quan trọng của KHTTTV. Đặc điểm này cho thấy KHTT
chấp nhận các hiện tượng “lệch chuẩn so với những gì mong đợi” để mang lại
hiệu quả tuyên truyền, tác động. Dù vậy, do phải bảo đảm tính nghiêm túc,
trang trọng, đơn giản, dễ hiểu nên những lối chơi chữ hài hước hay những cách
diễn đạt hàm ý cao có khả năng tạo ra nhiều cách hiểu nhập nhằng hầu như ít
thấy xuất hiện.
2.2. Đối chiếu với tiếng Anh
Từ những đặc điểm ngôn ngữ đã được xác định cho mỗi nhóm nghiệm
thể, LA cũng chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt mang tính đặc thù ngôn
ngữ - văn hóa.
cầu cơ bản của cuộc sống gắn với mối quan tâm của xã hội trong từng thời kỳ.
12
Hay nếu cách xưng hô trong KHTTTV hướng đến đại chúng nhằm phát huy
sức mạnh của tập thể, của cộng đồng qua việc sử dụng đại từ nhân xưng ở ngôi
thứ nhất số nhiều “chúng ta” thì KHTTTA lại có xu hướng đề cao vai trò cá
nhân của chủ thể tiếp nhận qua việc sử dụng đại từ ở ngôi thứ “you” trong hầu
hết các trường hợp có sử dụng đại từ xưng hô (Bảng 2.8).
Bảng 2.9. Câu xét theo cấu trúc C-V trong KHTT tiếng Anh và tiếng Việt
KHTTTA
KHTTTV
TT
1
Loại câu
CKPĐTP
Số lượng
(N=942)
380
Tần suất
(%)
40.33
Số lượng
(N=913)
411
(N=900)
170
507
218
Tần suất
(%)
18.88
56.35
24.22
4
KHTTTV
Số lượng
(N=900)
52
475
356
Tần suất
(%)
5.8
52.77
39.55
Từ 20 đến 30 từ
5
0.55
13
TT
Khẩu hiệu tuyên truyền
Vị trí đầu (%)
Vị trí cuối (%)
1 Tiếng Anh (N=853)
61.43
38.57
2 Tiếng Việt (N=887)
50.95
49.05
Về MĐPN, trong khi KHTTTV được thể hiện khá đơn điệu, khuôn sáo
bằng CCK hoặc CTT thì KHTTTA lại được hiện thực hoá bởi nhiều dạng câu
theo MĐPN khác nhau. Trong trường hợp cần sử dụng CCK, KHTTTA lại có
xu hướng hàm chứa thành phần điều biến lực ngôn trung (qua kết hợp những
câu (vế câu) khác nhau) để bổ sung thêm thông tin, cũng qua đó làm dịu đi sắc
thái mệnh lệnh và tính áp đặt cho lời kêu gọi (KHTT có cấu trúc kết hợp này
chiếm đến 28.6% trong nhóm nghiệm thể tiếng Anh nhưng chỉ chiếm 10.1%
trong nhóm nghiệm thể tiếng Việt).
Bảng 2.13. Câu xét theo MĐPN trong KHTT tiếng Anh và tiếng Việt
KHTTTA
KHTTTV
TT
Loại câu
Số lượng
Tần suất
Số lượng
Tần suất
(N=942)
cả hai ngôn ngữ phần lớn thuộc lớp từ vựng toàn dân, mang màu sắc trang
trọng và lịch sự. Dù vậy, bức tranh tu từ (loại và số lượng) giữa hai nhóm
nghiệm thể cũng có nhiều điểm không đồng nhất. \
2.3. Nhận xét chung và giải pháp sử dụng từ vựng, ngữ pháp, tu từ cho
khẩu hiệu tuyên truyền
Theo Garver [129], sức mạnh thuyết phục của diễn ngôn thường phụ
thuộc vào sự tương tác giữa 3 thành tố: (1) ethos, nói đến đặc trưng tính cách
của người nói; (2) pathos, đề cập đến cảm xúc và trạng thái tinh thần; và (3)
logos, chỉ đến nội dung của thông điệp. Cách thức sử dụng ngôn ngữ trong
KHTT về cơ bản đã có những tác động và sự phù hợp nhất định đối với những
thành tố này.
Từ những đặc điểm ngôn ngữ đã được xác định, trên cơ sở những yêu
cầu đặt ra đối với ngôn ngữ KHTT, LA đề xuất phương thức sử dụng từ vựng,
ngữ pháp, PT&BPTT cụ thể cho KHTT
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ VÀ CHỨC NĂNG PHẢN ÁNH
CỦA NGÔN NGỮ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN TIẾNG VIỆT
(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)
Đồng nhất với cách tiến hành ở chương trước, phương pháp triển khai
được bắt đầu từ việc xem xét, phân tích HĐNT, chức năng phản ánh giá trị
VHXH của KHTT tiếng Việt, sau đó đối chiếu với tiếng Anh ở các bình diện
tương ứng.
3.1. Đặc điểm hành động ngôn từ và chức năng phản ánh của ngôn ngữ
khẩu hiệu tuyên truyền tiếng Việt
3.1.1. Đặc điểm hành động ngôn từ
3.1.1.1. Phân loại hành động ngôn từ
15
58.37
2
Nhóm HĐNT thực hiện đích
380
41.63
Để đạt hiệu quả giao tiếp, HĐNT tùy theo mục đích sử dụng của
KHTT mà có cách biểu hiện khác nhau. HĐNT này không giống các kiểu
HĐNT cụ thể như: hứa, ra lệnh, hỏi, v.v. nhưng có thể là, hoặc bao gồm một
HĐNT độc lập, hoặc kết hợp một số (thường là hai) HĐNT khác nhau để đạt
đến đích tác động mà nhà tuyên truyền mong đợi.
b) Hành động ngôn từ xét theo hình thức ngôn ngữ
Do đích giao tiếp chủ đạo của KHTT chính là đích tác động nên có thể
quy hai nhóm HĐNT kể trên (nhóm HĐNT hướng đến đích và nhóm HĐNT
16
thực hiện đích) lần lược về hai nhóm HĐNT theo hình thức ngôn ngữ tương
ứng: trực tiếp và gián tiếp.
Bảng 3.2. HĐNT trực tiếp và gián tiếp trong KHTTTV
TT
Hành động ngôn từ
Số lượng N=913) Tần suất (%)
1
Gián tiếp (direct speech acts)
533
58.37
2
Trực tiếp (indirect speech acts)
380
41.63
sống tình cảm - tinh thần đã được đề cập ở Chương 2.
Bảng 3.4. Luận cứ trong KHTTTV
TT Nhóm luận cứ
Ví dụ
1
Luận cứ tác Sử dụng rau, thịt mất vệ sinh, không an toàn là
động đến lý trí tự tìm đến bệnh tật. [V.763]
(nhu cầu vật Bảo hiểm xã hội - phúc lợi cho từng độ tuổi.
chất)
[V.1]
17
2
Luận cứ tác Phòng chống dịch cúm A (H1N1, H5N1, H7N9) là
động đến tình trách nhiệm của mỗi người. [V.754]
cảm (nhu cầu Gặp nhau chào bằng động tác là nét đẹp quân
tinh thần)
nhân. [V.802]
3.1.2. Chức năng phản ánh của ngôn ngữ
Dù là một khái niệm có nội hàm rộng liên quan đến các mặt khác nhau
của đời sống xã hội và chi phối cách ứng xử của con người (trong đó có ngôn
ngữ) nhưng trong trong khuôn khổ của LA, đặc điểm và biểu hiện giá trị
VHXH của diễn ngôn KHTT sẽ được tiếp cận ở 5 khía cạnh cơ bản: (1) đặc
điểm và biểu hiện của YTH; (2) đặc điểm và biểu hiện của chủ nghĩa tập thể;
(3) đặc điểm và biểu hiện của yếu tố quyền lực; (4) đặc điểm và biểu hiện của
chiến lược lịch sự; và (5) đặc điểm và biểu hiện của tính đa dạng về phong
cách. Đây là những khía cạnh được chúng tôi xem là những yếu tố quan trọng
của tiền giả định và môi trường xã hội có liên quan và chi phối trực tiếp đến
các mặt khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có cách thức sử dụng từ ngữ
trong lĩnh vực truyền thông đại chúng nói chung và trong KHTT nói riêng.
3.1.2.3. Đặc điểm và biểu hiện của yếu tố quyền lực
Ở nước ta, KHTT là những phát ngôn xuất phát từ nhà tuyên truyền nhà quản lý xã hội nên bao giờ tồn tại những khoảng cách quyền lực xã hội
nhất định giữa các chủ thể tham gia vào quá trình giao tiếp. KHTT có thể được
xem như một diễn ngôn của quyền lực, luôn gắn chặt với quyền lực, cũng
đồng thời là một công cụ quan trọng để nhà tuyên truyền, nhà quản lý xã hội
nắm giữ và thực thi quyền lực của mình. Bên cạnh sự chi phối về địa vị xã hội,
quyền lực trong KHTT còn tồn tại dưới dạng quyền lực của tập thể, chi phối từ
tập thể - thể hiện ý chí, khát vọng, niềm tin của tập thể, của cộng đồng.
3.1.2.4. Đặc điểm và biểu hiện của chiến lược lịch sự
Với đặc điểm mềm dẻo trong giao tiếp luôn hướng đến sự hài hòa, vui
vẻ, bảo đảm sự đoàn kết nhất trí giữa các thành viên trong cộng đồng, nhà
tuyên truyền ở nước ta có xu hướng sử dụng kết hợp đan xen giữa LSDT và
LSAT khi tạo lời văn cho KHTT. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi vì dù KHTT
được tạo ra nhằm thực hiện chức năng kêu gọi và tác động đến cộng đồng
nhưng thực chất lại là tác động đến từng cá nhân riêng biệt. Sự kết hợp này
được thể hiện rất rõ qua cách thức sử dụng từ ngữ, ngữ pháp và hiện thực hóa
HĐNT.
3.1.2.5. Đặc điểm và biểu hiện của tính đa dạng về phong cách
Để chứng minh cho tính đa dạng này, LA tiến hành xem xét và phân
biệt đặc điểm ngôn ngữ của KHTTTV thuộc 2 ngữ vực: chính trị và phi chính
trị, lần lược tương ứng với 2 nhóm KHTT: nhóm KHTT chính trị và nhóm
KHTT phi chính trị.
Do tác động đến công chúng xã hội, với đối tượng tiếp nhận thuộc các
lứa tuổi, trình độ, giai cấp, nghề nghiệp khác nhau nên, trên bình diện chung,
KHTT được thể hiện bằng ngôn ngữ toàn dân, mang màu sắc trang trọng và
lịch sự. Dù biểu hiện và tần số xuất hiện của mỗi hiện tượng có khác nhau
nhưng nhìn chung nhóm KHTT chính trị trong cả hai ngôn ngữ đều được thể
hiện trang trọng, ít sử dụng ít sử dụng các giải pháp ngữ âm và cấu trúc giàu
62.63
533
58.37
thực hiện đích
2
HĐNT thực hiện
352
37.37
380
41.63
đích
Bảng 3.6. HĐNT trực tiếp và gián tiếp trong KHTT tiếng Anh và tiếng Việt
Gián tiếp
Trực tiếp
Khẩu hiệu tuyên
Số
Tần suất
Số
Tần suất
TT
truyền
lượng
(%)
lượng
(%)
1
Tiếng Anh (N=942)
590
62.63
352
Do sự khác nhau về văn hoá giao tiếp, văn hoá ứng xử của cộng đồng
chi phối nên chiến lược và cách thức thể hiện lịch sự trong KHTT thuộc mỗi
nhóm nghiệm thể cũng không đồng nhất. Trong khi KHTTTA, do sự chi phối
và ảnh hưởng của nền văn hoá luôn đề cao vai trò cá nhân, tôn trọng thể diện
cá nhân nên có ưu thế hơn trong việc sử dụng chiến lược LSAT thì KHTTTV,
do chịu sự chi phối của thể chế và nền văn hoá mang đậm tính cộng đồng
phương Đông, thiên về tình cảm và các mối quan hệ gia đình chi phối lại có ưu
thế hơn trong việc sử dụng chiến lược LSDT.
Dù biểu hiện và tần số xuất hiện của mỗi hiện tượng có khác nhau
nhưng nhìn chung nhóm KHTT chính trị trong cả hai ngôn ngữ đều được thể
hiện trang trọng. Trong khi đó, do có nội dung phản ánh thuộc những chủ đề
không mang tính chất trọng đại của đất nước, của dân tộc, lại có xu hướng tiếp
biến cách diễn đạt (đặc điểm ngôn ngữ) từ KHTT của các nước nên KHTT
thuộc nhóm nội dung chủ đề phi chính trị được thể hiện thoáng đạt hơn.
Trong cùng một nội dung chủ đề tuyên truyền, cách thể hiện KHTT
giữa hai nhóm nghiệm thể cũng có điểm không đồng nhất.
3.3. Nhận xét chung và đề xuất về phương thức sử dụng hành
động ngôn từ, chiến lược lịch sự cho khẩu hiệu tuyên truyền
Mặc dù biểu hiện có khác nhau nhưng thực tiễn sử dụng KHTT trong
hai ngôn ngữ đều cho thấy cách thức thể hiện HĐNT đóng vai trò đặc biệt
21
quan trọng trong việc thiết lập các mối quan hệ liên nhân, nội dung giao tiếp
cần thể hiện. Dù cả hai loại HĐNT (trực tiếp và gián tiếp) và cà hai chiến lược
lịch sự (LSAT và LSDT) đều được sử dụng nhưng tần số xuất hiện cũng như
giá trị của từng chiến lược trong mỗi nhóm nghiệm thể cũng không đồng nhất.
Từ những đặc điểm HĐNT và chiến lược lịch sự đã được xác định, trên cơ sở
những yêu cầu đặt ra đối với ngôn ngữ KHTT, LA đề xuất phương thức sử
dụng HĐNT và chiến lược lịch sự cụ thể cho KHTT.
cách thức thể hiện HĐNT, cấu trúc lập luận giữa hai nhóm nghiệm thể cũng có
nhiều điểm không đồng nhất.
4. Về chức năng phản ánh của ngôn ngữ, khảo sát chỉ ra ẩn sâu trong
các lớp từ vựng, cấu trúc ngữ pháp, cách thức hiện thực hóa HĐNT, cấu trúc
lập luận của KHTT là một hệ thống giá trị VHXH của mỗi nước, trong đó tiêu
biểu là YTH, văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử của cộng đồng. Bên cạnh
những điểm tương đồng cơ bản, tùy vào điều kiện lịch sử, VHXH của mỗi
nước mà KHTT tiếng Anh và tiếng Việt cũng có nhiều điểm khác biệt về các
giá trị phản ánh.
5. Ở phương diện ngữ vực, bên cạnh những điểm khác biệt giữa hai
nhóm nghiệm thể Anh - Việt nói chung, yếu tố ngôn ngữ giữa các nhóm nội
dung chủ đề tuyên truyền khác nhau trong cùng một ngôn ngữ hoặc trong cùng
một nhóm nội dung chủ đề giữa hai ngôn ngữ cũng có điểm không đồng nhất.
6. Từ những đặc điểm về từ vựng, ngữ pháp, cách thức tổ chức HĐNT
đã được phân tích, có thể khẳng định rằng KHTT trong cả hai nhóm nghiệm
thể về cơ bản đáp ứng tốt các phương châm cộng tác do Grice [132] đề xuất,
các yêu cầu sử dụng ngôn ngữ đã được xác định và cũng đã đạt được những
hiệu quả tác động nhất định. Vì là hình thức giao tiếp xã hội với yêu cầu về độ
ngắn gọn cao nên việc vi phạm một (hoặc một số) phương châm cộng tác cũng
là điều hoàn toàn khả chấp. Do sự khác nhau về văn hoá giao tiếp, văn hoá ứng
xử và thói quen diễn đạt của mỗi dân tộc chi phối nên bức tranh và biểu hiện
của việc tuân thủ hay vi phạm các phương châm cộng tác, cũng như việc đáp
ứng các yêu cầu sử dụng ngôn ngữ trong hiện thực hóa các mặt tác động của
KHTT trong mỗi nhóm nghiệm thể cũng có nhiều điểm không đồng nhất.
7. Để quá trình giao tiếp ngôn ngữ đạt hiệu quả thì việc tuân thủ các
phương châm cộng tác trong giao tiếp đóng vai trò quan trọng. Nguyên tắc này
lại càng có ý nghĩa quyết định đối với hình thức giao tiếp gián cách và với số
lượng con chữ hạn chế như KHTT. Trên bình diện chung, KHTT cần phải
ngắn gọn nhưng phải trau chuốt, hấp dẫn và có khả năng tác động trực tiếp vào
tinh thần, thái độ, nhiệm vụ, tính tự giác, tính cộng đồng của người dân.
24