MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của dân luật các nước
và cũng là chế định quan trọng trong tư pháp quốc tế. Về nguyên tắc, các quan
hệ nảy sinh trong phạm vi quốc gia nào thì do pháp luật của quốc gia đó điều
chỉnh. Tuy nhiên trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế ngày càng phát
triển thì nhiều quan hệ về thừa kế đã vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ
thống pháp luật một nước. Đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.
Xuất phát từ quyền dân tộc tự quyết cũng như các điều kiện về kinh tế,
văn hóa, xã hội khác nhau mà mỗi quốc gia đều có một hệ thống nội luật
riêng. Việc xung đột pháp luật trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là
một hiện tượng phổ biến trong tư pháp quốc tế. Thừa kế theo luật cũng là một
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, theo đó sự xung đột trong quan hệ thừa
kế này cũng không phải là ngoại lệ. Từ nhu cầu tìm hiểu về pháp luật về thừa
kế theo luật có yếu tố nước ngoài, trong bài tiểu luận lần này em xin chọn đề
tài: “Phân tích và bình luận về cơ sở pháp lý để giải quyết xung đột pháp
luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp
luật Việt Nam.”
Vì thời gian làm bài cũng như hiểu biết còn hạn chế. Bài làm không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy cô giáo thông cảm và có những
góp ý, bồ sung để bài viết thêm phần hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
1
2
nước ngoài (yếu tố quốc tế) là đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.
Thế nào là thừa kế có yếu tố nước ngoài
Để được coi là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thì quan hệ thừa kế
phải đáp ứng ít nhất một trong ba yếu tố sau:
Về mặt chủ thể: Các bên tham gia quan hệ thừa kế (người để lại di sản thừa kế
và người thừa kế) không cùng quốc tịch hoặc không cùng nơi cư trú (trụ sở);
Về mặt khách thể: Đối tượng của quan hệ thừa kế là di sản đang ở nước
ngoài;
Về sự kiện pháp lý: Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ
thừa kế xảy ra ở nước ngoài: ví dụ di chúc được lập ở nước ngoài, việc mở
1.3
thừa kế xảy ra ở nước ngoài;
Xung đột pháp luật về thừa kế
3
Pháp luật thừa kế ở mỗi quốc gia có nhiều điểm khác nhau, bởi sự
không tương đồng về chế độ sở hữu, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, về
phong tục tập quán, về vị trí địa lý, về lịch sử, tôn giáo.... Sự khác nhau này
thường xuất hiện từ trong các nguyên tắc hưởng thừa kế, nội dung quyền thừa
kế, cho đến các qui định cụ thể về diện và hàng thừa kế, tính hợp pháp của di
chúc... Trong khi quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến
hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Chính vì vậy, hầu hết các quan hệ
thừa kế có yếu tố nước ngoài, ở những mức độ khác nhau thường làm phát
Từ ngày BLDS có hiệu lực, một loạt quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài được điều chỉnh bởi các quy phạm xung đột nhưng “chế định thừa kế
còn để trống”.(2) Tại phần thứ bảy (Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài) của
BLDS 1995 không có bất kì một điều khoản nào quy định về việc giải quyết
xung đột về thừa kế có yếu tố nước ngoài, nhưng thông qua quy định tại Điều
14 (nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật), Điều 15 (khoản 3,4), cũng như
Điều 826, 827 của BLDS 1995, các quy định của chế định thừa kế trong
BLDS 1995 cũng được áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
ngoài. Tuy nhiên, việc áp dụng như vậy không phải là giải pháp thuyết phục
và minh bạch cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.
Hiện nay ở Việt Nam, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài chịu sự
điều chỉnh của khá nhiều văn bản với các quy định nằm rải rác trong pháp luật
Việt Nam: Điều 663, 680, 681 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số
138/2006/NĐCP và trong các Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam ký kết
với các nước ghi nhận các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất để điều
2.1
chỉnh quan hệ thừa kế phát sinh giữa công dân hai nước ký kết.
Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế
Cơ sở pháp lý: Điều 680 và 681 Bộ luật dân sự 2015
Về nguyên tắc chung: nhà nước đảm bảo quyền thừa kế và bình đẳng về
quyền thừa kế mọi cá nhân (kể cả nước ngoài) đều có quyền thừa kế và để lại
di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.
2.2
Thừa kế theo pháp luật
Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật (người chết không để lại di
chúc, di chúc không hợp pháp, không để lại di chúc với một phần tài sản hoặc
di chúc không hợp pháp một phần), việc thừa kế theo pháp luật phải "được
nước ngoài không căn cứ vào quốc tịch của người lập di chúc mà căn cứ vào
lãnh thổ nơi người để lại di sản lập di chúc. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi
nhiều quốc gia quy định di chúc có hiệu lực khi được đăng ký tại cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền, do đó cần phải tuân theo các quy định của quốc gia nơi
lập di chúc về hình thức của di chúc.
Trên thực tế có nhiều trường hợp di chúc do người nước ngoài lập tại
Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức nhưng
không phù hợp với pháp luật của nước nơi người đó cư trú hoặc có di sản. Do
đó, khoản 2 Điều 681 Bộ luật dân sự năm 2015 đã điều chỉnh theo hướng:
Hình thức di chúc được xem là hợp pháp tại Việt Nam nếu phù hợp với pháp
luật của nước nơi lập di chúc cư trú hoặc có quốc tịch hoặc phù hợp với pháp
7
luật của nước mà người để lại di sản có nơi cư trú hoặc của nước có di sản
thừa kế là bất động sản.
Việc thừa kế của công dân Việt Nam đối với tài sản ở nước ngoài, pháp
luật của nước ta không có các quy định cấm mà trên thực tế Nhà nước cho
phép và bảo hộ. Đối với việc thừa kế theo di chúc của công dân Việt Nam ở
nước ngoài, khoản 2 và khoản 5 Điều 638 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định
những di chúc bằng văn bản dưới đây cũng có giá trị như di chúc được công
chứng nhà nước chứng nhận hoặc UBND xã, phường, thị trấn chứng thực:
“2. Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của
người chỉ huy phương tiện đó.
5. Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận
3.
của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.”
GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ TRÊN CƠ SỞ
CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN
-
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bất động sản thuộc cơ quan tư pháp của
-
nước kí kết mà người để lại tài sản thừa kế là công dân vào thời điểm chết;
Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thừa kế bất động sản thuộc cơ quan
tư pháp của nước kí kết nơi có bất động sản thừa kế.
Ngoài ra trong các hiệp định tương trợ tư pháp còn quy định quy tắc
thẩm quyền giải quyết vấn đề thừa kế theo thỏa thuận, tức là cơ quan tư pháp
của nước ký kết này sẽ có thẩm quyền giải quyết vấn đề thừa kế toàn bộ động
sản của công dân nước ký kết kia để lại theo yêu cầu của người có quyền thừa
kế (theo luật hoặc theo di chúc), khi tất cả những người này có quyền thừa kế
chấp thuận thẩm quyền đó của cơ quan tư pháp này.
3.2
Xác định luật áp dụng để giải quyết vấn đề xung đột pháp luật thừa kế
Vấn đề thừa kế theo pháp luật trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà
Việt Nam đã kí kết chia làm hai trường hợp: Đối với động sản và đối với bất
động sản.
Theo các quy định tại Điều 45 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt
Nam và Đức; Điều 35 Hiệp định tương trợ giữa Việt Nam và Séc; Điều 34
Hiệp định giữa Việt Nam và Cuba; Điều 43 Hiệp định giưa Việt Nam và
Bungari; Điều 45 Hiệp định giữa Việt Nam và Hungari thì quyền thừa kế theo
pháp luật được xác định đối với từng loại tài sản cụ thể như sau:
- Đối với tài sản là động sản: Quyền thừa kế được xác định theo pháp
luật nước kí kết mà người để lại tài sản là công dân khi chết.
9
Di sản không có người thừa kế là không có người hưởng số di sản mà
người đó để lại. Ở một số nước như Nga, Hunggari, Tây Ban Nha, Italia… nhà
nước hưởng một số di sản thừa kế với tư cách là người thừa kế. Ở một số nước
khác như Anh, Mỹ, Pháp nhà nước hưởng số di sản như là tài sản vô chủ trên
cơ sở thực thi quyền chiếm hữu các tài sản vô chủ đó.
Theo luật thực chất về thừa kế của hầu hết các nước trên thế giới trong
đó có Việt Nam, đối với trường hợp trên thì di sản đó sẽ thuộc về Nhà nước.
Cụ thể, Điều 622 BLDS 2015 quy định: “Trong trường hợp không có người
10
thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được hưởng quyền
di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về
tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước”. Quy định này
cho thấy quan điểm thống nhất của nhà nước ta, đó là: quyền của Nhà nước
hưởng số di sản vì lý do nào đó mà không có người thừa kế do công dân Việt
Nam để lại là quyền dân sự, quyền thừa kế của Nhà nước Việt Nam. Đồng
thời, Nhà nước Việt Nam không chỉ có quyền thừa kế đối với các di sản không
người thừa kế do công dân Việt Nam để lại trên lãnh thổ Việt Nam mà còn đối
với cả các di sản của công dân Việt Nam khi chết đi để lại ở nước ngoài. Trong
mọi trường hợp, khi quy phạm xung đột của pháp luật nước ngoài dẫn chiếu
đến áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh các quan hệ thừa kế thì số di
sản này phải thuộc về Nhà nước Việt Nam, kể cả những trường hợp pháp luật
của nước nơi công dân Việt Nam chết hoặc nơi có di sản thừa kế đó quy định
khác.
Ngoài các quy định của pháp luật quốc gia, vấn đề “di sản không người
thừa kế” còn được giải quyết thông qua các hiệp định tương trợ tư pháp trong
các lĩnh vực dân sự, hôn nhân – gia đình và hình sự mà Việt Nam đã ký kết
với nước ngoài. Có thể thấy, các hiệp định này có chứa những quy phạm thực
chất thống nhất, trực tiếp giải quyết vấn đề “di sản không người thừa kế” mà
giải quyết, còn lại 35 vụ việc. trong 15 vụ việc được giải quyết thì có 7 vụ việc
đình chỉ, 3 vụ việc ủy thác tư pháp, 2 vụ việc đưa ra xét xử, 3 vụ việc công
nhận. Năm 2010 tổng số là 53 vụ việc, trong đó giải quyết là 19 và còn lại là
34 vụ việc. Trong 19 vụ việc được giải quyết thì đình chỉ 13, ủy thác tư pháp
5, đưa ra xét xử
Như vậy, trong những năm qua vấn đề giải quyết các vụ việc về thừa kế
có yếu tố nước ngoài ở nước ta giải quyết chưa được triệt để, vấn đề ủy thác tư
pháp luôn được đặt ra. Các tòa án áp dụng pháp luật còn nhiều thiếu sót và
vướng mắc, số lượng vụ việc được giải quyết ngày càng tăng, trong cùng một
vụ việc nhưng phải giải quyết nhiều lần và các bản án có hiệu lực pháp luật rồi
6.
6.1
nhưng bị đình chỉ.
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
Những điểm hạn chế của Bộ luật dân sự 2005 về vấn đề thừa kế có yếu tố
nước ngoài
Về hệ thống và cấu trúc pháp luật: Các quy định của pháp luật Việt Nam về
giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế theo luật có yếu tố nước
ngoài được ghi nhận chủ yếu trong Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005 và
12
Điều 12 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP. Mặc dù Điều 12 Nghị định số
138/2006/NĐ- CP đã có sự giải thích làm sáng rõ quan hệ thừa kế theo luật có
yếu tố nước ngoài mà Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005 nhưng vẫn còn có
trình bày khá lộn xộn. So khoản 1 với khoản 2 thì ưu tiên quy định đối với di
sản là động sản trước; So khoản 3 với khoản 4 thì lại ưu tiên quy định đối với
di sản là bất động sản trước mà không theo tính hệ thống nào. Có thể tách
riêng quy định về giải quyết di sản không có người thừa kế thành một điều
luật độc lập hoặc gộp nội dung các phần lại với nhau theo tiêu chí động sản
hoặc bất động sản. Nội dung quy định của luật tại khoản 1, khoản 2 so với
khoản 3, khoản 4 của Điều 767 chưa có sự liên quan và hướng tới quy định
những phạm vi, hướng tới những mục đích khách nhau khác nhau trong vấn đề
thừa kế pháp luật có yếu tố nước ngoài. Cụ thể, nếu quy định tại khoản 1,
khoản 2 cho thấy sự chỉ dẫn về luật áp dụng trong chia di sản thừa kế thì
khoản 3, khoản 4 quy định về chủ thể được hưởng quyền thừa kế.
Về nội dung pháp luật: Theo Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì khi di
sản là bất động sản ở Việt Nam thì pháp luật Việt Nam điều chỉnh, còn ở nước
ngoài thì pháp luật nước ngoài điều chỉnh. Theo đó, vấn đề thừa kế này sẽ do
pháp luật quốc gia mà người để lại di sản điều chỉnh. Chúng ta nhận thấy, quy
định này khá hợp lý bởi vì xuất phát từ tính chất chủ quyền, không được bất kì
một quốc gia nào có quyền xâm phạm, can thiệp vào lãnh thổ, chủ quyền của
quốc gia khác. Điều này phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, nó cũng có
nhược điểm cơ bản, đó là buộc chúng ta phải phân biệt di sản là động sản và
bất động sản trong khi đó “các phạm trù động sản và bất động sản không phải
đã được hiểu một cách thống nhất trong các hệ thống pháp luật hiện nay trên
thế giới”
(4)
. Sự khác nhau về khái niệm “động sản” và “bất động sản” trong
pháp luật các nước dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật về xác định, định
+ Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại
thời điểm người lập di chúc chết.
+ Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc
hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết.
+ Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản
Có thể thấy, nếu như ở Bộ luật dân sự 2005, chỉ quy định hình thức di
chúc phải phù hợp với pháp luật Việt Nam thì những quy định của Bộ luật dân
sự 2015 là hoàn phù hợp với thực tiễn. Bởi trong nhiều trường hợp, di chúc do
người nước ngoài lập tại Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật Việt
15
Nam về hình thức nhưng không phù hợp với pháp luật của nước nơi người đó
cư trú hoặc có di sản.
Thứ tư, Điều 767 Bộ luật dân sự 2015 quy định đối với di sản không
người thừa kế nếu là bất động sản thì thuộc về nhà nước nơi có bất động sản
đó. Còn nếu là động sản thì thuộc về nhà nước mà người để lại di sản có quốc
tịch trước khi chết. Tuy nhiên, đến Bộ luật dân sự 2015 thì không còn đề cập
đến vấn đề này nữa.
Những thay đổi của Bộ luật dân sự 2015 đã phần nào khắc phục những
hạn chế của Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên, sự thay đổi này là chưa đáng kể
và cần một hướng hoàn thiện pháp luật đồng bộ hơn
6.3 Giải pháp để nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết xung đột pháp
luật về thừa kế
Thứ nhất, xây dựng, thực thi phù hợp chế độ đãi ngộ như công dân với
người nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
Thứ ba, nâng các hiệu quả của việc áp dụng các quy định của Điều ước
quốc tế, Tập quán quốc tế và pháp luật nước ngoài.
Trình độ năng lực áp dụng pháp luật nước ngoài của thẩm phán Tòa án
còn nhiều hạn chế khi xét xử các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài. Do
không am hiểu về pháp luât, nhất là về xung đột pháp luật, cũng như không
hiểu được nội dung pháp luật nước ngoài, cho nên thẩm phán không thể áp
dụng pháp luật nước ngoài trong khi xét xử. Điều này vô hình chung đã làm
cho các quy phạm xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài
trở nên hình thức, không được thực hiện được trong thực tiễn.
Do đó, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài phải đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực xét xử của Tòa án
trong việc áp dụng pháp luật và điều ước quốc tế, kể cả pháp luật nước ngoài,
để giải quyết tranh chấp về thừa kế có yếu tố nước ngoài.
Thứ tư, tăng cường ký kết các Điều ước quốc tế, tham gia đàm phán, trao
đổi, thương lượng để ký kết các điều ước song phương và đa phương.
Việc ký kết các điều ước quốc tế tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải
quyết tranh chấp dễ dàng và không tốn kém về thời gian.
17
KẾT LUẬN
Tóm lại, thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh sự
truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy
định của pháp luật. Trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế, một số quan
hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc
Nam; Luận văn thạc sĩ luật học, Trịnh Thị Ngọc Dự, năm 2012.
9. Một số hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước Séc,
Cuba, Bungari...
10. Bộ luật dân sự 2015, NXB Chính trị quốc gia, năm 2015
11. Bộ luật dân sự 2005, NXB Lao động, năm 2014
12. Các trang web:
www.moj.gov.com.vn
www.thuvienphapluat.com.vn
www.hcmulaw.com.vn
19