nghiên cứu - trao đổi
việt nam và các điều ớc quốc tế
đã kí kết về nuôi con nuôi
TS. Vũ Đức Long *
H
ợp tác quốc tế về nuôi con nuôi là
vấn đề nhân quyền quan trọng nhằm
bảo vệ quyền lợi của trẻ em đợc ngời
nớc ngoài nhận làm con nuôi cũng nh
quyền làm cha, mẹ nuôi của ngời nớc
ngoài, tạo ra môi trờng lành mạnh cho
giao lu dân sự quốc tế. Chế định nuôi
con nuôi là chế định mang tính nhân đạo
sâu sắc nhằm thực hiện mục tiêu cao cả
của Công ớc về quyền trẻ em của Liên
hợp quốc là "các quốc gia thành viên
công nhận hoặc cho phép chế độ nhận
con nuôi phải đảm bảo rằng những lợi
ích tốt nhất của trẻ em là mối quan tâm
cao nhất" (Điều 21).
1. Quá trình tham gia của Việt
Nam vào các điều ớc quốc tế về con
nuôi
Là nớc chịu hậu quả nặng nề của
chiến tranh, trẻ em Việt Nam là những
ngời chịu nhiều thiệt thòi nhất do mất
mát cha, mẹ, ngời thân trong gia đình,
ngời nuôi dỡng, đỡ đầu và chịu cảnh
2/9/1989, Việt Nam phê chuẩn ngày
20/2/1990). Việt Nam là nớc thứ 2 phê
chuẩn Công ớc này và là nớc thực hiện
với cố gắng cao nhất các cam kết phát
sinh từ Công ớc.
Vấn đề nuôi con nuôi cũng đ đợc
ghi nhận trong các hiệp định tơng trợ t
pháp mà Việt Nam đ kí với các nớc từ
1980. Vấn đề nuôi con nuôi đ đợc dành
vị trí thích đáng trong các hiệp định này.
Trong đó phải kể đến các điều về nuôi
con nuôi trong các hiệp định tơng trợ t
pháp nh: Điều 39 Hiệp định tơng trợ t
pháp giữa Việt Nam - Cộng hòa dân chủ
* Vụ pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế
Bộ t pháp
Tạp chí luật học - 23
nghiên cứu - trao đổi
Đức kí ngày 15/2/1980 (đ chấm dứt hiệu
lực 1993), Điều 28 Hiệp định tơng trợ t
pháp giữa Việt Nam - Liên Xô kí ngày
10/12/1981 (cho đến nay Liên bang Nga
vẫn kế thừa); Điều 26, 27 Hiệp định
tơng trợ t pháp giữa Việt Nam - Tiệp
Khắc kí ngày 12/10/1982 (hiện Séc và
Xlovakia vẫn kế thừa); Điều 28 Hiệp định
tạm ngừng nhận con nuôi năm 1999 đ
24- Tạp chí luật học
gây ra hậu quả không tốt ảnh hởng đến
mối quan hệ giao lu truyền thống giữa
hai nớc và tác động tiêu cực đến sự phát
triển của giao lu dân sự. Với Hiệp định
này, quan hệ về nuôi con nuôi giữa hai
nớc sẽ mở ra trang mới.
Ngoài ra, trong khuôn khổ Liên hợp
quốc, Việt Nam đ tham gia hàng loạt
các công ớc khác có liên quan đến vấn
đề nuôi con nuôi nh Công ớc quốc tế
về các quyền dân sự - chính trị năm 1966,
Công ớc quốc tế về các quyền kinh tế x hội và văn hóa năm 1966 (Việt Nam
gia nhập ngày 24/9/1982).
2. Những vấn đề cơ bản của các
hiệp định về nuôi con nuôi
a. Các hiệp định tơng trợ t pháp về
dân sự
Các hiệp định tơng trợ t pháp mà
Việt Nam kí với các nớc chủ yếu chỉ đề
cập vấn đề chọn pháp luật áp dụng để
điều chỉnh các quan hệ về việc nuôi con
nuôi và xác định thẩm quyền của cơ quan
giải quyết việc nuôi con nuôi.
Đa số các hiệp định đều quy định vấn
đề nuôi con nuôi đợc xác định theo pháp
luật của nớc mà ngời nuôi là công dân
vào thời điểm xác nhận con nuôi. Nếu
theo Hiệp định này phải tuân theo pháp
luật của nớc kí kết mà con nuôi là công
dân. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi
và con nuôi; việc thay đổi, chấm dứt nuôi
con nuôi phải theo pháp luật của nớc kí
kết mà cha mẹ nuôi là công dân. Trong
trờng hợp cha mẹ nuôi là công dân của
hai nớc khác nhau thì phải tuân theo
pháp luật của nớc kí kết nơi con nuôi c
trú.
Về thẩm quyền giải quyết các vấn đề
về việc nhận nuôi con nuôi, thay đổi,
chấm dứt và tuyên bố việc nuôi con nuôi
vô hiệu, cơ quan có thẩm quyền là cơ
quan t pháp của nớc mà con nuôi là
công dân vào thời điểm xin nuôi con
nuôi. Nếu con nuôi là công dân nớc này
nhng lại thờng trú trên l nh thổ nớc
nơi ngời nhận nuôi thờng trú thì cơ
quan của nớc ngời nhận nuôi thờng
trú cũng có thẩm quyền giải quyết (Hiệp
định t pháp Việt Nam - Nga; Việt Nam Lào).
Còn các hiệp định khác lại quy định
theo hệ thuộc khác. Thẩm quyền giải
quyết việc nuôi con nuôi thuộc về cơ
quan của nớc mà ngời nhận nuôi là
công dân. Trong trờng hợp cặp vợ chồng
nhận nuôi mà chồng là công dân nớc
này, vợ lại là công dân nớc kia thì cơ
b. Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi
Việt - Pháp
Khác với các hiệp định tơng trợ t
pháp, Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi
giữa Việt Nam - Pháp (gọi tắt là Hiệp
định Việt - Pháp) không những chỉ quy
định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng,
thẩm quyền giải quyết mà còn quy định
các vấn đề hợp tác khác về nội dung.
Tạp chí luật học - 25
nghiên cứu - trao đổi
Trớc hết, về phía Việt Nam, toàn bộ
các hoạt động hợp tác để thực hiện Hiệp
định đợc giao cho Bộ t pháp, còn về
phía Pháp là Cơ quan nuôi con nuôi quốc
tế. Cơ quan trung ơng đầu mối này có
thể yêu cầu sự giúp đỡ của các cơ quan
có thẩm quyền của nớc mình và những
tổ chức đợc phép hoạt động trong lĩnh
vực nuôi con nuôi theo pháp luật nớc
mình trong việc thực hiện các cam kết về
nuôi con nuôi theo Hiệp định. Đồng thời,
các cơ quan này có thể trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua sự giúp đỡ của các cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền áp dụng mọi
biện pháp thích hợp, phù hợp với pháp
luật của mỗi nớc để phòng ngừa việc thu
thiệu làm con nuôi đợc pháp luật cho
phép làm con nuôi, có sự đồng ý của
nhiều cá nhân hoặc tổ chức có quyền có ý
kiến về việc cho trẻ em đó làm con nuôi
và không đợc đòi hỏi phải trả bất cứ
khoản tiền nào hay sự đền bù nào cho
việc đồng ý cho việc trẻ em làm con nuôi.
Quyết định cho nhận con nuôi và việc
giao nhận con nuôi đợc thực hiện theo
pháp luật của nớc mà trẻ em là công
dân. Các cơ quan trung ơng của hai
nớc phải đảm bảo tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho trẻ em đợc nhận làm con
nuôi xuất cảnh từ nớc nguyên quán cũng
nh đợc nhập cảnh và thờng trú trên
l nh thổ nớc tiếp nhận.
Việc tiến hành các thủ tục, trình tự
chặt chẽ, cụ thể đó, suy cho cùng nhằm
mục đích đảm bảo cho con nuôi đợc bảo
vệ và đợc hởng đầy đủ những quyền
dành cho trẻ em thờng trú trên l nh thổ
nớc mình. Ngoài ra, để đảm bảo triệt để
hơn trên thực tế quyền của con nuôi, cơ
quan trung ơng của hai nớc thực hiện
các biện pháp thích hợp nhằm thu thập,
lu giữ và trao đổi thông tin về tình trạng
con nuôi và ngời xin nhận con nuôi
nhằm bảo vệ lợi ích tốt nhất cho con
nuôi.
Về hợp tác, phối hợp đảm bảo thực
tổng thể các quyền trẻ em và trong đó có
đề cập trực tiếp đến vấn đề nuôi con nuôi.
Công ớc đặt ra nghĩa vụ của các quốc
gia thành viên phải bảo hộ và giúp đỡ đặc
biệt đối với trẻ em tạm thời hay vĩnh viễn
bị tớc mất môi trờng gia đình vì lợi ích
tốt nhất cho bản thân trẻ em. Việc lựa
chọn hình thức chăm sóc này hay hình
thức khác nh gửi nuôi, nhận làm con
nuôi, gửi vào những cơ quan chăm sóc trẻ
em thích hợp... phải dựa trên sự quan tâm
đến nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, văn hóa,
ngôn ngữ và nhằm đảm bảo thực hiện
đợc yêu cầu nuôi dạy trẻ liên tục.
Theo quy định của Công ớc, các
quốc gia thành viên có nghĩa vụ đảm bảo
những lợi ích tốt nhất cho trẻ em trong
quá trình xem xét cho phép nhận nuôi
con nuôi. Chỉ có nhà chức trách có thẩm
quyền mới đợc quyết định việc cho nhận
nuôi con nuôi theo đúng pháp luật và các
thủ tục đợc áp dụng trên cơ sở tin tởng
rằng bản thân trẻ em có thể đợc phép
làm con nuôi và những ngời có liên
quan đều đ đợc thông tin cần thiết và
đồng ý với việc nhận con nuôi đó. Trẻ em
đợc nhận làm con nuôi ở nớc khác
đợc coi là biện pháp chăm sóc thay thế
chỉ khi không thực hiện đợc việc gửi
lĩnh vực nuôi con nuôi và bảo vệ trẻ em./.
(1). Số lợng con nuôi Việt Nam đợc ngời Pháp
nhận chiếm tỉ lệ cao ở một số tỉnh, thành phố nh Hải
Dơng 90,4%; thành phố Hồ Chí Minh 69,9%; Bắc
Giang 54%; Cần Thơ 47,8%....
Tạp chí luật học - 27