BÁO CÁO PHÂN TÍCH THÂM HỤT THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN CỦA WTO - Pdf 27

Tầng 9, Tòa nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 04 62702158 Fax: 04 62702138
Email: ; Website: www.mutrap.org.vn
BÁO CÁO
PHÂN TÍCH THÂM HỤT THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VÀ
CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN CỦA WTO
MÃ HOẠT ĐỘNG: WTO-8
Phiên bản: Báo cáo cuối cùng
Hà Nội, 10/2009
Nhóm chuyên gia: Ông Peter Naray, Trưởng nhóm
Ông Paul Baker
Ông Trương Đình Tuyển, Chuyên gia chính
Ông Đinh Văn Ân, Chuyên gia chính
Ông Lê Triệu Dũng
Ông Ngô Chung Khanh
Báo cáo này được xây dựng với sự hỗ trợ của Liên minh châu Âu. Quan điểm trong báo
cáo là của các tác
giả, không phải là ý kiến chính thức của Liên minh châu Âu hay của Bộ Công
ThươngMỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................................................1
BÁO CÁO TÓM TẮT.....................................................................................................2
GIỚI THIỆU ...................................................................................................................9
PHẦN I – PHÂN TÍCH CÁN CÂN THANH TOÁN (BOP) TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ ...10
I.1. GIỚI THIỆU..................................................................................................10
I.2. TỔNG QUAN CÁN CÂN THANH TOÁN Ở VIỆT NAM............................10
I.2.1 Đặc điểm BOP ở Việt Nam............................................................................10
I.2.2 Diễn biến cán cân thương mại........................................................................15
I.3. SỰ BỀN VỮNG VÀ VẤN ĐỀ MANG TÍNH CƠ CẤU CỦA BOP ....................18
I.4. ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CHÍNH SÁCH ..............................................................19
I.4.1. Đề xuất biện pháp ngắn hạn ..........................................................................19
I.4.2. Đề xuất biện pháp dài hạn.............................................................................21

CAB Cán cân Tài khoản vãng lai trong Cán cân Thanh toán
EU Liên minh châu Âu
FDI Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài
FTA Thỏa thuận Thương mại Tự do
G20 Nhóm 20 nước
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
KAB Cán cân Tài khoản vốn trong Cán cân Thanh toán
MUTRAP Chương trình Hỗ trợ Thương mại Đa biên
US Hoa Kỳ
USBTA Hiệp định Thương mại Song phương Hoa Kỳ-Việt Nam
US$ Đôla Mỹ
VND Đồng Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
LDC Nước/Quốc gia kém phát triển
GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại2
BÁO CÁO TÓM TẮT
Kể từ 2002, ở Việt Nam đã xuất hiện thâm hụt thương mại gia tăng mang tính chất hệ
thống, đến nay đã đạt đến mức cao trong lịch sử. Thâm hụt thương mại mang tính cơ cấu
là gánh nặng lớn đối với Cán cân Thanh toán (BOP) của quốc gia, và kết quả là cán cân
vãng lai đã rơi vào tình trạng thâm hụt trong những năm gần đây. Mặc dù tình hình BOP
của Việt Nam không bị coi là đáng báo động, nhưng thực trạng này yêu cầu cần phân tích
sâu sắc về các nguyên nhân kinh tế và chính sách thương mại cũng như các bước đi để
loại bỏ bất cập này. Nghiên cứu này của MUTRAP ghi nhận sự thay đổi sâu sắc đối với
cơ cấu cũng như chức năng của nền kinh tế Việt Nam kể từ thời điểm bắt đầu quá trình
cải cách kinh tế xã hội chủ nghĩa vào giữa những năm 90 và việc tự do hóa đáng kể hoạt
động nhập khẩu là kết quả của việc Việt Nam trở thành thành viên WTO và ngày càng
tham gia nhiều hơn vào các thỏa thuận thương mại tự do song phương và khu vực. Quá
trình hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế thế giới cũng định hình lại môi trường chính
sách thương mại ở Việt Nam cũng như các cam kết quốc tế trong lĩnh vực thương mại tạo

thương mại. Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu tạm thời, được phép áp
dụng theo quy định của WTO, cũng đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng tổng thể cán cân
Biểu đồ i. Tình hình dự trữ quốc tế, 2002-2009
Nguồn: IMF (2009) Thống kê Tài chính Quốc tế, 9/2009; IMF (2009) Tham vấn Điều
khoản IV,
tháng 4
Ghi chú: * Tổng dự trữ thể hiện mức dự trữ vào 5/20093
thanh toán để đảm bảo được sự phù hợp với quy định của WTO. Nghiên cứu này xác
định quan điểm chủ đạo là sự mất cân đối về kinh tế vĩ mô là yếu tố quyết định cơ bản
dẫn đến tình hình cán cân thanh toán như hiện nay ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng nhấn
mạnh rằng mặc dù cán cân thương mại bị mất cân bằng cơ cấu, nhưng bản thân cán cân
thương mại không phải là nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm dự trữ quốc tế một các nhanh
chóng.
Hiện trạng cán cân vãng lai của Việt Nam chủ yếu bao gồm cán cân thương mại hàng hóa
và cán cân chuyển khoản, còn dịch vụ và thu nhập tương đối nhỏ. Chuyển khoản giảm
mạnh trong năm 2008, một
phần là do khủng hoảng tài
chính toàn cầu, nên kiều
hối giảm xuống, và thoái
đầu tư của cá nhân
1
Cán .
cân thu nhập bao gồm
chuyển lợi nhuận từ hoạt
động đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam thông thường
luôn ở trạng thái thâm hụt.
Thương mại dịch vụ có
quan hệ gắn kết chặt chẽ
với thương mại hàng hóa

tiếp nước ngoài không chính thức từ cá nhân bên ngoài thông qua người Việt Nam.
2
Thuật ngữ tài khoản vốn là thuật ngữ kinh tế chỉ các mục được ghi chép theo thuật ngữ kế
toán như tài khoản tài
chính trong cán cân thanh toán và phản ánh dòng nợ nước ngoài thuần (dòng vốn) vào và
ra khỏi Việt Nam.
Biểu đồ ii. Tình hình Tài khoản Vãng lai của Việt nam, 2000-09
-15,000
-10,000
-5,000
0
5,000
10,000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008e 2009f
U
S
$
M
i
l
oi
n
s
Transfers
Services
Income
Goods
Current
Account
Nguồn: IMF (2009) Thống kê Tài chính Quốc tế, 9/2009; IMF (2009) Tham vấn Điều

thâm hụt. Tác động tổng hợp của thâm hụt tài khoản vãng lai và cán cân tài khoản vốn
giảm xuống đã làm dự trữ quốc tế giảm xuống trong Quý II năm 2009.
Tình hình cán cân thanh toán của Việt Nam không bị coi là trầm trọng bởi một số lý do
nhất định. Thứ nhất, nghĩa vụ nợ ngắn hạn của Việt Nam có thể được thực hiện. Mức dự
trữ hiện nay cao hơn so với năm trước đồng thời nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn tương đối nhỏ,
vì vậy xét về ngắn và trung hạn nhu cầu đối với dự trữ quốc tế không lớn. Dự trữ hiện
nay đủ lớn để đảm bảo thanh toán nhập khẩu và sự mất cân đối thương mại của Việt Nam
cũng đang có những dấu hiệu được cải thiện trong năm 2009. Ngoài ra, luồng vốn quốc tế
có khả năng sẽ quay trở lại xu hướng như trước đây khi nền kinh tế thế giới phục hồi
trong năm 2010. Điều quan trọng là Việt Nam phải giành được niềm tin vào nền kinh tế
của mình từ đó hạn chế tối đa hiện tượng rút vốn. Để đạt được điều này, không chỉ cần ổn
định tình hình kinh tế vĩ mô ở Việt Nam mà còn cần đảm bảo môi trường đầu tư hấp dẫn.
Từ góc độ dài hạn hơn, tình hình cán cân thanh toán của Việt Nam chỉ thực sự bền vững
nếu có đủ năng lực trả nợ nước ngoài bằng thặng dư thương mại trong tương lai. Mất cân
đối cơ cấu cần được giải quyết để đảm bảo rằng cán cân thanh toán không trở nên báo
động. Trước hết là cần đối mặt với các bất cập mang tính cơ cấu gắn với thâm hụt thương
mại. Lý do chính dẫn tới thâm hụt thương mại lớn là việc Việt Nam nhập khẩu một lượng
lớn nguyên liệu thô và đầu vào phục vụ sản xuất xuất khẩu. Nâng cao vai trò của các
ngành sản xuất trong nước và tăng tỷ lệ giá trị gia tăng của sản xuất trong nước, thì tỷ lệ
nhập khẩu để xuất khẩu sẽ giảm xuống. Các biện pháp bảo hộ do các nước thành viên
G20 áp dụng kể từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể ảnh hưởng xấu hơn
nữa tới kết quả xuất khẩu của Việt Nam, hiện nay một số ngành đã chịu ảnh hưởng tiêu
cực của các biện pháp bảo hộ tại thị trường nước thứ ba.
Thâm hụt thương mại tăng cao cũng xuất phát từ việc cắt giảm nhanh chóng hàng rào bảo
hộ kể từ khi hội nhập với ASEAN, tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN,
ASEANTrung Quốc, ASEAN- Ấn Độ, ASEAN- Hàn Quốc và đàm phán để trở thành
thành viên
của WTO vào năm 2007. Việt Nam hiện tiếp tục cân nhắc các thỏa thuận thương mại
song phương khác (BTA) thông qua ASEAN và đây cũng là cơ sở để nhập khẩu tăng lên.
Việc đánh giá kỹ lưỡng các hiệp định như vậy và lợi ích cho Việt Nam từ các hiệp định

vốn quy mô lớn và tạo sức ép làm cho đồng tiền Việt Nam mất giá.
Điểm cuối cùng, cần hết sức lưu ý rằng bất cập về cán cân thanh toán thực chất là bất cập
về cơ cấu kinh tế và chính sách vĩ mô, vì vậy giải pháp tốt nhất chính là cải cách cơ cấu
và các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, như chính sách tài khóa hoặc tiền tệ, hoặc giảm
bớt tổng cầu nội địa (và như vậy sẽ cải thiện cán cân thương mại khi nhập khẩu giảm
bớt), hoặc thay đổi cơ cấu chi tiêu từ hàng nhập khẩu sang hàng sản xuất trong nước,
thông qua hạ thấp tỷ giá thực của đồng tiền. Đây là phương pháp tiếp cận hợp lý hơn để
đối phó với bất cập về cán cân thanh toán.
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
Các quy định của WTO liên quan đến Cán cân Thanh toán
Việt Nam đã gia nhập WTO, điều đó có nghĩa là Việt Nam phải tuân thủ các quy định và
thủ tục của tổ chức này liên quan đến bản chất, hình thức và mức độ của các biện pháp tự
vệ đối phó với bất cập tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán của mình.
Điều XVIII:B của GATT 1994, được diễn giải trong “Tuyên bố về các Biện pháp
Thương mại áp dụng vì mục đích Cán cân Thanh toán”, thông qua vào 28 tháng 11 năm
1979 (Tuyên bố) và “Cách hiểu về Điều khoản Cán cân Thanh toán của GATT 1994”
(Cách hiểu) đặt ra quy định áp dụng với các nước đang phát triển muốn vận dụng các
điều khoản về BOP của WTO. Quy định cơ bản áp dụng với các nước đang phát triển nêu
rõ “nhằm tự vệ đối phó với bất cập tài chính đối ngoại và đảm bảo dự trữ quốc tế đủ để
thực hiện chương trình phát triển kinh tế, có thể… kiểm soát tổng mức nhập khẩu…” Các
biện pháp BOP chỉ được phép áp dụng tạm thời, dựa vào cơ sở giá cả (ví dụ như áp dụng
phụ thu nhập khẩu), minh bạch và áp dụng chung đối với toàn bộ hàng hóa nhập khẩu.
Mức độ hạn chế nhập khẩu không được vượt quá mức cần thiết để giải quyết bất cập về
BOP.
Đối với các vấn đề về BOP, WTO hợp tác chặt chẽ với IMF. Theo Điều XV: 2 của
GATT 1994, WTO “sẽ chấp nhận kết quả phân tích số liệu và thực tiễn do Quỹ đưa ra
liên quan đến tỷ giá ngoại hối, dự trữ tiền tệ và cán cân thanh toán, và sẽ chấp nhận kết
luận của Quỹ về việc một nước thành viên thực hiện biện pháp về tỷ giá có phù hợp với 6
Thỏa thuận chung của Quỹ Tiền tệ Quốc tế hay không…” WTO chấp nhận kết luận của
IMF về nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng dự trữ quốc tế, về việc xác định

tế vĩ mô để giải quyết bất cập về BOP. Trong giai đoạn 2001-2008, không có cuộc tham
vấn nào về BOP tại Ủy ban BOP. Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, Ecuador và Ukraine
thông báo về biện pháp hạn chế vì mục đích BOP của mình và tham vấn tại Ủy ban BOP.
Cả Ukraine và Ecuador đều nhận được sự lạnh nhạt của Ủy ban BOP và bị yêu cầu loại
bỏ tất cả các biện pháp hạn chế trong vòng một vài tháng.
Căn cứ kinh nghiệm 14 năm qua của WTO, có thể rút ra kết luận rằng trong khung khổ
WTO, một thành viên tham vấn tại Ủy ban BOP nhận được sự cảm thông ít hơn nhiều so
với những năm GATT còn tồn tại. Các nước áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu
thường được yêu cầu loại bỏ các biện pháp của mình trong thời gian rất ngắn và được
khuyến nghị sử dụng các biện pháp kinh tế vĩ mô để giải quyết bất cập về BOP. Trong
nhiều trường hợp, thành viên bảo lưu quyền của mình theo quy định của WTO với ý
nghĩa như một thông điệp giành cho các nước tham vấn rằng trong trường hợp không
tuân thủ họ sẽ vận dụng quy định về giải quyết tranh chấp. Xu hướng hiện nay như một 7
lời cảnh báo với tất cả các nước đang cân nhắc áp dụng biện pháp hạn chế thương mại
trong khung khổ WTO rằng họ sẽ nhận được rất ít sự thông cảm từ Ủy ban BOP.
CÁC KHUYẾN NGHỊ VỚI CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
Báo cáo đưa ra các kết luận chính như sau:
 Việt Nam hiện nay chưa rơi vào tình trạng “khó khăn về cán cân thanh toán”
hoặc “tình trạng nghiêm trọng về cán cân thanh toán” theo nghĩa nêu trong quy
định của WTO. Vì vậy, với tình hình BOP hiện nay, Việt Nam không nên áp
dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu vì mục đích BOP;
 Trong bối cảnh hiện nay, nếu Việt Nam vận dụng các điều khoản BOP của WTO
và áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu vì mục đích BOP, thì phản ứng từ
các bên tiếp nhận nhiều khả năng sẽ là tiêu cực và Việt Nam có thể bị yêu cầu
xóa bỏ các biện pháp này ngay lập tức, đi kèm với nguy cơ bị vận dụng điều
khoản giải quyết tranh chấp của WTO;
 Việc áp dụng hạn chế nhập khẩu vì mục đích BOP có thể ảnh hưởng xấu tới uy
tín của Việt Nam là một nước có môi trường kinh tế có khả năng đoán định, có
thể ảnh hưởng quan hệ với các đối tác FTA và đối tác thương mại chủ chốt khác,
bao gồm cả các nhà đầu tư nước ngoài, với những hậu quả nghiêm trọng. Tác

vệ trong các FTA;
 Cân nhắc áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
 Cân nhắc áp dụng thuế đối kháng theo Hiệp định WTO về Trợ cấp và Thuế Đối
kháng;
 Cân nhắc sử dụng Điều XXVIII GATT 1994 (Sửa đổi Biểu cam kết) để đàm phán
lại cam kết thuế.9
GIỚI THIỆU
Nằm trong mục tiêu chung “Tăng cường năng lực của Bộ Công Thương trong việc điều
phối và thực hiện các cam kết WTO,” báo cáo của Hoạt động WTO-8 do Dự án Hỗ trợ
Thương mại Đa biên giai đoạn III (EU – Việt Nam MUTRAP III) tài trợ là nghiên cứu
các lý do chính dẫn tới thâm hụt thương mại lớn đối với Việt nam, ảnh hưởng của thâm
hụt thương mại đối với tình hình cán cân thanh toán của quốc gia và làm rõ tác động của
gia nhập WTO và các biện pháp tự do hóa thương mại khác được thực hiện trong vòng
mấy năm qua đối với thâm hụt thương mại ngày càng gia tăng. Nghiên cứu này đưa ra
tổng quan về các quy định liên quan đến BOP của WTO (Điều XII, XV và XVIII:B của
GATT 1994) và xem xét kinh nghiệm hoạt động của Ủy ban BOP của WTO.
Báo cáo này đặt 2 mục tiêu cụ thể bao gồm (1) hỗ trợ Bộ Công Thương phân tích rõ
nguồn gốc kinh tế vĩ mô của tình trạng thâm hụt thương mại quy mô lớn và đề xuất các
biện pháp kinh tế phù hợp để xử lý bất cập và (2) trình bày các biện pháp thuộc chính
sách thương mại cần cân nhắc áp dụng để giảm bớt áp lực từ hiện tượng gia tăng nhập
khẩu do tự do hóa thương mại. Nghiên cứu này có thể hỗ trợ Chính phủ Việt Nam áp
dụng các biện pháp được coi là phù hợp với nghĩa vụ quốc tế và sẽ giúp loại bỏ bất cập
mà không gây ra thiệt hại kinh tế cho đất nước hay sự phản đối từ các đối tác thương mại.
Nghiên cứu phân tích kinh nghiệm trong thập kỷ trước của các thành viên GATT/WTO
khi áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại vì mục đích BOP. Điểm đáng chú ý đối
với Việt Nam là kể từ thập kỷ 70, việc vận dụng các điều khoản BOP của GATT/WTO
có xu hướng giảm xuống và Ủy ban BOP trên thực tế đã trở nên nghiêm khắc hơn đối với
các biện pháp hạn chế nhập khẩu vì mục đích BOP. Nội dung phân tích và thông tin nêu
trong nghiên cứu này sẽ giúp các cơ quan chức năng xây dựng chính sách và các biện
pháp thúc đẩy sự chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam theo hướng kinh tế thị trường xã

I.2.1 Đặc điểm BOP ở Việt Nam
Cán cân thanh toán là hệ thống kế toán ghi chép lại các giao dịch quốc tế do một quốc gia
thực hiện với thế giới bên ngoài. Tài khoản vãng lai bao gồm giao dịch thuần về hàng
hóa, dịch vụ, thu nhập và chuyển khoản
3
, còn tài khoản vốn bao gồm đầu tư trực tiếp
nước ngoài thuần, đầu tư gián tiếp thuần và các dòng luân chuyển tài chính khác
4
Cuối .
cùng là sự thay đổi dự trữ quốc tế sẽ cân bằng với cán cân tài khoản vảng lai và tài khoản
vốn
5
(xem Biểu đồ 1-3).

3
Trong trường hợp Việt Nam, thu nhập thuần chỉ bao gồm lợi nhuận chuyển về nước từ
hoạt động FDI của công ty mẹ.
Chuyển khoản thuần bao gồm kiều hối chuyển về cho gia đình ở Việt Nam và đầu tư
không chính thức qua gia đình
4
Tài khoản vốn là thuật ngữ một số nhà kinh tế học quen gọi theo ý nghĩa bao gồm các
luồng vốn. Tuy nhiên, theo
chuẩn mực hạch toán cán cân thanh toán, tài khoản vốn thực chất được gọi là tài khoản tài
chính (IMF, 1993).
5
Sai số thuần là mục thể hiện các sai số thống kê và thống kê thiếu. Giá trị sai số thuần
trong cán cân thanh toán theo
quý ở Việt Nam là khá lớn do phản ánh không đầy đủ các giao dịch tài chính. 11
Biểu đồ 1. Thành phần Tài khoản Vãng lai Biều đồ 2. Thành phần Tài khoản Vốn
Nguyệt làm chú giải tiếng Việt cho biểu đồ này.

Mặc dù cán cân vãng lai
hình thành xu hướng đi
xuống rất rõ, nhưng giá trị
có biến động khá lớn, trong
đó đột biến xảy ra trong
thời gian Khủng hoảng Tài
chính châu Á 1997
7
(xem
Biểu đồ 4). Đáng chú ý là
kể từ những năm 80 thì Hoa
Kỳ luôn ghi nhận thâm hụt
lớn còn EU thì có sự biến
động mang tính chu kỳ
xung quanh mức 0 của cán
cân vãng lai. Tính chất biến
động lớn của cán cân vãng
lai ở Việt Nam về cơ bản giống các nước các nước ASEAN 5
8
trước khủng hoảng châu
Á, tuy nhiên ASEAN 5 đã giải quyết được vấn đề này kể từ Khủng hoảng Tài chính châu
Á và duy trì thặng dư. Việc chuyển từ thâm hụt sang thặng dư thực ra là kết quả của quá
trình các nước này dịch chuyển dần lên mức giá trị gia tăng cao hơn trong công nghiệp
sản xuất chế tạo và đạt được cải thiện đáng kể về năng suất lao động. Việt Nam thì năm
nào cũng thâm hụt kể từ thập kỷ 1980, chỉ trừ 3 năm nền kinh tế Đông Nam Á đi xuống
nghiêm trọng (1999-2001).
Cán cân tài khoản vãng lai chủ yếu bao gồm cán cân thương mại hàng hóa (thâm
hụt 12,3 tỷ đôla Mỹ năm
2008) và cán cân chuyển
khoản (7,3 tỷ đôla Mỹ), còn

-15,000
-10,000
-5,000
0
5,000
10,000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008e 2009f
U
S
$
M
i
l
i
o
n
s
Transfers
Services
Income
Goods
Current
Account
Nguồn: IMF (2009) Thống kê Tài chính Quốc tế, 9/2009; IMF (2009) Tham vấn Điều
khoản IV
tháng Tư
Biều đồ 4. Diễn biến Tài khoản Vãng lai của Việt Nam và một số
nước, giai đoạn 1980-2014
-15
-10

vào khá lớn, đạt đỉnh là 7,8
tỷ đôla Mỹ trong năm 2008.
Do đầu tư trên thế giới nói
chung đều giảm, FDI dự
kiến chỉ đạt được 1/2 mức
nói trên trong năm 2009
(xem Biểu đồ 6). Việt Nam
tiếp cận với vốn vay nợ
ngắn hạn, dưới hình thức
đầu tư gián tiếp, có xu
hướng tăng lên (mặc dù
biến động khá lớn). Tuy
nhiên, niềm tin vào thị
trường Việt Nam bị suy
giảm mạnh trong năm 2008
và luồng vốn gián tiếp giảm mạnh
12
Số liệu sơ bộ quý 2 năm 2009 cho thấy đầu tư gián .
tiếp tiếp tục giảm mạnh, làm cho tài khoản vốn bị thâm hụt. Tác động tổng quát của hiệu
ứng thâm hụt kép tài khoản vãng lai và tài khoản vốn làm cán cân thanh toán tổng thể
tính riêng cho năm 2009 bị thâm hụt, giảm dự trữ quốc tế trong quý 2 năm 2009. Tuy
nhiên, dự báo cả năm tài khoản tài chính sẽ thặng dư mặc dù tài khoản vãng lai thì vẫn
lớn hơn khoản thặng dư này, do vậy dự trữ sẽ giảm đi 2,3 tỷ đôla Mỹ trong năm 2009
(xem Bảng 1).
Mặc dù dự trữ giảm xuống,
tình hình cán cân thanh
toán của Việt Nam vẫn
không bị coi là trầm trọng
bởi một số lý do. Thứ nhất,
nghĩa vụ nợ ngắn hạn của

20,000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008e 2009f
U
S
$
M
i
l
oi
n
s
Direct
Portfolio
Other
Financial
Account
Nguồn: IMF (2009) Thống kê Tài chính Quốc tế, 9/ 2009; IMF (2009) Tham vấn Điều
khỏan IV,
Tháng Tư
Biểu đồ 7. Diễn biến dự trữ quốc tế của Việt Nam, 2000-09
Nguồn: IMF (2009) Thống kê Tài chính Quốc tế, 9/2009; IMF (2009) Tham vấn Điều IV,
tháng 4
Ghi chú: * Tổng dự trữ thể hiện mức dự trữ vào 5/200914
với dự trữ quốc tế không lớn. Dự trữ hiện nay lớn hơn so với giai đoạn 2002 và 2006
(xem Biểu đồ 7), đủ lớn để đảm bảo thanh toán 3 tháng nhập khẩu của năm kế tiếp. Mất
cân đối thương mại của Việt Nam cũng đang có những dấu hiệu được cải thiện trong năm
2009.
Luồng vốn quốc tế có khả năng sẽ quay trở lại xu hướng như trước đây khi nền kinh tế
thế giới phục hồi trong năm 2010. Điều quan trọng là Việt Nam phải giành được niềm tin
vào nền kinh tế của mình từ đó hạn chế tối đa hiện tượng rút vốn. Để đạt được điều này,

không

không

không
có -65 -85 -150
không

không

Đầu tư trực tiếp vào Việt
Nam 1,298 1,300 1,400 1,450 1,610 1,954 2,400 6,700
không

không

Đầu tư trực tiếp ròng 1,298 1,300 1,400 1,450 1,610 1,889 2,315 6,550 7,800 4,000
Đầu tư gián tiếp ra nước
ngoài
Cổ phiếu
Các công cụ nợ
Đầu tư gián tiếp vào Việt
Nam
không

không

không

không


không

Đầu tư vào sản phẩm tài
chính phái sinh
Đầu tư vào sản phẩm tài
chính phái sinh ra nước
ngoài
Đầu tư vào sản phẩm tài
chính phái sinh tại Việt Nam
Các tài sản đầu tư khác ra
nước ngoài -2,089 1,197 624 1,372 35 -634 -1,535 2,623
không

không

Cơ quan quản lý tiền tệ
Chính phủ
Ngân hàng -2,089 -1,197 624 1,372 35 -634 -1,535 2,623
không

không

Các ngành khác15
Các tài sản đầu tư khác vào
Việt Nam 475 268 66 457 1,162 967 995 2,124
không

không


chóng. Cả nhập khẩu và xuất khẩu đều tăng nhanh chính là kết quả của cải cách thị
trường được Việt Nam thực
hiện từ giữa thập kỷ 90, thể
hiện thông qua ký kết các
hiệp định thương mại song
phương với các đối tác khu
vực, gia nhập WTO, sức
cạnh tranh hàng xuất khẩu
tăng lên, đầu tư trực tiếp
nước ngoài chảy vào ở mức
cao, nhập khẩu máy móc và
công nghệ từ nước ngoài và
các dự án cơ sở hạ tầng quy
mô lớn đòi hỏi nhiều cấu
phần phải nhập khẩu. Gần
đây, cơ cấu nhập khẩu đã
bắt đầu xuất hiện một số
mặt hàng tiêu dùng xa xỉ như ôtô, mặc dù tỷ trọng những mặt hàng này còn khá nhỏ trong
tổng kim ngạch nhập khẩu.
Như đã minh họa, hệ số đồng biến giữa xuất khẩu và nhập khẩu đã lên tới 99.7%
13
Điều .
này chứng tỏ cơ cấu đầu tư của Việt Nam chưa thực sự mang lại giá trị gia tăng, với
lượng đầu tư ít ỏi vào các lĩnh vực hỗ trợ phát triển các ngành phụ trợ hoặc dây chuyền

13
Hệ số này là hệ số đồng biến Pearson dùng để xác định chiều và mức độ của mối quan hệ
tuyến tính giữa hai biến số
nhập khẩu và xuất khẩu – con số này là do chuyên gia tính.
Biểu đồ 8. Diễn biến cán cân thương mại hàng hoá, 2000-09

cầu nhập khẩu để đầu tư trong khi không tạo ra tiềm năng xuất khẩu. Kể từ giữa những
năm 2000, FDI tập trung vào công nghiệp chế tạo phục vụ xuất khẩu, làm gia tăng cả
nhập khẩu (nhập đầu vào nguyên liệu, bán thành phẩm và máy móc thiết bị) lẫn xuất
khẩu. Trong một vài năm gần đây, FDI có dấu hiệu tập trung nhiều hơn vào xây dựng, du
lịch và thị trường bất động sản, làm tăng thêm nhu cầu nhập khẩu vật liệu xây dựng và
máy móc công nghiệp nặng, đồng thời chỉ tạo ra chút ít lợi thế cho tăng xuất khẩu mà
thôi. Các dự án cơ sở hạ tầng lớn của khu vực tư nhân và nhà nước, ví dụ như nâng cấp
cảng hoặc đầu tư cơ sở hạ tầng là đường xá, nhiều khả năng sẽ làm gia tăng thâm hụt
thương mại nhưng sẽ gián tiếp nâng cao năng lực xuất khẩu trong tương lai.
Một vấn đề khác thường được các nhà làm chính sách coi là nguyên nhân làm cán cân
thương mại xấu đi đó chính là chính sách giảm thuế nhập khẩu, đã được thực hiện theo
các cam kết trong thoả thuận thương mại khu vực và trong WTO. Một vài nghiên cứu
kinh tế đã được thực hiện nhằm xác định tác động của tự do hoá thương mại đối với cán
cân thương mại và cho những kết quả tương đối khác nhau
14
Trong trường hợp Việt .
Nam, tác động của không chỉ tự do hóa thương mại mà cả của các yếu tố khác như làn
sóng đầu tư, càng làm cho thâm hụt thương mại tăng lên.
Có một số bất cập mang tính chất cơ cấu tồn tại đằng sau sự mất cân đối thương mại của
Việt Nam khởi nguồn từ sự hạn chế về năng lực xuất khẩu cũng như sử dụng nhập khẩu.
Xuất khẩu có những khiếm khuyết nhất định làm hạn chế khả năng gia tăng xuất khẩu
nhanh hơn so với nhập khẩu, đó là:
 Việt Nam chưa thực sự hội nhập hoàn toàn vào chuỗi giá trị trong khu vực và chỉ
đóng vai trò là nơi thực hiện hoạt động lắp ráp cho các tập đoàn đa quốc gia chứ
chưa trở thành cơ sở sản xuất với giá trị gia tăng cao.
 Tỷ lệ nhập khẩu là cấu phần trong xuất khẩu còn rất cao, chiếm khoảng 2/3 giá
xuất xưởng.
 Hàng hoá xuất khẩu chưa đa dạng, tập trung vào một số ngành hàng như dầu thô,
dệt may, thuỷ sản, nông sản và giày dép. Do vậy, Việt Nam dễ chịu ảnh hưởng
tiêu cực khi có sự biến động lớn về giá hàng hoá cũng như biến động trong nhu

 Áp dụng thuế nhập khẩu thấp hơn đối với thương mại hàng hoá theo FTA trong
nội khối ASEAN (AFTA), FTA giữa ASEAN với Trung Quốc (ACFTA), và việc
gia nhập WTO trong 2007, làm cho hàng nhập khẩu trở nên rẻ đi tương đối so với
các sản phẩm trong nước và phù hợp hơn với túi tiền của dân chúng nên đã tạo ra
tỷ lệ tiêu dùng hàng nhập khẩu cao hơn.18
I.3. SỰ BỀN VỮNG VÀ VẤN ĐỀ MANG TÍNH CƠ CẤU CỦA BOP
Như đã đề cập trong mục I.2.1 ở trên, vay mượn vốn nước ngoài để đáp ứng yêu cầu tăng
mức đầu tư trong nước nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong tương lai của Việt Nam là
một mục tiêu phát triển tích cực. Việt Nam cần nguồn lực con người và vốn cao hơn nữa
để cạnh tranh trên thị trường thế giới với các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, ví dụ
như sản phẩm điện tử.
Đồng thời, Việt Nam vẫn là nền kinh tế chuyển đổi có thu nhập tương đối thấp cần phải
đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng và con người để nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong dài hạn. Cần
đầu tư vào bệnh viện, trường học, dạy nghề, phát triển hành lang giao thông và dịch vụ
hỗ trợ ở Việt Nam, giảm bớt chi phí dịch vụ tiện ích và viễn thông, củng cố môi trường
kinh doanh và tăng cường trình độ các trung tâm nghiên cứu phát triển ở Việt Nam. Quy
mô nền kinh tế còn nhỏ nên tổng tiết kiệm trong nước còn thấp khó có thể đủ để đáp ứng
nhu cầu vốn của các dự án đầu tư này. Vì vậy, cần thu hút đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ
để có nguồn đáp ứng nhu cầu vốn của các dự án này. Quá trình này tất yếu sẽ làm cán cân
vãng lai bị thâm hụt.
Cán cân thanh toán về cơ bản vẫn bền vững trong dài hạn nếu Việt Nam có đủ khả năng
tạo ra thặng dư thương mại trong tương lai để tạo ra tích luỹ dự trữ ngoại hối dùng để trả
nợ nước ngoài. Muốn đảm bảo được yêu cầu này Việt Nam sẽ phải đảm bảo thực hiện tốt
các quyết định đầu tư và sử dụng khôn ngoan nguồn vốn nợ nước ngoài.
Trong ngắn hạn, cán cân thanh toán sẽ trở nên không bền vững nếu Việt Nam rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ hay không đủ ngoại tệ để thanh toán cho
hoạt động nhập khẩu vì dự trữ quốc tế có thể rơi xuống mức quá thấp. Mức dự trữ quốc tế
được coi là thấp khi chỉ đủ 3 tháng nhập khẩu, tuy nhiên Việt Nam đã từng có mức dự trữ
thấp hơn so với mức này mà vẫn không gặp khó khăn cán cân thanh toán do nợ nước
ngoài được giữ ở mức thấp.

cán cân thương mại là không nhiều, vì theo dự báo của IMF (tháng 10 năm 2009
nhu cầu nhập khẩu của các nền kinh tế phát triển chỉ tăng 1,5%.
Tuy vậy, một số điểm yếu trong cán cân thanh toán hiện nay cần được quan tâm giải
quyết. Bao gồm:
 Gần đây, FDI tập trung vào các lĩnh vực phi sản xuất của nền kinh tế có thể dẫn
tới hậu quả là cán cân thương mại không được cải thiện.
 Sự phụ thuộc vào nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu ở Việt Nam cần được
giải quyết trong dài hạn để đảm bảo cán cân tài khoản vãng lai sẽ chuyển sang
thặng dư trong tương lai.
 Gói kích cầu từ ngân sách đã đạt tới mức 6,8% GDP ở Việt Nam trong năm 2009
sẽ làm gia tăng thâm hụt thương mại nhưng cũng sẽ ngăn chặn được suy giảm
tăng trưởng và không chịu sức ép giảm phát bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Tuy vậy, thâm hụt ngân sách phải đảm bảo tính bền vững trong dài hạn.
 Đồng Việt Nam được dự báo sẽ mất giá, và vào cuối năm 2008, tỷ giá thực đã
tăng lên. Sự giảm giá tiền đồng có thể dẫn tới hậu quả là nghĩa vụ nợ trở nên cao
hơn (các khoản nợ bằng đồng đôla Mỹ), làm tăng giá tương đối của hàng nhập
khẩu (do đó làm cho giá xuất khẩu tăng lên vì xuất khẩu được cấu thành với tỷ lệ
cao là nguyên liệu nhập khẩu), và có thể dẫn tới việc dòng đầu tư gián tiếp đảo
chiều.
 Các biện pháp bảo hộ đang gia tăng ở nước thứ ba sẽ hạn chế tiềm năng xuất khẩu
của Việt Nam và cần được theo dõi thật sâu sát.
I.4. ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CHÍNH SÁCH
Khó khăn về cán cân thanh toán ở Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ cơ cấu kinh tế (là
hệ quả của cơ cấu đầu tư) và các điều kiện kinh tế vĩ mô. Vì vậy, tái cấu trúc nền kinh tế,
chuyển đổi mô hình tăng trưởng và sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô chính là các giải
pháp phù hợp nhất để đối phó tời tình trạng hiện nay hơn là các công cụ chính sách
thương mại, mặc dù công cụ chính sách thương mại có thể dùng để giải quyết khó khăn
của một số ngành nghề cụ thể. Các biện pháp được đề xuất dưới đây để đối phó với khó
khăn cán cân thanh toán được phân loại theo tính chất của vấn đề bất cập là ngắn hạn hay
dài hạn.

thực phẩm chế biến. Việt
Nam cũng có thể vận dụng
các biện pháp hạn chế nhập khẩu trên cơ sở khó khăn về cán cân thanh toán theo các điều
kiện chặt chẽ, sẽ được nêu tại Phần II của nghiên cứu này. Tuy nhiên, việc áp dụng thuế
suất cao hơn trong khung cam kết được phép hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế nhập
khẩu trên cơ sở điều kiện khó khăn về cán cân thanh toán sẽ đi kèm với các ảnh hưởng
tiêu cực lâu dài cho Việt Nam. Tác động của các lựa chọn chính sách này bao gồm (i) ảnh
hưởng tới kết quả xuất khẩu vì xuất khẩu phụ thuộc khá chặt chẽ vào nhập khẩu; (ii) làm

Trích đoạn xuất biện pháp dài hạn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status