nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003
3
ghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX đề ra nhiệm vụ cho Đảng và
Nhà nớc ta trong giai đoạn tới là xây dựng
Nhà nớc pháp quyền x hội chủ nghĩa, x
hội công bằng, dân chủ và văn minh. Để
thực hiện thành công mục tiêu này của
Đảng đòi hỏi trong thời gian tới chúng ta
phải tiếp tục không ngừng phát huy dân
chủ, bảo đảm quyền lực nhà nớc thuộc về
nhân dân.
Hơn 50 năm qua, dới sự lnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam, nền dân chủ x
hội chủ nghĩa đ đợc xây dựng và đang
từng bớc đợc hoàn thiện. Hiến pháp là
một trong những yếu tố pháp lí cơ bản tạo
nền móng cho việc xây dựng, phát triển và
hoàn thiện nền dân chủ x hội chủ nghĩa.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nớc có
hiệu lực pháp lí cao nhất đồng thời Hiến
pháp là phơng tiện pháp lí cao nhất thể
hiện t tởng của Đảng cộng sản Việt Nam
giáo. Ngoài ra, Hiến pháp còn dành toàn
bộ Chơng II để quy định các quyền tự
do, dân chủ cho công dân Việt Nam.
Kế thừa và phát huy những giá trị dân
chủ của Hiến pháp 1946, các bản Hiến pháp
sau này của Nhà nớc Việt Nam x hội chủ
N
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nớc
Trờng đại học luật Hà Nội
TS. Vũ Hồng Anh * nghiên cứu - trao đổi
4
Tạp chí luật học số 3/2003
nghĩa đều khẳng định nguyên tắc quyền lực
nhà nớc thuộc về nhân dân đồng thời còn
thiết lập cơ chế bảo đảm sao cho việc thực
thi quyền lực nhà nớc phục vụ cho lợi ích
của nhân dân và luôn nằm dới sự kiểm
soát của nhân dân.
Dới chế độ ta, nhân dân thực hiện quyền
lực nhà nớc thông qua hai hình thức cơ bản
là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
I. Hình thức dân chủ trực tiếp
Dân chủ trực tiếp là hình thức nhân dân
việt của nhà nớc x hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, các cuộc bầu cử vừa qua cho thấy đại
bộ phận quần chúng nhân dân cha đợc
tham gia vào giai đoạn đề cử ứng cử viên;
phạm vi lựa chọn đại biểu trong số ứng cử
viên của cử tri bị hạn chế bởi vì tỉ lệ chênh
lệch giữa đại biểu và ngời ứng cử rất thấp;
cử tri không hoàn toàn nắm đầy đủ thông
tin về tất cả các ứng cử viên trong đơn vị
bầu cử, đặc biệt đối với những ứng cử viên
do trung ơng giới thiệu về địa phơng; hiện
tợng vi phạm pháp luật bầu cử nh bầu hộ,
bầu thay còn diễn ra phổ biến.
Trong điều kiện nền kinh tế x hội ngày
càng phát triển, trình độ văn hoá và nhận
thức chính trị trong nhân dân ngày càng
đợc nâng lên một cách rõ rệt, đòi hỏi
chúng ta phải không ngừng đổi mới, hoàn
thiện chế độ bầu cử. Việc cải cách chế độ
bầu cử phải đợc thực hiện một cách đồng
bộ từ khâu chia đơn vị bầu cử, ấn định số
lợng đại biểu cho mỗi đơn vị bầu cử, giới
thiệu ứng cử viên, hiệp thơng cho đến giai
đoạn vận động tranh cử để tạo điều kiện
cho cử tri tích cực tham gia vào quá trình
bầu cử, bảo đảm mở rộng phạm vi ngời
ứng cử cho cử tri lựa chọn, bảo đảm cho cử
tri nắm đợc đầy đủ các thông tin về ứng cử
viên, khắc phục tình trạng vi phạm pháp
luật về bầu cử. Ngoài ra, trong thời gian tới
nhất. ở Việt Nam, các Hiến pháp 1946,
1959, 1980, 1992 không đề cập nguyên tắc
uỷ nhiệm th nhng cho phép cử tri bi
nhiệm đại biểu dân cử khi đại biểu đó
không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của
nhân dân. Tuy nhiên, Hiến pháp cũng nh
các văn bản luật khác cha có điều khoản
nào xác định đại biểu phạm phải hành vi
hay thực hiện hoạt động nh thế nào sẽ bị
coi là không xứng đáng với sự tín nhiệm
của nhân dân. Điều này dẫn đến những
khó khăn nhất định khiến cho chế độ cử
tri bi nhiệm đại biểu không thể thực
hiện đợc trong thực tế.
Hiến pháp hiện hành bổ sung thêm quy
định cho phép cơ quan dân cử bi nhiệm
những đại biểu thành viên không còn xứng
đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
(2)
Thực
tế những lần bi nhiệm đại biểu Quốc hội,
đại biểu hội đồng nhân dân cho thấy những
đại biểu bị bi nhiệm vi phạm kỉ luật không
phải trên cơng vị đại biểu dân cử mà trên
cơng vị là ngời quản lí, lnh đạo, kinh
doanh hoặc cơng vị khác. Do đó, việc bi
nhiệm những cá nhân đó cha thể hiện đầy
đủ tinh thần của chế độ bi nhiệm đại biểu
dân cử. Muốn cho chế độ bi nhiệm đại
biểu thực sự trở thành một trong những
Tạp chí luật học số 3/2003
Mặt khác, thủ tục thực hiện chế độ cử
tri bi nhiệm đại biểu cần phải đợc quy
định trong văn bản luật riêng chứ không chỉ
đợc điều chỉnh bởi một vài điều trong Luật
bầu cử nh hiện nay. Bởi vì, thủ tục bi
nhiệm đại biểu rất phức tạp và chế độ cử tri
bi nhiệm đại biểu dân cử cũng có ý nghĩa
chính trị nh chế độ cử tri bầu ra ngời đại
diện của mình;
Thứ hai, chỉ áp dụng chế độ cơ quan
dân cử bi nhiệm đại biểu thành viên của
mình khi đại biểu đó không còn xứng đáng
với sự tín nhiệm của nhân dân nhng vẫn
xây dựng cơ chế để nhân dân có thể tham
gia ở mức độ nhất định vào thủ tục này.
Phơng án này đ đợc Hiến pháp năm
1946 đề cập. Theo quy định của Điều 41
Hiến pháp năm 1946, Nghị viện phải xét
vấn đề bi miễn nghị viên khi nhận đợc đề
nghị của một phần t tổng số cử tri tỉnh hay
thành phố đ bầu ra nghị viên đó. Trong
giai đoạn hiện nay, để áp dụng phơng án
này cần quy định rõ nhiệm vụ của đại biểu,
xác định rõ những việc đại biểu không đợc
làm. Đây chính là cơ sở để cử tri căn cứ vào
đó đánh giá mức độ tín nhiệm của mình đối
với đại biểu.
3. Đối với chế độ gặp gỡ, tiếp xúc cử
4. Đối với quyền tham gia thảo luận
các vấn đề chung của cả nớc và địa
phơng, biểu quyết khi Nhà nớc tổ chức
trng cầu ý dân
Trong thời gian qua, Nhà nớc đ tổ
chức nhiều hoạt động lấy ý kiến đóng góp
của nhân dân vào việc xây dựng Hiến pháp
và một số văn bản luật. Mặc dù vậy, cho
đến nay vẫn cha có văn bản pháp luật nào
quy định cụ thể những vấn đề nào là vấn đề
chung của cả nớc, trớc khi cơ quan nhà
nớc ban hành Hiến pháp hay văn bản luật
nào đó cần phải đa ra lấy ý kiến đóng góp
của nhân dân; thủ tục lấy ý kiến đóng góp
của nhân dân đợc tiến hành ra sao; cơ
quan nhà nớc nào chịu trách nhiệm thực nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003
7
hiện nhiệm vụ này Chính vì lí do nói trên
mà phạm vi những vấn đề đợc đa ra tham
khảo ý kiến của nhân dân chỉ giới hạn ở
một số văn bản pháp luật. Thiết nghĩ trong
thời gian tới chúng ta cần phải xây dựng và
ban hành văn bản luật quy định cụ thể về
vấn đề này nhằm mở rộng hơn nữa phạm vi
những vấn đề nhân dân đợc quyền tham
pháp lí của cuộc trng cầu ý dân
II. Hình thức dân chủ đại diện
Hình thức dân chủ đại diện là hình thức
cơ bản thông qua đó nhân dân Việt Nam sử
dụng quyền lực nhà nớc. Hình thức dân
chủ đại diện đợc vận hành theo cơ chế
hiến định. Theo cơ chế này, nhân dân bầu
ra cơ quan đại diện. Cơ quan đại diện trực
tiếp nhận quyền lực từ nhân dân nên còn
đợc gọi là cơ quan quyền lực nhà nớc,
trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà
nớc cao nhất, hội đồng nhân dân là cơ
quan quyền lực nhà nớc ở địa phơng.
Tính chất quyền lực nhà nớc cao nhất của
Quốc hội thể hiện ở chỗ: Quốc hội thay
mặt cho nhân dân cả nớc quyết định
những vấn đề quan trọng nhất của đất nớc
nh lập hiến, lập pháp, các chính sách cơ
bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế,
x hội, quốc phòng, an ninh của đất nớc;
thành lập các cơ quan nhà nớc trung ơng;
quyết định những nguyên tắc chủ yếu về tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc;
giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động
của nhà nớc. Tính chất quyền lực nhà
nớc của hội đồng nhân dân thể hiện ở vai
trò của hội đồng nhân dân là cơ quan thay
mặt nhân dân địa phơng quyết định các
biện pháp nhằm xây dựng địa phơng về
mọi mặt, bảo đảm phát triển kinh tế văn
hội đồng nhân dân, tuy nhiên những thay
đổi đó còn chậm trễ so với sự phát triển của
đời sống kinh tế x hội của đất nớc, đặc
biệt trong giai đoạn toàn cầu hoá nền kinh
tế thế giới hiện nay. Vì vậy, hoạt động của
cơ quan dân cử cha hoàn toàn đáp ứng
đợc sự mong đợi của nhân dân. Có thể dễ
dàng nhận thấy sự hạn chế của hình thức
dân chủ đại diện là sự không tơng xứng
giữa tính chất đại diện và quyền lực nhà
nớc với phơng thức tổ chức và hoạt động
bán chuyên nghiệp của cơ quan dân cử.
Hoạt động lập pháp là một trong những
hoạt động quan trọng bậc nhất của Quốc
hội. Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, xây dựng nhà nớc pháp
quyền x hội chủ nghĩa, nhu cầu quản lí x
hội bằng pháp luật đòi hỏi phải nhanh
chóng cải cách hoạt động lập pháp của
Quốc hội. Vì hoạt động lập pháp của Quốc
hội bị chi phối bởi cơ cấu tổ chức và cách
thức hoạt động của Quốc hội, do vậy đòi
hỏi chúng ta phải cải cách tổ chức và hoạt
động của cơ quan dân cử một cách toàn
diện.
Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động
của cơ quan dân cử động chạm đến hàng
loạt các điều khoản của Hiến pháp quy định
về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn
cũng nh các hình thức hoạt động của Quốc
số nớc, trong một số trờng hợp còn cho
phép uỷ ban thờng trực của nghị viện
thông qua dự án luật.
(6)
Sự hoạt động tích
cực có hiệu quả của các uỷ ban của nghị
viện cho phép nghị viện, tại các phiên họp, nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003
9
chủ yếu tập trung thảo luận các vấn đề cơ
bản của dự án luật mà không sa đà vào các
vấn đề khác nh về câu chữ, hành văn v.v.
Điều này không những góp phần rút ngắn
thời gian thảo luận và thông qua mỗi dự án
luật mà còn nâng cao chất lợng của các
văn bản luật do nghị viện ban hành. Thiết
nghĩ chúng ta cần vận dụng một cách hợp lí
mô hình này vào việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của Quốc hội nớc ta.
Quyền giám sát của Quốc hội đối với
hoạt động của các cơ quan nhà nớc trung
ơng, đặc biệt là đối với hoạt động của
Chính phủ là một trong những biểu hiện
quan trọng của quyền lực nhà nớc cao nhất
của Quốc hội. Quốc hội thực hiện quyền
giám sát thông qua hoạt động của Uỷ ban
dung hoặc những câu hỏi liên quan đến bí
mật quốc gia, cần quy định trong luật phạm
vi những vấn đề mà ngời phải trả lời có
quyền không trả lời.
Hình thức điều trần chỉ đợc áp dụng
trong trờng hợp quan chức cao cấp của
Nhà nớc không hoàn thành nhiệm vụ
hoặc trong khi thực hiện nhiệm vụ phạm
phải hành vi vi phạm pháp luật. Kết quả
của hình thức này có thể dẫn đến sự bi
nhiệm khỏi việc đảm nhận chức vụ của
quan chức đó./.
(1).Xem: Hồ Chí Minh Tuyển tập, Tập 1, Nxb. Sự
thật, H. 1980, tr.356.
(2). Chế độ cơ quan dân cử bi nhiệm đại biểu thành
viên đ đợc Hiến pháp 1946 đề cập tại các Điều 41
và 61. Các bản Hiến pháp 1959 và 1980 chỉ cho
phép cử tri bi nhiệm đại biểu dân cử.
(3). Các Hiến pháp 1959, 1980 không quy định trực
tiếp quyền trng cầu ý dân mà gián tiếp đề cập tại
các điều quy định về quyền hạn của Uỷ ban thờng
vụ Quốc hội (khoản 5 Điều 53 Hiến pháp 1959) và
Hội đồng nhà nớc (khoản 6 Điều 84 Hiến pháp
1980).
(4).Xem: Lê Minh Thông, Một số vấn đề về hoàn
thiện các cơ sở hiến định của tổ chức bộ máy nhà
nớc ở nớc ta hiện nay, Tạp chí nhà nớc và pháp
luật số 4/2000, tr.9.
(5).Xem: Vũ Hồng Anh, Tổ chức và hoạt động của