1
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ XXI, cả nhân loại đang đứng trước những thay đổi lớn
về mọi mặt. Đó là thời đại của thông tin đại chúng, mạng công nghệ thông tin
được trải khắp trên toàn cầu lan rộng đến những vùng sâu, vùng xa. Các cấp, các
ngành cũng đang khẩn trương học tập nâng cao trình độ để theo kịp đáp ứng với
sự đổi mới từng ngày của xã hội, trong đó có ngành Giáo dục. Ngành Giáo dục
đề ra nhiều mục tiêu lớn nhằm tiến tới một đất nước có nền giáo dục toàn diện
như trường học thân thiện, học sinh chăm ngoan, chống bệnh thành tích và ngồi
nhầm lớp. Điều đó yêu cầu con người phải học thật và thi thật. Mục đích cuối
cùng của ngành là đào tạo ra những con người có đủ đức, đủ tài để gánh vác
trọng trách là xây dựng đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác
Hồ kính yêu hằng mong ước. Để làm được điều này không còn con đường nào
khác là phải học. Việc học được xem như là xây một tòa tháp, những viên gạch
đầu tiên của nền móng phải vững vàng thì tòa tháp mới đứng vững vàng được.
Việc học cũng vậy, cấp tiểu học được coi là nền móng cho những cấp học sau
này. Ở cấp Tiểu học, các em học tốt thì việc học lên cao hơn sẽ dễ dàng hơn
nhiều.
Lịch sử loài người từ khi con người chưa làm chủ được thiên nhiên, sống
phụ thuộc vào thiên nhiên, thì con người cũng đã có nhu cầu học tập, những kinh
nghiệm sống hằng ngày được con người truyền miệng cho nhau, nhờ vào truyền
miệng mà rất nhiều tác phẩm dân gian của dân tộc ta được sáng tác từ rất lâu vẫn
còn tồn tại đến ngày nay như: Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thánh Gióng… Nhưng các
tác phẩm này thường mang tính dị bản. Do vậy, cùng với sự tiến hóa của loài
người, dần dần con người đã tìm ra cách ghi lại những kinh nghiệm của đời
sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ
trước và của cả những người đương thời, phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết.
Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài
người, không có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Để
đọc còn góp phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ, bồi dưỡng cho học sinh lòng
yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em có cách tư duy có hình ảnh.
Đặc biệt là học sinh lớp 5, là lớp cuối cấp Tiểu học, yêu cầu về đọc càng
cao hơn. Đòi hỏi học sinh khi học xong lớp 5 là phải đọc thông, viết thạo và biết
đọc diễn cảm, thể hiện tâm hồn của tác giả qua giọng đọc. Bởi vậy, để làm tốt
những nhiệm vụ nêu trên, đề tài sẽ đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh đọc
thông được văn bản và đọc đúng ngữ điệu.
Qua đó, nhằm tìm ra các biện pháp góp phần để rèn luyện cho học sinh
kĩ năng đọc, nâng cao hiệu quả đọc của học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Các biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5 - Trường
PTDTBT Tiểu học và THCS Phước Lộc.
- Các bài tập đọc, đoạn trích trong Sách giáo khoa chương trình tiểu học
ở lớp 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lí luận của việc đọc.
- Đối chiếu quy tắc để tìm hiểu thực trạng của việc dạy và học tập đọc ở
trường Tiểu học.
- Các biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu cách luyện đọc trong phân môn Tập đọc ở lớp 5.
3
- Tập trung nghiên cứu học sinh lớp 5 - Trường PTDTBT Tiểu học và
THCS Phước Lộc.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu nhận tài liệu.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
nhân loại những gì mình cần, trong một ngày nắm được tinh thần của hàng chục
quyển sách cũng gọi là biết đọc.
4
Như vậy, quan niệm về người biết đọc không cố định phụ thuộc vào trình
độ của mỗi người. Nhưng để đạt đến mức biết đọc thì người đọc phải đọc thông
thạo văn bản và nắm được nội dung, ý nghĩa của những con chữ.
1.3 Ý nghĩa của việc đọc
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư
tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp
thu nền văn minh của loài người, không có hạnh phúc đúng với nghĩa của từ này
trong xã hội hiện đại. Biết đọc, con người đã nhận khả năng tiếp thu lên nhiều
lần. Từ đây, ta biết tìm hiểu đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự
nhiên, xã hội tư duy. Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương
tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người
khác, thông hiểu tư tưởng tình cảm của người khác, đặc biệt khi đọc các tác
phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn
rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động,
sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Không biết đọc, con
người không có điều kiện hưởng trọn vẹn thành tựu giáo dục mà xã hội mang lại
cho họ, không thể hình thành được nhân cách toàn diện. Đặc biệt, trong thời đại
bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó giúp người ta sử dụng
các nguồn thông tin. Đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để học, học cả đời.
Vì những lí lẽ trên mà dạy đọc có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học. Đọc trở thành một
đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ
phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao
tiếp và học tập. Nó là công cụ để học các môn khác, nó tạo ra hứng thú và động
Là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết. Dựa vào sự phát âm một
tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanh điệu rõ hay
không rõ, người ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng có trọng âm và
không có trọng âm. Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc
có tầm quan trọng, Trọng âm yếu đi với những từ không có hoặc có ít thông tin
mới.
Ngữ điệu
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên
cao hay xuống thấp giọng nói, giọng đọc.
Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống nhất của một tổ hợp các phương
tiện siêu đoạn có quan hệ tương tác với nhau được sử dụng ở bình diện câu như
cao độ, cường độ, tốc độ, trường độ và âm sắc. Những yếu tố này không tồn tại
một cách độc lập mà thống nhất thành một ngữ điệu. Ngữ điệu chính là sự hòa
đồng về âm hưởng của bài đọc.
Luyện đọc thành tiếng không dừng lại ở việc luyện chính âm mà cần
phải luyện đọc đúng ngữ điệu. Để tạo ra ngữ điệu, học sinh phải làm chủ các
thông số âm thanh bằng cách tạo ra cường độ bằng cách điều khiển đọc to, nhỏ,
nhấn giọng, lời giọng, tạo ra tốc độ bằng cách nâng giọng, hạ giọng, tạo ra
trường độ bằng cách kéo dài giọng hay không kéo dài giọng.
Nói tóm lại, muốn đọc được hay, diễn cảm thì người đọc cần chú ý đến
trọng âm, ngữ điệu đọc đồng thời cần phát âm đúng chuẩn chính tả, đọc đúng
chính âm của tiếng.
3. Vị trí và nhiệm vụ môn Tập đọc ở lớp 5
3.1 Vị trí phân môn Tập đọc lớp 5
6
Môn Tập đọc lớp bốn có vị trí quan trọng, vì chương trình được phân bổ
trải đều cho cả năm học. Ngoài phân môn Tập đọc, cấu tạo sách Tiếng Việt có
cũng không thể tách rời chúng. Nhiệm vụ thứ hai của Tập đọc là giáo dục lòng
ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với sách cho học
sinh. Nhiệm vụ thứ ba của phân môn Tập đọc là làm giàu kiến thức về ngôn ngữ,
đời sống và kiến thức văn học cho học sinh.
4. Kĩ năng đọc
7
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Kĩ năng đọc là khả năng vận dụng những
kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào trong thực tế. Đây là một
định nghĩa mang hàm ý rộng. Kĩ năng đọc chính là khả năng vận dụng lí thuyết
vào thực tế. Kĩ năng đạt đến mức thành thục gọi là kĩ xảo.
Vậy kĩ năng đọc là gì ? Đó chính là khả năng vận dụng những kiến thức
về ngữ âm học để tri giác văn bản, từ đó hiểu được nội dung, ý nghĩa của từng
con chữ trong văn bản và hiểu được nội dung của văn bản.
Như vậy, đọc là sự tổng hợp của hai quá trình phát âm thành tiếng và
nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì đọc được. Người biết đọc phải
đọc văn bản và nắm được nội dung, ý nghĩa từ những con chữ. Giáo viên và học
sinh, dạy và học phân môn Tập đọc dựa trên cơ sở của việc đọc và những cơ sở
về âm thanh của nó.
Trên đây là những căn cứ nói về tầm quan trọng của việc đọc của học
sinh cấp Tiểu học.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC TẬP ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Nội dung chương trình và phân bổ thời lượng
Qua quá trình công tác giảng dạy của bản thân và dự giờ thăm lớp, đúc
kết kinh nghiệm từ một số giáo viên ở trường PTDTBT tiểu học và THCS Phước
Lộc và quá trình khảo sát, điều tra thực tế, tôi có những nhận xét về thực trạng
dạy học môn Tập đọc như sau.
- Đội ngũ giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có tinh thần
trách nhiệm, nhiệt tình trong dạy học.
- Học sinh ra lớp chuyên cần, có thái độ học tập tốt, có khả năng tiếp thu
kiến thức tốt.
- Là đơn vị trường bán trú nên học sinh có thêm điều kiện thuận lợi về
việc tự học vào ban đêm dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên tham gia trực
lúc các em học.
- Trong giờ Tập đọc, các em đều hứng thú và mong muốn được thể hiện
cách đọc, nhiều em chưa được gọi đọc cũng đọc thầm và thể hiện sắc thái biểu
cảm trên mặt. Điều đó chứng tỏ các em thích đọc và hiểu nội dung bài.
- Học sinh được sửa sai khi đọc, những em đọc tốt còn giúp các bạn sửa
lỗi trong quá trình đọc theo nhóm.
- Học sinh được nâng cao rõ rệt về đọc diễn cảm. Hình thành được kĩ
năng khi đọc tất cả các văn bản khác.
- Hơn thế, được sự quan tâm của Lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn
nên trình độ chuyên môn của giáo viên tương đối vững vàng.
2.2 Khó khăn
- Là lớp học thuộc đơn vị trường ở vùng sâu, vùng xa, học sinh của lớp
100% là người dân tộc thiểu số nên việc học môn Tiếng Việt nói chung và phân
môn Tập đọc nói riêng còn rất nhiều khó khăn trong vấn đề tiếp nhận và rèn
luyện kĩ năng năng đọc.
- Học sinh còn hiếu động, ham chơi. Vì vậy, giáo viên mất nhiều thời
gian để nhắc nhở, làm ảnh hưởng đến tiến độ và thời lượng của giờ dạy.
- Cơ sở vật chất nhà trường chưa thật đầy đủ để phục vụ cho một tiết
học.
9
- Có một số câu hỏi tìm hiểu bài ở Sách giáo khoa nhiều khi không phục
+ Đọc sai âm đệm: uy đọc là i, oe đọc là e…
+ Đọc sai nguyên âm đôi: iê, uô, ươ.
+ Đọc sai một số âm chính: ô - o, a - ă - â.
+ Đọc sai nhiều phần âm cuối: ng đọc là n, t đọc là c và ngược lại.
10
- Ngoài ra học sinh còn đọc sai về thanh hỏi (ˀ) và thanh ngã (~) những
đọc là nhửng, giữa đọc là giửa ...
4. Thực trạng của việc học
4.1 Thuận lợi
- Đa số học sinh đều ngoan, có ý thức học tập.
- Có nhiều em phát âm chuẩn.
- Học sinh được giáo viên giảng dạy tận tình, chu đáo.
4.2 Khó khăn
- Một số học sinh phát âm chưa đúng chuẩn.
- Các em phát âm tiếng địa phương theo thói quen. Học sinh vùng tôi
công tác là vùng sâu, vùng xa, vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nên thời
gian phụ huynh dành cho con em mình là rất hạn chế, nhất là vào những dịp thu
hoạch, họ phó mặc cho con em họ tự học, do đó các em không chú ý học bài.
Đặc biệt, là không chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Yếu tố nữa là trình độ dân trí
thấp họ chưa chú trọng vào việc học của con em mình.
5. Khảo sát thực trạng lỗi phát âm của học sinh lớp 5
* Phương pháp kiểm tra: Cho học sinh đọc các bài Tập đọc như: Kì diệu
rừng xanh, Chuyện một khu vườn nhỏ, Hành trình của bầy ong, Người gác rừng
tí hon, Hạt gạo làng ta, Buôn Chư Lênh đón cô giáo, Ca dao về lao động sản
xuất ...
5.1 Khảo sát tình trạng đọc diễn cảm của học sinh
Để tìm hiểu thêm về tình trạng đọc diễn cảm của học sinh, tôi đã cho cả
b. Luyện đọc
Giáo viên hoặc học sinh khá, giỏi đọc cả bài một lần.
Giáo viên đọc diễn cảm một lần và hướng dẫn cách đọc.
Học sinh đọc đoạn nối tiếp 2 đến 3 lần.
Học sinh đọc theo cặp.
Học sinh đọc từ khó. Luyện đọc câu dài.
Học sinh đọc từ chú giải.
c. Tìm hiểu bài.
- Học sinh đọc thầm theo đoạn và tìm hiểu nội dung của bài.
- 1 HS đọc thành tiếng đoạn 1 và trả lời câu hỏi
- Câu hỏi lớp 5 thường có những câu hỏi dài và có nhiều ý. Do vậy, khi
dạy, giáo viên cần tách thành những nội dung nhỏ.
Ví dụ: Bài: Phân xử tài tình
Câu hỏi 2: Quan án đã dùng những biện pháp nào để tìm ra người lấy
cắp tấm vải ? Vì sao quan cho rằng người không khóc chính là người lấy cắp ?
Đây là câu hỏi có hai nội dung cần tách từng nội dung ra để hỏi riêng để
học sinh dễ hiểu.
Kết phần tìm hiểu bài giáo viên cùng học sinh rút ra ý nghĩa của bài.
d. Luyện đọc diễn cảm.
Giáo viên đọc mẫu.
Học sinh đọc trong nhóm.
GV nhận xét, chọn một đoạn cho học sinh thi đọc diễn cảm .
Học sinh thi đọc diễn cảm.
Giáo viên nhận xét tuyên dương.
3. Củng cố, dặn dò.
Củng cố lại bài học.
Nhận xét tiết dạy và yêu cầu các em luyện đọc thêm.
5.3 Kết luận về thực trạng lỗi phát âm của học sinh lớp 5 - Trường
PTDTBT Tiểu học và THCS Phước Lộc
của một âm nào đó và trực quan hóa sự mô tả đó. Sau đó, hướng dẫn học sinh
quan sát, tự kiểm tra xem mình đang phát âm nào.
- Biện pháp chữa lỗi bằng âm trung gian là biện pháp chuyển từ âm sai
về âm đúng qua âm trung gian. Ví dụ: cách đọc tiếng có dấu thanh hỏi (ˀ), thanh
ngã (~) như nhau của một số học sinh về từng thanh hỏi (ˀ), ngã (~) riêng.
Ngoài ra, giáo viên còn có thể lựa chọn những bài luyện phát âm có tần
số dễ mắc lỗi cao. Những bài luyện chính âm cho các trường hợp các tiếng đứng
cạnh nhau rất khó đọc mặc dù học sinh không đọc sai khi đọc riêng từng tiếng.Ví
dụ: thuyên chuyển, nhuần nhuyễn …
13
Việc luyện chính âm không diễn ra trong một ngày, một giờ mà phải
thường xuyên liên tục. Giáo viên phân công các nhóm cùng nhau luyện đọc.
Mỗi nhóm gồm 4 - 6 em, có những em đọc và những em phát âm chưa
chuẩn để trong những giờ kiểm tra bài hay ngoại khóa các em tự luyện cho
nhau.
100% học sinh là người dân tộc thiểu số nên thường phát âm sai về dấu
thanh, thêm hoặc bớt dấu thanh dẫn đến phát âm sai tiếng đó; phát âm sai các âm
cuối (ng, n); ( t, c); các vần (uyên, iên); (uyết, iết); (ăn, en) … Bởi vậy, khi luyện
đọc cho học sinh nên chia ra nhiều nhóm luyện đọc khác nhau.
1.2 Ngắt, nghỉ hơi khi đọc
1.2.1 Ngắt, nghỉ hơi khi đọc truyện
Trong khi đọc, phát âm sai sẽ làm cho văn bản mất đi tính hấp dẫn,
nhưng nếu khi phát âm chuẩn mà ngắt, nghỉ không đúng chỗ cũng giảm đi cái
hay của bài văn, bài thơ. Có khi còn gây nên sự hiểu lầm về ý nghĩa trong ngôn
từ văn bản đó.
Trong chương trình Tập đọc ở lớp 5, ở mỗi chủ điểm sau một truyện kể
một tác phẩm văn xuôi là một bài thơ. Khi đọc các văn bản truyện cần ngắt nhịp
Chưa bằng khó nhọc / đời bầm sáu mươi."//
(Bầm ơi – TV5, tập 2, trang 130)
Tuy nhiên có những trường hợp ngắt giọng đặc biệt: 4/2 hoặc 3/5
…..
“Chắt trong vị ngọt / mùi hương
Lặng thầm thay / những con đường ong bay.//
Trải qua mưa nắng / vơi đầy
Men trời đất / đủ làm say đất trời."// ...
(Hành trình của bầy ong - TV5, tập 1, trang 117)
Hoặc không ngắt nghỉ theo nhịp mà theo cảm xúc:
.......
"Chú đi tuần / đêm nay
Hải Phòng / yên giấc ngủ say
Cây / rung theo gió / lá / bay xuống đường.
Chú đi qua cổng trường/
Các cháu miền Nam / yêu mến" ...
(Chú đi tuần - TV5, tập 2, trang 51)
Đây là những cách ngắt nhịp không theo quy luật chung. Cách đọc này
nhằm nhấn mạnh hay chuyển đổi ý nghĩa trong mạch cảm xúc tái hiện, khái quát
nội dung, ý nghĩa của truyện cổ.
Như vậy, khi đọc thơ, chú ý ngắt nhịp đúng thể loại cũng góp phần đọc
hay, diễn cảm bài thơ và định hướng cho cách hiểu đúng nội dung bài học.
15
Không những trong quá trình đọc mà ngay cả khi giao tiếp, chúng ta ngắt nghỉ
không đúng sẽ gây hiểu sai về ý nghĩa lời nói.
2. Ngữ điệu đọc
Khi đọc thành tiếng, việc lên cao hay hạ thấp giọng còn phụ thuộc vào
Ngắt, nghỉ biểu cảm là những chổ ngừng, chổ lặng, có tác dụng truyền
cảm, tập trung chú ý của người nghe vào sau chổ ngừng tạo nên hiệu quả nghệ
thuật cao.
16
3. Một số biện pháp cụ thể
- Tư thế khi đứng đọc: Phải thẳng người, cổ thẳng, hai chân đứng
nghiêm, sách đưa đến ngực cách mắt từ 30cm đến 35cm .
Luyện tư thế ngồi đọc: Thẳng người hai chân rộng bằng vai, cổ thẳng,
sách đặt trên bàn mở rộng. Khi đọc, mặt ngoài hai tay đặt tì lên bàn, hơi nâng
phần trên của sách lên.
- Luyện đọc đúng, nhanh các câu hoặc đoạn văn có nhiều tiếng khó.
- Luyện đọc đúng các dấu câu có ngữ điệu.
- Luyện đọc đúng các phụ âm, vần, thanh mà địa phương hay lẫn lộn.
- Luyện đọc bài văn có sự phân biệt: Lời kể của nhân vật và lời nhân vật,
lời các nhân vật với nhau, nhấn giọng các từ ngữ biểu cảm.
- Rèn cho học sinh thể hiện chính xác các từ mình đọc, đọc đúng chính
âm, đọc đúng âm cuối, đọc đúng các thanh.
Đọc đúng bao gồm đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi ngữ điệu câu.
Cần dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng.
3.1 Bài tập luyện lấy hơi
Giáo viên cần luyện cho học sinh cách lấy hơi để tránh bị hụt hơi, thở rất
mạnh để lấy hơi tạo ra những sự ngắt nghỉ vô nghĩa khi đọc. Hướng dẫn các em
lấy hơi bằng cách đứng thẳng người, mắt nhìn thẳng, hít vào thật sâu, giữ hơi rồi
thở ra đều trong khi đếm từ 1 đến 5 thành tiếng. Cũng với tư thế đó tăng dần
lượng không khí hít vào và thở ra cũng đều tăng dần.
3.2 Bài tập luyện giọng
Đứng hoặc ngồi thẳng người, sau khi hít thở sâu, phát âm đều và ngân
dù các em còn ngượng nghịu và khó thực hiện. Kết quả như sau:
Lớp 5
Số lượng
Âm cuối ng, n; t, c ...
Đọc đúng: 14/17 học sinh (82,4%)
Âm đầu s, x
Đọc đúng: 12 /17 học sinh (70,6%)
Vần uyên, iên; uyết, uyết; ăn, en ...
Đọc đúng: 14/17 học sinh (82,4%)
Dấu thanh
Đọc đúng: 12 /17 học sinh 70,6%)
Đọc diễn cảm:
Đọc diễn cảm: 10/17 học sinh (58,8%)
B. KẾT LUẬN
Đọc có ý nghĩa rất to lớn ở cấp Tiểu học. Đó là đòi hỏi cơ bản đầu tiên
đối với mọi người đi học. Đầu tiên là trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để
học, đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được một ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập.
Các em tiếp thu kiến thức rất nhanh dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Từ đề tài này, tôi mong được tìm hiểu thêm về biện pháp rèn kĩ năng đọc
trong phân môn Tập đọc ở khối lớp 5 để hướng dẫn học sinh đọc đúng, đọc hiểu,
đọc diễn cảm văn bản. Đó là mong muốn của của bản thân cũng như tất cả giáo
viên đang giảng dạy ở ngôi trường ở xã còn nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa –
Phước Lộc.
C. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
1. Đối với nhà trường
- Mở nhiều buổi chuyên đề, hội thảo đối với phân môn Tập đọc.
- Nhân rộng những tiết hội giảng các phân môn riêng trong môn Tiếng
Việt như: Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câu đạt kết quả cao để giáo viên
khác học tập.
- Tổ chức các hội thi để các em được tham gia giao lưu, rèn luyện 4 kĩ
năng cơ bản nghe, nói, đọc, viết cho học sinh DTTS hằng năm.
- Trang bị thêm sách tham khảo về thực hiện dạy học phân môn Tập đọc.
- Tổ chức các hoạt động nhằm rèn kỹ năng của phân môn Tập đọc như
thi kể chuyện, đọc thơ…
2. Đối với Phòng Giáo dục và đào tạo
- Mở nhiều buổi chuyên đề, hội thảo về phân môn Tập đọc.
- Nhân rộng những tiết hội giảng (môn Tập đọc) đạt kết quả cao để giáo
viên khác học tập.
19
- Đào tạo tiếng dân tộc (tiếng Gié - Triêng) cho đội ngũ giáo viên nhiều
hơn nữa.
- Tổ chức các chuyên đề nói về luyện đọc cho học sinh và có đánh giá cụ
thể.
Trên đây là một số kinh nghiệm, biện pháp đã thực hiện trong quá trình
"rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5 - Trường PTDTBT Tiểu học và THCS Phước
3
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN
3
1. Khái niệm đọc
3
1.1 Quan niệm về đọc
3
1.2 Cấp độ đọc
3
1.3 Ý nghĩa của việc đọc
4
2. Cơ sở khoa học của việc đọc
4
2.1 Cơ chế đọc
4
7
1. Nội dung chương trình và phân bổ thời lượng
7
2. Thực trạng của việc Tập đọc ở trường Tiểu học
8
2.1 Thuận lợi
8
2.2 Khó khăn
8
3. Thực trạng việc dạy phát âm cho học sinh lớp 5
9
22
3.1 Ưu điểm
9
10
5.3 Kết luận về thực trạng lỗi phát âm của học sinh lớp 5 - Trường
PTDTBT TH&THCS Phước Lộc
11
5.3.1 Về giáo viên
12
5.3.2 Về học sinh
12
CHƯƠNG III
CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
12
1. Luyện đọc thành tiếng
12
1.1 Vấn đề chính âm
12
1.2 Ngắt, nghỉ hơi khi đọc
3.2 Bài tập luyện giọng
16
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ
B. KẾT LUẬN
17
17
23
C. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
18
1. Đối với nhà trường
18
2. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
18
Tài liệu tham khảo
18