ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------
NGUYỄN ĐỨC BÌNH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC MILK FEED
TRONG CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Chăn nuôi Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại Học Nông
Lâm – Đại học Thái Nguyên, em đã nhận được sự dạy bảo và giúp đỡ ân cần
của các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi – Thú y, cũng như các thầy cô giáo trong
trường đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản, tạo cho em có được lòng
tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa và các thầy, cô giáo, cán bộ viên chức khoa Chăn nuôi – Thú y trường
Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã dạy bảo tận tình chúng em
trong toàn khóa học.
Em xin chân thành cảm ơn ban quản lí trang trại chăn nuôi lợn khoa
Chăn nuôi Thú y, cùng nhân dân địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi để em
thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Đặc biệt, Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS.
Dương Ngọc Dương và TS. Trần Văn Thăng đã trực tiếp hướng dẫn, tạo
mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn người thân trong gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã luôn tận tình giúp đỡ động viên em trong suốt quá trình học
tập và thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Đức Bình
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Đơn vị tính
SS:
Sơ sinh
TN:
Thí nghiệm
ĐC:
Đối chứng
NDF:
Neutral Detergent Fibre
ADF:
Acid Detergent Fibre
v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. ii
3.4.3. Các chỉ theo dõi và phương pháp tính toán các chỉ tiêu ...................... 22
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu .................................................................. 24
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 25
4.1. Khả năng sinh sản của lợn nái ............................................................... 25
4.1.1. Các chỉ tiêu sinh sản về số lượng đàn con ........................................... 25
4.1.2. Các chỉ tiêu sinh sản về chất lượng đàn con........................................ 26
4.2. Khả năng sinh trưởng của lợn con ......................................................... 28
4.2.1. Sinh trưởng tích lũy của lợn con ......................................................... 28
4.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con ....................................................... 30
4.2.3. Sinh trưởng tương đối của lợn con...................................................... 31
4.3. Tiêu tốn thức ăn của lợn nái thí nghiệm ................................................. 32
4.3.1. Tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng lợn con cai sữa .................................. 32
4.3.2. Chi phí thức ăn/kg khối lượng lợn con cai sữa .................................... 34
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.......................................................... 37
5.1. Kết luận ................................................................................................. 37
5.2. Đề nghị .................................................................................................. 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 38
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã
phát triển nhanh chóng cả về quy mô và số lượng, hình thức chăn nuôi lợn
nhỏ lẻ hộ gia đình ngày càng giảm dần, thay vào đó là mô hình chăn nuôi lợn
theo hình thức tập trung hiện đại. Hình thức chăn nuôi lợn này đã và đang góp
phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nước ta. Tuy nhiên, do sự phát
triển nhanh nên đã và đang có những dấu hiệu của sự phát triển thiếu bền
dùng trong chăn nuôi lợn và gia cầm trong điều kiện chăn nuôi của Việt Nam.
Vì vậy, nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học Milk feed trong chăn nuôi lợn
nái sinh sản ở nước ta là một nhu cầu cấp thiết nhằm chỉ rõ cơ sở khoa học và
khuyến cáo người chăn nuôi lợn nái sinh sản ứng dụng sản phẩm này trong
thực tiễn chăn nuôi lợn để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Xuất phát từ thực tiễn
nếu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sử dụng chế
phẩm sinh học Milk feed trong chăn nuôi lợn nái sinh sản tại trại lợn
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” .
1.2. Mục tiêu của đề tài
Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học Milk
feed đến khả năng sinh sản và tiêu tốn thức ăn của lợn nái giai đoạn từ ngày
chửa thứ 84 đến cai sữa lợn con tại trại lợn Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học về việc ứng dụng các
chế phẩm sinh học nói chung và chế phẩm sinh học Milk feed nói riêng trong
3
chăn nuôi lợn nái sinh sản. Đây là tài liệu có ý nghĩa khoa học quan trọng,
giúp cho giảng viên, sinh viên ngành chăn nuôi và đặc biệt là người chăn nuôi
lợn tham khảo, sử dụng trong thực tiễn chăn nuôi để tăng năng suất vật nuôi.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đưa ra những bằng chứng khoa
học và khuyến cáo thuyết phục cho người chăn nuôi trong việc sử dụng chế
phẩm sinh học Milk feed đối với chăn nuôi lợn nái sinh sản.
một ngày đêm và sự phân tiết này phụ thuộc vào các loại thức ăn, cách chế
biến và cách cho ăn...
Các nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm phân tiết các loại dịch tiêu hóa,
các nhân tố ảnh hưởng...đã được tiến hành bởi các tác giả: Trần Cừ và Cù
Xuân Dần (1975) [1] và đi tới các nhận xét có tính ứng dụng đó là: Số lượng
và chất lượng dịch tiêu hóa của lợn thay đổi phụ thuộc vào loại thức ăn,
phương pháp cho ăn và nhất là cách chế biến thức ăn. Nếu thức ăn được chế
biến tốt sẽ nâng cao được hiệu suất tiêu hóa.
Phần cuối cùng của bộ máy tiêu hóa là ruột già, ruột già dài khoảng 4 5 m bao gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ở ruột già chủ yếu xảy ra
quá trình tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải tạo ra các sản
phẩm chính là axit lactic có tác dụng ức chế vi khuẩn gây thối và các sinh vật
có hại khác. Ruột già chủ yếu hấp thu khoáng và nước. Với protein còn lại
trong thức ăn chưa được tiêu hóa hết, đến ruột già sẽ bị vi khuẩn ở ruột già
phân giải thành các chất Crerol, Indol có tính độc, chúng hấp thu vào máu và
được giải độc ở gan. Phần cặn bã đi vào kết tràng, trực tràng và tạo thành
phân ra ngoài.
2.1.1.2. Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn
Hệ vi sinh vật ở trong đường tiêu hóa ở lợn con đóng vai trò nâng cao
việc sử dụng thức ăn đồng thời nâng cao sức đề kháng ở cơ thể lợn. Sự phát
triển của các vi khuẩn sinh axit và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính
sinh học, đồng thời ức chế vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho cơ thể
(Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng,(1996) [2].
Ở dạ dày và ruột non của động vật mới sinh chưa có vi khuẩn, sau vài
giờ thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần. Hàng
ngày, một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở
6
* Số lợn con đẻ ra để lại nuôi/lứa (con)
Là số con sau khi sinh ra được chọn để nuôi. Lợn nái thường có 12 - 16
vú, phổ biến là 14 vú. Nếu số con sinh ra nhiều thì người ta thường để lại
nhiều nhất là số con bằng số vú, nhưng tốt nhất là số con để lại nuôi nhỏ hơn
số vú. Vì khả năng tiết sữa của lợn mẹ và số con để lại nuôi có mối tương
quan chặt chẽ với nhau, khi số con để lại nuôi càng ít thì khả năng tiết sữa của
lợn mẹ càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên, cũng không để nuôi quá ít vì hiệu
quả kinh tế thấp và không đánh giá hết tiềm năng sinh sản thực của nái.
* Số lợn con cai sữa/lứa (con)
Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất
trong chăn nuôi. Nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả
năng tiết sữa, khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố
gây bệnh cho lợn con.
* Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%)
Là tỷ lệ phần trăm giữa số con còn sống đến cai sữa và số con để lại nuôi.
Thông thường tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa càng cao thì càng tốt. Tỷ lệ này cho
biết kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ và khả năng nuôi con của lợn mẹ.
2.1.2.2. Các chỉ tiêu về chất lượng đàn con
* Khối lượng sơ sinh/con (kg)
Là khối lượng từng con được cân sau khi sinh ra.
* Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg)
Khối lượng sơ sinh toàn ổ được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn,
lau khô và cho bú sữa đầu.
Khối lượng toàn ổ sơ sinh là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai
của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái
chửa của cơ sở chăn nuôi
8
Trần Văn Thịnh (1982) [12] cho rằng: Thức ăn đầu tiên của lợn con là
sữa đầu. Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc, tiết ra trong 2 – 3 ngày đầu
khi đẻ. Trong sữa đầu, các thành phần hoá học đều đặc hơn sữa thường như:
lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 – 18 % so với 5 – 6 %). Trên 50 %
γ -globulin. Hàm lượng γ globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, γ - globulin là thành phần
protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là
quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh.
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [4], nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải
được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh. Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn
con có sức đề kháng. Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo
toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ.
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con.
Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không
đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con. Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng
cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh. Đó cũng
là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [4].
Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con
cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo
trình độ chăn nuôi của từng cơ sở.
Sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn,
chăm sóc nuôi dưỡng… Vì vậy, trong giai đoạn lợn mẹ nuôi con thì thức ăn
cho lợn mẹ cần đủ chất dinh dưỡng. Chăm sóc lợn mẹ ăn với khẩu phần đầy
đủ chất dinh dưỡng không ngừng nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ
hao mòn của lợn mẹ.
11
cả vi khuẩn gram âm và dương. Tranh giành sự bám dính vào niêm ruột với vi
khuẩn bệnh hoặc phong toả các thụ quan (receptor) của niêm mạc ruột, nhờ
vậy ngăn chặn vi khuẩn bệnh xâm lấn vào bên trong. Tranh giành chất dinh
dưỡng với vi khuẩn bệnh. Ví dụ, vi khuẩn probiotic có thể tiêu thụ các đường
đơn làm giảm tăng trưởng của Clostridium difficile, một loài vi khuẩn có tăng
trưởng phụ thuộc vào loại đường này.
Trong ống tiêu hóa có hàng trăm nghìn tỷ vi khuẩn, số lượng vi khuẩn
có lợi đường ruột thường được duy trì một tỷ lệ cân bằng so với vi khuẩn có
hại, tỷ lệ này vào khoảng 85/15 (85% vi khuẩn có lợi và 15% vi khuẩn có
hại). Nếu tỷ lệ cân bằng này nghiêng về phía vi khuẩn có hại thì xuất hiện rối
loạn tiêu hóa, suy giảm khả năng miễn dịch niêm mạc ruột, dẫn đến suy giảm
sức kháng bệnh của toàn cơ thể. Sự suy giảm vi khuẩn có ích thường xẩy ra
khi sử dụng kháng sinh, tiếp xúc với hóa chất nông nghiệp hoặc do ô nhiễm.
Bổ sung probiotic là gieo lại vi khuẩn có ích bị tổn hại do các yếu tố trên.
Theo Fuller (1989) [25], Fuller (1992) [26] và Lã Văn Kính (1998) [5], thì cơ
chế tác dụng của probiotic như sau:
Duy trì hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột bằng cách loại trừ cạnh
tranh và hoạt động đối kháng. Ngăn cản sự sinh trưởng của các vi khuẩn có
thể gây bệnh. Cạnh tranh bao gồm: cạnh tranh về vị trí bám dính trên nhung
mao ruột, cạnh tranh chất dinh dưỡng, cạnh tranh về khối lượng các chất sinh
ra bởi vi sinh vật. Kích thích sự phát triển của nhóm vi sinh vật có lợi như vi
khuẩn nhóm Lactobacillus, giảm các vi khuẩn nhóm Clostridia. Nhiều nghiên
cứu chứng minh probiotics ức chế bám dính trên nhung mao của vi khuẩn gây
bệnh như E. coli, Salmonella, Typhimurium. Việc ức chế khả năng bám dính
của vi sinh vật gây bệnh sẽ ngăn ngừa sự phát triển và gây bệnh của chúng, từ
đó probiotics được coi là giải pháp phòng ngừ bệnh đường ruột (Barnes và
được khả năng tăng khối lượng trung bình trên ngày và giảm tỷ lệ chết ở lợn
trong giai đoạn sinh trưởng và giai đoạn vỗ béo. Probiotic (không có vi khuẩn
13
E. coli; 50 ml của 9×1010 CFU/ml/ngày) được cho ăn với khẩu phần ăn có
hàm lượng protein thấp (17%) đã nâng cao được khả năng sinh trưởng của lợn
con bú sữa (Bhandari và cs, 2010) [17]. Malloa và cs (2010) [35] đã chứng
minh rằng bổ sung Enterococcus faecium (106 CFU/g) đã nâng cao khả năng
sinh trưởng (392 so với 443 g/ngày) và hệ số chuyển hóa thức ăn (1,74 so với
1,60 g thức ăn/g tăng khối lượng) của lợn sau cai sữa (28 ngày tuổi). Giang và
cs (2010b) [27] cho biết ở lợn con cho ăn khẩu phần ăn có chứa hỗn hợp
probiotic (E. faecium, 3×1011 CFU/kg; L. acidophilus, 4×109 CFU/kg và L.
plantarum, 2×109 CFU/kg) thì có lượng thức ăn ăn vào, tăng khối lượng/ngày
và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn trong hai tuần đầu sau khi cai sữa. Giang
và cs (2010a) [28] cũng cho biết khi cho lợn ăn hỗn hợp vi khuẩn axít lactic,
bao gồm sự kết hợp của Enterococcus faecium 6H2 (3×108 CFU/g),
Lactobacillus acidophilus C3 (4×106 CFU/g), Pediococcus pentosaceus D7
(3×106 CFU/g), L. plantarum 1K8 (2×106 CFU/g) và L. plantarum 3K2
(7×106 CFU/g) đã làm tăng khả năng thu nhận thức ăn và tăng khối lượng trên
ngày và nâng cao hệ số chuyển hóa thức ăn. Veizaj-Delia và cs (2010) [49]
chứng minh rằng bổ sung 0,001% probiotic (L. plantarum, 5×109 CFU/kg; L.
fermentum, 5×109 CFU/kg và E. faecium, 5×1010 CFU/kg) tăng khối lượng
cơ thể và tăng khối lượng bình quân trên ngày. Một số báo cáo đã chỉ ra rằng
những vi khuẩn axít lactic mà chủ yếu là Lactobacilli có trong thức ăn đã
nâng cao khả năng sinh trưởng ở lợn đang sinh trưởng (Baird, 1977) [14] và
lợn vỗ béo (Hong và cs, 2002 [30]; Jonsson và Conway, 1992 [32]). Khi bổ
sung men sống vào khẩu phần ăn của lợn cho kết quả là đã cải thiện đáng kể
tốc độ sinh trưởng (Mathew và cs, 1998) [36] và giảm số lượng vi khuẩn có
ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào, nhưng nó giúp nâng cao tỷ lệ tiêu hóa
vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, xơ thô và NDF, đồng thời không ảnh
hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa lipid và ADF. Vật nuôi ở nhóm bổ sung probiotic
cho thấy tốc độ sinh trưởng cao hơn và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn cũng
15
như chi phí thức ăn cho một kg tăng khối lượng thấp hơn so với nhóm không
bổ sung probiotic.
2.1.3.4. Ảnh hưởng của probiotics đến sự miễn dịch của lợn
Nhiều tác giả cho biết Probiotics có tác dụng kích thích hệ thống miễn
dịch ở lợn (Takahashi và cs, 1998 [48]; Franscico và cs, 1995 [24]).
Probiotics có thể kích thích hệ thống miễn dịch ở lợn bằng việc tăng cường
sản xuất kháng thể và hoạt hóa lymphocytes (Ng và cs, 2009) [38].
Oelschlaeger (2010) [39] cho biết probiotics có thể ảnh hưởng đến hệ thống
miễn dịch bởi những sản phẩm như chất chuyển hóa, những thành phần của
thành tế bào và ADN. Wang và cs (2009a, b) [52, 53] chứng minh rằng khi
cho ăn L. fermentum gây ra một sự tăng cytokines trong quá trình viêm và tỷ
lệ lymphocyte CD41 trong máu.
Tính hiệu quả của probiotics dưới những điều kiện khác nhau có thể là
do tự bản thân chế phẩm probiotics hoặc do những nhân tố khác nhau. Những
nhân tố này bao gồm tỷ lệ sống sót của các chủng vi khuẩn thấp, tính bền
vững của các chủng vi khuẩn thay đổi, liều lượng chế phẩm thấp, việc cho ăn
thường xuyên hay không thường xuyên, sự tác động qua lại với một số thuốc
(kháng sinh và chất kháng khuẩn), tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của
động vật và ảnh hưởng của tuổi, stress, di truyền và các loại vật nuôi khác
nhau (Bomba và cs, 2002) [18]. Một nghiên cứu chỉ ra rằng probiotics ảnh
hưởng nhất ở vật nuôi trong quá trình phát triển hệ vi sinh vật đường ruột
hoặc khi tính bền vững của hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ (Stavric và
loại enzym tiêu hóa.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Cho và cs (2011) [19] Probiotics được tạo ra để sử dụng như là
một loại thức ăn bổ sung; nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những tác dụng có
lợi của probiotics, một trong những tác dụng có lợi này là cải tiến sự cân bằng
17
vi sinh vật đường ruột cho vật nuôi. Những chức năng của probiotics bên
trong đường tiêu hóa dạ dày ruột đó là cạnh tranh với vi khuẩn có hại về dinh
dưỡng, cạnh tranh với nhân tố gây bệnh về vị trí bám dính trên lớp biểu mô
phủ đường ruột, tạo ra những hợp chất gây độc cho tác nhân gây bệnh và kích
thích hệ thống miễn dịch. Do vậy, ứng dụng của probiotics là cung cấp một
chiến lược thay thế tiềm năng đối với việc sử dụng kháng sinh trong chăn
nuôi và người ta đề xuất rằng nên sử dụng probiotics như là một loại thức ăn
bổ sung trong chăn nuôi (Patil và cs, 2015) [41].
Xuan và cs (2001) [51] đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung một
hỗn hợp probiotics (có chứa Saccharomyces cervisea (2×108 CFU) và
Bacillus spp. (1×1010 CFU)) đến khả năng sinh trưởng, tỷ lệ tiêu hóa các chất
dinh dưỡng, và quần thể vi sinh vật ở lợn con cai sữa lúc 21 ngày tuổi. Kết
quả nghiên cứu chỉ ra khi bổ sung 0,2% hỗn hợp probiotics vào khẩu phần ăn
cho lợn thì tăng khối lượng trên ngày và lượng thức ăn ăn vào trung bình trên
ngày của lợn cao hơn so với lợn ăn các khẩu phần ăn khác và đối chứng. Tỷ
lệ tiêu chảy và tình trạng quần thể vi sinh vật ở trong ruột, kết tràng và phân là
không bị tác động bởi các loại khẩu phần ăn cho lợn thí nghiệm. Vì vậy, có
thể kết luận là hỗn hợp probiotics có thể thay thế kháng sinh trong khẩu phần
ăn cho lợn sau cai sữa.
Balasubramanian và cs (2016) [15] đã tìm hiểu ảnh hưởng của việc bổ