TrongHieuKCT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
………***………
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN
VÀO CÁC NƯỚC ASEAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT
NAM TRONG VIỆC THU HÚT FDI TỪ NHẬT BẢN
Tổng quan về FDI ............................................................................................4
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
1.1.1. Khái niệm .......................................................................................................4
1.1.2. Đặc điểm ........................................................................................................6
1.1.3. Phân loại .........................................................................................................7
1.1.3.1. Theo cách thức xâm nhập ........................................................................7
1.1.3.2. Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp
nhận đầu tư ......................................................................................................7
1.1.3.3. Theo định hướng của chủ đầu tư .............................................................8
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
2.1.4. Hệ thống cở sở hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng nhu cầu phát triển ..............30
2.1.5. Trình độ lao động của lực lượng lao động ...................................................31
2.1.6. Năng lực cung ứng cao của các doanh nghiệp phụ trợ ................................32
2.2.
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN 32
2.2.1. Quy mô đầu tư ..............................................................................................32
2.2.2. Cơ cấu vốn đầu tư ........................................................................................35
2.2.2.1. Theo quốc gia đầu tư vào ......................................................................35
2.2.2.2. Theo lĩnh vực đầu tư ..............................................................................38
2.3.
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
3.1.3.2. Tồn tại và nguyên nhân .........................................................................74
3.2.
3.3.
Triển vọng phát triển đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam ..............76
Một số giải pháp tăng cường thu hút FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam dựa trên
bài học kinh nghiệm của các nước ASEAN ..........................................................78
3.3.1. Các giải pháp tổng thể ..................................................................................78
3.3.1.1. Nhóm giải pháp cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật ...................78
3.3.1.2. Nhóm giải pháp phát triển năng lực của doanh nghiệp phụ trợ ............79
Xây dựng - kinh doanh -
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
chuyển giao
BT
Build - Transfer
BTO
Thu nhập doanh nghiệp
TrongHieuKCT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản 2001-2014 .................23
Bảng 2.1: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN giai đoạn 20012014 ..........................................................................................................................33
Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN giai đoạn 2001-
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
2004 ..........................................................................................................................35
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
đoạn 2003-2013 ........................................................................................................45
TrongHieuKCT
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển đặt mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để thực hiện được mục tiêu đó
cần một nguồn vốn không nhỏ để tạo động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Trong điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nguồn
UU
cao. Tuy nhiên, sự hợp tác về kinh tế trong đó có hoạt động đầu tư trực tiếp từ Nhật
Bản vào Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của mối quan hệ
song phương kéo dài suốt 40 năm qua.
Bên cạnh đó, các nước ASEAN như Thái Lan, Philippines, Indonesia…mặc
dù có nhiều nét tương đồng với Việt Nam nhưng hiệu quả thu hút FDI từ Nhật Bản
và hiệu quả sử dụng nguồn vốn này ở các quốc gia đó cao hơn ở Việt Nam. Vậy
chúng ta có thể học tập được gì từ kinh nghiệm thu hút FDI từ Nhật Bản của các
nước trong khu vực? Đó là lý do em chọn đề tài: “Hoạt động đầu tư trực tiếp của
Nhật Bản vào các nước ASEAN và bài học cho Việt Nam trong việc thu hút
FDI từ Nhật Bản” cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN và
rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thu hút nguồn vốn FDI từ Nhật
Bản.
1
TrongHieuKCT
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Lý luận chung về FDI, ưu nhược điểm và các nhân tố tác động đến việc thu
hút nguồn vốn FDI.
Nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào khu vực ASEAN từ
đó đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm.
Đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt
UU
FFTT
SSuu
aann
năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp các thông tin, tài liệu, báo cáo
chính thức đã công bố của các bộ, ban ngành của Việt Nam, Nhật Bản, các nước
ASEAN và các tổ chức quốc tế về các vấn đề có liên quan.
Phương pháp biện chứng, kết hợp lý luận và thực tiễn.
Phương pháp thống kê so sánh để làm rõ kết quả nghiên cứu.
6. Bố cục khóa luận
Bài khóa luận có bố cục 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về FDI và tổng quan hoạt động đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài của Nhật Bản
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước
ASEAN
2
TrongHieuKCT
Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam dựa
trên bài học kinh nghiệm của các nước ASEAN.
UU
FFTT
SSuu
aann
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
hình thức trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước
ngoài lại ra đời tương đối muộn vào thế kỷ 19 và ngay khi ra đời đã nhanh chóng
xác lập vị trí của mình, trở thành một xu thế tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa.
Cho đến nay, đã có nhiều khái niệm về FDI được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế lớn
như Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và
Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO):
Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp
hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục
đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp (theo IMF, 1993,
Balance of Payments Manual, The fifth edition).
Theo OECD: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện nhằm thiết lập các
mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành
hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Tuy nhiên, đối với Luật Đầu tư Việt
Nam 2005 dùng thay thế Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật khuyến
khích đầu tư trong nước năm 1998 lại chỉ đưa ra các khái niệm “ Đầu tư là việc nhà
đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của
pháp luật có liên quan” (điều 3 khoản 1), “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do
nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” (điều 3 khoản 2) và
ngay cả Luật Đầu tư 2014 cũng chỉ đưa ra khái niệm “Đầu tư nước ngoài là việc
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp
khác để tiến hành hoạt động đầu tư” (điều 3 khoản 14) giống như điều 3 khoản 12
của Luật Đầu tư 2005 mà không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy
nhiên, từ các khái niệm trên có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư
nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc
nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước
ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
biệt:
FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận:
trong luật pháp và tài liệu của nhiều nước quy định FDI là đầu tư tư nhân. Một số
nước khác trong đó có Việt Nam lại quy định chủ thể tham gia đầu tư trực tiếp nước
ngoài ngoài tư nhân còn có thể là nhà nước. Tuy nhiên, dù quy định thế nào về chủ
thể thì mục đích hàng đầu, quan trọng nhất vẫn là lợi nhuận và cùng với đó nảy sinh
nhiều vấn đề như chuyển giá gây thất thu ngân sách nước nhận đầu tư hay các vấn
đề về môi trường. Vì vậy, các nước tiếp nhận nguồn vốn FDI đặc biệt là các nước
đang phát triển cần phải đăc biệt lưu ý, xây dựng cho mình một hành lang pháp lý
đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để định hướng FDI vào phục vụ mục
tiêu xây dựng, phát triển kinh tế xã hội đất nước mình, tránh tình trạng FDI trở
thành công cụ chỉ để phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn
pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành
quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ này ở các
nước quy định không giống nhau. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Anh và Pháp
là 20%, Việt Nam là 30% đối với hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty
cổ phần. Tỷ lệ vốn góp của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi
bên, cùng với đó là lợi nhuận và rủi ro mà mỗi chủ đầu tư được phân chia.
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây cũng là khác biệt cũng như là ưu
điểm lớn nhất của FDI so với các hoạt động đầu tư nước ngoài khác.
1.1.3. Phân loại
Căn cứ vào các vấn đề liên quan đến việc đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài lại
có các cách phân loại khác nhau như căn cứ theo cách thức xâm nhập, định hướng
của chủ đầu tư, quan hệ ngành nghề và lĩnh vực giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp
nhận đầu tư, định hướng của nước nhận đầu tư và theo hình thức pháp lý.
1.1.3.1.
Theo cách thức xâm nhập
FDI thường bao gồm hai hình thức xâm nhập:
-
Đầu tư mới (greenfield investment): Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây
FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm
sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất
ở nước chủ đầu tư. Để thành công khi sử dụng hình thức này, chủ đầu tư cần tạo ra
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
sự khác biệt của sản phẩm. FDI theo chiều ngang thường được tiến hành nhằm mục
đích tận dụng các lợi thế độc quyền hoặc độc quyền nhóm đặc biệt khi việc phát
triển thị trường trong nước vi phạm luật chống độc quyền.
-
FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI này được tiến hành để hướng đến thị
trường nước nhận đầu tư, cung ứng các hàng hóa, sản phẩm mà nước này trước đây
phải nhập khẩu. Ưu điểm của hình thức này là hàng hóa đến tay người tiêu dùng
được hạn chế bớt các khoản thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển thông qua đó giúp
giảm giá thành sản phẩm ở thị trường nước nhận đầu tư. Các yếu tố như dung lượng
8
TrongHieuKCT
thị trường, các rào cản thương mại và chi phí vận tải có tác động không nhỏ đến
hình thức đầu tư này.
FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường nhắm tới đối với hoạt động này bao
-
gồm cả thị trường nước nhận đầu tư và các thị trường khác trên toàn thế giới. Đây là
hình thức đòi hỏi phải có các yếu tố đầu vào như nhân công, nguyên nhiên vật liệu
được cung ứng với giá rẻ. Sử dụng hình thức này có thể tận dụng tối đa các nguồn
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
UU
FFTT
SSuu
-
để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam trong đó có quy định trách nhiệm chia
kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới. Cả chủ đầu tư
Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài tham hợp đồng, thực hiện quyền và nghĩa vụ
với tư cách pháp nhân cũ của mình.
Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên
-
cơ sở một hợp đồng liên doanh được ký giữa hai hay nhiều bên bao gồm cả chủ đầu
tư Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài. Điểm khác biệt quan trọng với hợp đồng
hợp tác kinh doanh là ở đây có hình thành pháp nhân mới và là pháp nhân Việt
Nam.
-
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp được đầu tư và sở hữu
bởi nhà đầu tư nước ngoài mà không có sự tham gia của chủ đầu tư Việt Nam, đồng
thời hình thành pháp nhân mới mang quốc tịch Việt Nam.
Ngoài các hình thức chủ yếu trên, hoạt động FDI ở Việt Nam còn được thực
hiện thông qua các hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT), Xây dựng - Chuyển
9
TrongHieuKCT
giao - Kinh doanh (BTO), Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), tiến hành
mua cổ phần hoặc góp vốn và mua lại, sáp nhập doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
nước ngoài muốn đầu tư ở Việt Nam có thể tự do lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp
Các nhân tố thuộc chủ đầu tư
Mỗi nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp ở bất kỳ nước nào thì
động lực đầu tư mà họ nhắm tới là thị trường nguồn tài nguyên phong phú, các yếu
tố đầu vào giá rẻ…và đích đến cuối cùng chính là lợi nhuận. Hoạt động đầu tư ra
nước ngoài đòi hỏi những chi phí lớn nên việc tận dụng tối đa những lợi thế sẵn có
của mình về quy mô và quyền sở hữu có tác động không nhỏ đến khả năng sinh lời
của dự án.
-
Chủ đầu tư sở hữu những lợi thế về quyền sở hữu hay lợi thế riêng của chủ
đầu tư.
Nhờ vào kinh nghiệm đầu tư, các yếu tố công nghệ, năng lực quản lý, lợi thế
về quy mô và khả năng hợp tác với các doanh nghiệp khác làm cho các doanh
nghiệp chủ đầu tư tạo ra được lượng vốn lớn và năng suất cận biên cao. Bên cạnh
đó, các yếu tố đầu vào trong nước đã dần không còn đáp ứng được nhu cầu sản xuất
cao của các công ty, tập đoàn lớn và việc dịch chuyển nguồn vốn sang các quốc gia
khác trở nên cần thiết để kéo dài chu kỳ sản phẩm và nâng cao lợi nhuận. Chu kỳ
sản phẩm gồm 4 giai đoạn: giai đoạn thâm nhập, giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn
chín muồi và giai đoạn suy tàn. Đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc
tế, việc kéo dài vòng đời sản phẩm giúp giảm lượng lớn chi phí, tăng hiệu quả kinh
doanh.
10
TrongHieuKCT
-
kết dọc, kết hợp mua bán nguyên liệu và thành phẩm.
1.1.4.2.
Các nhân tố thuộc nước chủ đầu tư
Việc đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp của nước chủ đầu tư có thuận
lợi hay không có tác động không nhỏ đến những chính sách và biên pháp khuyến
khích đầu tư ra nước ngoài. Chính phủ tăng cường ký kết các hiệp định đầu tư, tạo
các mối quan hệ song phương, đa phương giúp các doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm
các thị trường đầu tư. Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi thuế và tài chính, khuyến
khích chuyển giao công nghệ, trợ giúp tiếp cận thị trường, hỗ trợ thông tin và trợ
giúp kỹ thuật sẽ tạo điều kiện để các nhà đầu tư hoạt động thuận lợi và hiệu quả ở
nước ngoài. Ngược lại, các chính sách hạn chế chuyển vốn ra nước ngoài, hạn chế
tiếp cận thị trường hay cấm đầu tư vào một số nước của chính phủ nước chủ đầu tư
sẽ làm ngăn cản dòng vốn FDI chảy ra bên ngoài.
Xung đột thương mại với quốc gia thâm hụt cán cân thương mại: Trong
trường hợp một nước có nhiều lợi thế và xuất siêu một lượng lớn hàng hóa sang một
nước khác khiến cho cán cân thương mại thặng của chiều ngược lại bị thâm hụt
nặng nề, các nước nhập siêu sẽ gây những sức ép nhất định để làm mất lợi thế của
hàng hóa nước chủ đầu tư sản xuất trong nước khi tiến hành xuất khẩu. Vì vậy,
nước chủ đầu tư sẽ xuất khẩu vốn ra nước ngoài để giảm bớt căng thẳng, mở rộng
sản xuất và tiếp tục bán được hàng hóa ở thị trường đó.
1.1.4.3.
Các nhân tố thuộc nước nhận đầu tư
Nhu cầu đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn lớn, các công ty xuyên quốc
gia hiện nay rất lớn. Việc thiếu hụt nguồn vốn để phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở
11
vào một quốc gia nào đó hay không. Sự bất ổn về chính trị - xã hội làm ảnh hưởng
đến sự vận hành bình thường của quốc gia. Sự ổn định của yếu tố này có tác động
không nhỏ đến tâm lý người dân và các nhà đầu tư. Bất kể những sự bất ổn về chính
trị - xã hội nào như chiến tranh, đảo chính, bạo động, khủng bố, nội chiến…đều
không cho thấy sự đảm bảo an toàn nào cho nhà đầu tư và tài sản của họ. Không
những khó có thể thu hút nguồn vốn FDI từ bên ngoài, mỗi sự không ổn định của
yếu tố này có thể sẽ dẫn đến việc dòng vốn từ trong nước chảy ra bên ngoài để tìm
kiếm cơ hội đầu tư hấp dẫn hơn.
Xung đột về chính trị giữa hai quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
FDI qua lại giữa hai nước này. Tiêu biểu là mối quan hệ Trung – Nhật đang ngày
càng xấu đi, mặc dù Trung Quốc từng được coi là thiên đường cho các nhà đầu tư
nhưng hiện nay đang xảy ra một cuộc di cư tập thể của các doanh nghiệp Nhật Bản
ra khỏi quốc gia đông dân nhất thế giới này sang các quốc gia Đông Nam Á trong
đó có Việt Nam.
-
Mức độ ổn định kinh tế vĩ mô và tiềm năng tăng trưởng GDP
Các yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô như mức độ lạm phát, cán cân thanh toán, lãi
suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản của nhà đầu tư
ngay khi bắt đầu tiến hành đầu tư. Khi nhà đầu tư bước vào một thị trường, họ phải
đem nguồn vốn bằng ngoại tệ quy đổi ra nội tệ, và bất kỳ sự biến động bất lợi nào
của các yếu tố này sẽ làm số vốn đầu tư giảm sút. Vì vậy, ổn định kinh tế vĩ mô có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc huy động và sử dụng vốn nước ngoài, tạo ra
sự an tâm và kích thích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP cho thấy dung lượng thị trường và tiềm
năng phát triển của một nền kinh tế trong tương lai. Khi một nhà đầu tư nhắm đến
một thị trường, trước tiên mục tiêu của họ thường sẽ chính là thị trường đó, sau đó
-
Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Kết cấu cơ sở hạ tầng gồm tổng thể các hạng mục đường sá, mạng lưới giao
thông vận tải, kho tàng, bến bãi, trường học, bệnh viện, hệ thống thông tin liên lạc.
Sự phát triển của yếu tố này tác động không nhỏ đến sự thuận lợi trong đầu tư và
kinh doanh. Hệ thống giao thông, cảng biển, đường bộ, đường sắt, sân bay, kho
chứa hàng quốc tế được phân bổ khắp cả nước, đạt các tiêu chuẩn cao phục vụ
không nhỏ nhu cầu di chuyển, vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu giúp giảm
thiểu chi phí trung chuyển và các rủi ro gặp phải. Một quốc gia được trang bị một
hệ thống thông tin liên lạc viễn thông đồng bộ, bưu điện hoạt động liên tục, có khả
năng chuyền tải lớn, bảo mật cao, hệ thống ngân hàng hoàn thiện đảm bảo an toàn
thông tin, bí mật nội bộ, chuyển tiền hiệu quả góp phần tạo thuận lợi trong kinh
doanh.
-
Trình độ lao động của lực lượng lao động và giá cả lao động phổ thông
Lực lượng lao động là nguồn lực vô cùng quan trọng tham gia sản xuất, kinh
doanh và góp phần quản lý doanh nghiệp. Một lực lượng lý tưởng gồm dồi dào các
lao động phổ thông có tay nghề có thể trực tiếp đứng máy, sản xuất và bộ phận có
chuyên môn cao, lao động cao cấp đảm nhận những vị trí quan trọng, chuyên trách
để đảm bảo việc kinh doanh được tiến hành hiệu quả và xuyên suốt. Dù nhà đầu tư
có sở hữu công nghệ và nguồn lực mạnh mà thị trường lao động nước chủ nhà
không cung ứng được lao động chất lượng thì doanh nghiệp cũng không hoạt động
được. Dòng vốn vì thế mà bị ứ đọng và dần thu hẹp lại.
Ở nước chủ đầu tư, trong điều kiện chi phí sản xuất tăng cao trong đó tiền
lương của lao động phổ thông ở mức cao cũng là một yếu tố góp phần nâng giá
SSuu
aann
i iCC
HHoo
nước ngoài giảm tối đa các chi phí, tránh việc đầu tư dàn trải vừa tốn kém mà không
đem lại hiệu quả. Nếu CNPT không phát triển sẽ khiến các công ty lắp ráp và những
công ty sản xuất sản phẩm cuối cùng phải phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu,
làm tăng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm do phải chịu thêm các chi phí vận
chuyển, bảo hiểm, hải quan… Ngoài ra, những doanh nghiệp này còn phải đối mặt
với nhiều rủi ro khác như tiến độ, thời gian giao hàng… Ngày nay, khi môi trường
đầu tư ngày càng trở nên thông thoáng và không có nhiều sự khác biệt về chính
sách hỗ trợ giữa các nước cạnh tranh thì việc đa dạng các công ty phụ trợ có tác
động không nhỏ đến quyết định của các nhà đầu tư.
-
Hệ thống pháp luật, chính sách khuyến khích thu hút FDI
Một lực cản vô hình từ phía nước nhận đầu tư mà các nhà đầu tư không phải
lúc nào cũng lường trước được đó là hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính. Đôi
khi hệ thống pháp luật phức tạp, thủ tục hành chính rườm rà, răc rối khiến cho các
chủ đầu tư nước ngoài bị chậm tiến độ đầu tư và chậm chí là không lấy được giấy
phép đầu tư. Một bộ máy hành chính hiệu quả phải thống nhất, gọn nhẹ; thủ tục đơn
giản; cán bộ hành chính nhiệt tình và có chuyên môn; đường lối chính sách nhất
quán, có định hướng lâu dài.
Các chính sách của Chính phủ nước nhận đầu tư có thể tác động trực tiếp như
quy định về việc thành lập và hoạt động, các tiêu chuẩn đối xử với FDI, cơ chế hoạt
động của các doanh nghiệp này trên thị trường hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư
của các doanh nghiệp FDI như các chính sách về tiền tệ, thuế, tỷ giá hối đoái, chính
aann
i iCC
HHoo
cầu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vô cùng lớn. Tuy nhiên, việc dòng vốn FDI sẽ
chảy đến đâu, vào khu vực hay quốc gia nào phụ thuộc rất nhiều vào chính các quốc
gia muốn thu hút dòng vốn đó. Liệu rằng những yếu tố thuộc môi trường đầu tư đã
thực sự tốt để thỏa mãn nhu cầu và làm hài lòng các nhà đầu tư? Không ngừng cải
thiện các yếu tố đó tạo ra sự an tâm và an toàn đầu tư là chìa khóa xây dựng lòng tin
về một thiên đường sản sinh lợi nhuận.
1.1.5. Tác động của FDI
Từ khi ra đời cho đến nay, FDI luôn khẳng định vai trò của mình trong hoạt
động đầu tư quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà FDI đang không ngừng phát triển.
Hình thức đầu tư này có tác động không nhỏ đến lợi ích của cả chủ đầu tư, nước chủ
đầu tư và đặc biệt là nước nhận đầu tư.
Về phía các nhà đầu tư, họ đi trên hành trình mà mục tiêu cuối cùng là tối đa
hóa lợi nhuận. Các công ty luôn tìm kiếm những nơi mà việc sản xuất và kinh
doanh thuận lợi nhất. Khi mà trong nước đã trở nên quá chật chội, tràn ngập hàng
hóa của cả doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh, FDI là phương thức hữu hiệu để
chủ đầu tư vươn ra thế giới và xác lập vị thế ở các thị trường khác nhờ vào các lợi
thế sẵn có.
1.1.5.1.
Đối với nước chủ đầu tư
Việc các công ty thuộc nước chủ đầu tư đầu tư ra nước ngoài để thu lợi nhuận
không chỉ có lợi cho riêng doanh nghiệp mà còn đem lại nhiều lợi ích cho đất nước
của họ. Nhờ vào quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư, chủ
i iCC
HHoo
Chính phủ tiến hành các biện pháp khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu vốn, mở
rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, góp phần giảm áp lực cho nền kinh tế, kéo dài
chu kỳ phát triển của đất nước.
FDI giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động khi cùng chủ đầu ra ra
nước ngoài làm việc. Ở những dự án đầu tư mới, các chuyên gia ở nước chủ nhà
thiếu hụt và không đáp ứng được nhu cầu công việc, chủ đầu tư sẽ đưa cán bộ sang
để hướng dẫn và vận hành ban đầu. Thù lao của những người này vì vậy mà được
nâng cao.
FDI tránh được việc khai thác quá mức nguồn lực trong nước như tài nguyên,
khoáng sản tự nhiên không có khả năng tái tạo. Đồng thời những ngành nghề gây ô
nhiễm môi trường qua con đường FDI được đưa ra nước ngoài.
Bên cạnh những ưu điểm, nước chủ đầu tư phải chấp nhận những bất lợi mà
hoạt động đàu tư này đem lại như từ vị thế nước xuất khẩu trở thành nước nhập
khẩu; cán cân thanh toán quốc tế và sự ổn định của đồng tiền bị ảnh hưởng; cùng
với đó là việc các doanh nghiệp chuyển cơ sở ra nước ngoài làm giảm cầu lao động
trong nước và gia tăng tình trạng thất nghiệp.
1.1.5.2.
Đối với nước nhận đầu tư
Tích cực
-
Đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển có tỷ lệ
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
có thể làm thay đổi bộ mặt của một nền sản xuất, chuyển từ sản xuất manh mún,
nhỏ lẻ, thủ công sang quy mô công nghiệp.
Nguồn vốn có thể được sở hữu thông qua nhiều cách như tiết kiệm hay đi vay.
Tuy nhiên, việc sản xuất trong nước còn kém hiệu quả thì tích lũy cao là điều xa xỉ
hay việc vay nợ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Những khoản nợ vay với lãi cao, quản lý và
đầu tư kém hiệu quả khiến con nợ tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới để bù đắp
trong ngắn hạn. Những điều kiện cho vay dần ngặt nghèo hơn, và chu kỳ cứ thế tiếp
diễn đẩy con nợ vào vòng xoáy nợ nần: vay – nợ - vay mới – nợ tăng – tiếp tục vay
mới khác… Lạm phát xảy ra và ngân sách bị thâm hụt. Trả nợ sẽ ngốn hết các
khoản chi ngân sách phục vụ đầu tư và phát triển. Trường hợp xấu nhất có thể xảy
ra đó là bị vỡ nợ. Khắc phục điều này, FDI bổ sung nguồn vốn cần thiết, dồi dào
phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Thông qua đầu tư và chuyển giao công nghệ, chủ đầu tư đào tạo và nâng cao
năng lực quản lý và tay nghề cho lao động và chuyên gia địa phương. Được học tập
và làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp giúp người lao động địa phương
cải tiến và hoàn thiện nhiều kỹ năng – điều mà các lao động trong nước đang rất
thiếu. Bên cạnh đó, lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề nước nhận đầu tư cũng
sẽ cải thiện đáng để để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng ngày càng cao từ phía các chủ
đầu tư nước ngoài.
-
HHoo
UU
FFTT
SSuu
aann
i iCC
HHoo
sử dụng lao động trong doanh nghiệp, cơ sở của mình, các doanh nghiệp FDI thông
qua việc thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương cũng gián tiếp tạo ra công ăn việc
làm. Nhờ làm ăn tốt mà những lao động trong các doanh nghiệp FDI thường có thu
nhập cao hơn và đời sống được nâng cao.
-
FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Ở hầu hết các
nước đang và chậm phát triển, ngành nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao. FDI
thường được đầu tư vào công nghiệp kỹ thuật cao và dịch vụ kéo theo những sự
chuyển dịch của lao động, vốn, cơ cấu sản phẩm vào những ngành có tỷ suất lợi
nhuận cao đóng góp đáng kể vào tăng thu ngân sách, tăng trưởng GDP và ổn định
xã hội. Về phương diện quốc tế, nó giải quyết sự mất cân đối trong cơ cấu lãnh thổ,
phát huy tối đa lợi thế từng địa phương, đưa các khu vực nghèo đói giảm nghèo và
phát triển kinh tế.
-
FDI đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước thông qua các khoản thuế
đóng góp hàng năm của các doanh nghiệp nước ngoài.
Tiêu cực