SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM một vài BIỆN PHÁP GIÚP học SINH lớp 2 GIẢI tốt DẠNG TOÁN có lời văn - Pdf 53

1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI LỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC HỒ PHƯỚC HẬU

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Tên đề tài:

MỘT VÀI BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH LỚP HAI
GIẢI TỐT DẠNG TOÁN CÓ LỜI VĂN

Na

Họ và tên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên môn: Tổ Hai


2

Tháng 02 năm 2017

1. Tên đề tài:

MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP HAI
GIẢI TỐT DẠNG TOÁN CÓ LỜI VĂN
2. Đặt vấn đề:
2.1. Tầm quan trọng của vấn đề:
Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn. Đó
cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức



3

Vì những tác dụng to lớn nói trên mà mỗi học sinh đều phải ra sức rèn
luyện để giải toán cho tốt. Điều đó không những giúp các em học giỏi toán
mà nó còn giúp các em học giỏi tất cả các môn học khác.
2.2 Tóm tắt thực trạng liên quan đến vấn đề:
Qua thực tế giảng dạy trong thời gian qua ở khối lớp 2, tôi nhận thấy
“Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó nhất đối với học sinh. Việc
học sinh học toán và giải toán có lời văn thường rất chậm chạp so với các
dạng bài tập khác. Các em thường có một thói quen không tốt cho lắm đó là:
đọc đề bài qua loa, sau đó giải bài toán ngay. Vì vậy, các em còn lúng túng
trong việc xác định dạng toán và tóm tắt đề toán. Khi giải bài toán các em ít
tư duy, còn máy móc, nếu đề cho nhiều hơn là làm phép tính cộng, ít hơn là
làm phép trừ, gấp là làm nhân, kém là làm chia mà không để ý đến dữ kiện
của bài toán đã cho nên nhiều khi chọn phép tính không đúng dẫn đến kết quả
sai. Bên cạnh đó các em còn chưa biết đặt câu lời giải cho phép tính các em
vừa tìm, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không
làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán
đặt ra. Làm xong không cần kiểm tra lại kết quả, khi trả bài các em mới biết là
mình sai.
Với những hạn chế nêu trên, tôi nhận thấy thực trạng việc giải toán có
lời văn của lớp là vấn đề đáng quan tâm, điều đó làm tôi trăn trở rất nhiều là
phải cần tìm ra biện pháp để giúp các em có kĩ năng giải tốt dạng toán có lời
văn.
2.3. Lí do chọn đề tài:
Từ thực trạng đã nêu trên, tôi nhận thấy việc giải toán có lời văn cho
học sinh Tiểu học là một vấn đề cấp thiết cần khắc phục. Bởi vì trong môn
Toán ở bậc Tiểu học, giải toán có lời văn là một trong những mạch kiến thức

có lời văn cho học sinh
Muốn học sinh giải toán có lời văn tốt, trước hết tôi tìm hiểu rõ tình
trạng của học sinh mình như thế nào? Học sinh yếu ở những mặt nào? Mức độ


5

yếu của học sinh ra sao? Để thực hiện được vấn đề này, ngay từ lúc nhận lớp
và nhận bàn giao chất lượng, tôi xem sổ chủ nhiệm đồng thời trao đổi với giáo
viên chủ nhiệm cũ để nắm bắt tình hình học tập của từng em cho rõ hơn. Sau
đó, ngay từ đầu năm học, tôi tiến hành điều tra trình độ các em qua bài khảo
sát. Tôi nhận thấy ngoài một số em làm bài tốt, vẫn còn có em viết lời văn
chưa thành thạo, một số em giải toán nhưng không hiểu rõ bản chất của đề bài
nên dẫn tới những sai sót rất đáng tiếc: sai lời giải, làm sai phép tính nên dẫn
tới kết quả, đáp số sai. Một số học sinh không kiểm tra lại bài giải dẫn đến lời
giải phép tính đúng nhưng kết quả sai. Qua bài khảo sát chất lượng đầu năm,
tôi nhận thấy chất lượng của học sinh về giải toán có lời văn chưa cao.
Sau đây là kết quả khảo sát 27 học sinh trong lớp tôi chủ nhiệm về giải
toán có lời văn đầu năm học 2015- 2016:
Chọn và thực hiện
Tóm tắt bài toán
Lời giải và đáp số
TSHS
đúng phép tính
27
Đạt
Chưa đạt
Đúng
Sai
Đúng

sát đến từng đối tượng học sinh. Ví dụ: Học sinh năng khiếu cần những câu
hỏi nâng cao, học sinh chậm cần những câu hỏi dễ hiểu và sát thực với đề bài.
*Nguyên nhân khách quan:
- Vốn Tiếng Việt của một số em còn hạn chế nên nhiều khi việc hiểu
nghĩa của từ trong toán học đối với các em là rất khó, dẫn đến học sinh trả lời
không chính xác.
Đó là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hướng
dẫn học sinh giải các bài toán ở dạng có lời văn. Vì vậy, trong quá trình giảng
dạy tôi luôn gần gũi, nắm được những ưu và nhược điểm của từng đối tượng
học sinh, theo dõi thường xuyên cụ thể kết quả học tập (trên lớp, làm bài tập
…) để phân loại đối tượng nhằm có những biện pháp phù hợp cho từng nhóm.


6

Đối với học sinh yếu kém cần có kế hoạch giúp đỡ cụ thể, giao các bài tập
phù hợp với năng lực nhằm khích lệ, động viên các em đều được học và học
có hiệu quả. Đồng thời tổ chức đôi bạn cùng tiến, học nhóm, phụ đạo theo
nhóm, có phương pháp lấp lỗ hổng kiến thức và rèn kỹ năng cho từng em. Đối
với những học sinh năng khiếu thì cần có những câu hỏi và các dạng bài tập
nâng cao hơn nhằm phát huy năng lực của các em.
5.2. Nắm chắc nội dung chương trình môn toán lớp 2, trọng tâm là
dạng “giải toán có lời văn”
Môn Toán lớp 2 được Bộ GD & ĐT ban hành và quy định để thực hiện
trong cả nước, mỗi tuần 5 tiết x 35 tuần = 175 tiết.
- Nội dung chương trình toán được cụ thể hóa thành nội dung các tiết
học (bao gồm các tiết dạy bài mới, các tiết luyện tập, thực hành, luyện tập
chung, ôn tập) như sau:
+ Ôn tập và bổ sung: 10 tiết
+ Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100: 32 tiết

7

Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, GV cần dùng
phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm
hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán. Qua đó học sinh hiểu được yêu
cầu của bài toán và dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải,
phép tính, đáp số của bài toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài
tập.
Bước 2: Tìm cách giải bài toán.
a. Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và
cái phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “ phép
cộng” nếu bài toán yêu cầu “ nhiều hơn” hoặc “ gộp”, “ tất cả”. Chọn “tính
trừ” nếu “bớt” hoặc “ tìm phần còn lại” hay là “ ít hơn”…
Ví dụ: Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn
nhà Mai 7 cây cam. Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa
cái đã cho và cái phải tìm. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua
các câu hỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? ( Vườn nhà Mai có 17 cây cam)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà
Mai 7 cây)
+ Bài toán hỏi gì? (Vườn nhà Hoa có bao nhiêu cây cam)
+ Muốn biết vườn nhà Hoa có mấy cây cam em làm tính gì? (tính trừ)
+ Lấy mấy trừ đi mấy? (17 - 7)
+ 17 – 7 bằng bao nhiêu? ( 17 - 7 = 10 )
b. Đặt câu lời giải thích hợp.
Việc đặt câu lời giải ở các bài toán đơn không có gì khó khăn. Tuy
nhiên, nếu để ý một chút, ta sẽ thấy nội dung câu lời giải thường có 2 phần:
Phần 1 ghi cái cần tìm, phần 2 ghi phạm vi cái cần tìm biểu thị.

hợp. Các danh số thường là 1 đơn vị kép (chỉ lượng và chỉ tên) như: con gà,
cái thuyền, kg gạo,…Khi ghi danh số sau kết quả mỗi phép tính, ta chỉ cần ghi
đơn vị chỉ lượng đứng trước là: con, cái, kg,…nhưng khi ghi đáp số ta cần
phải ghi đầy đủ là con gà, cái thuyền, kg gạo,…
Bước 3: Trình bày bài giải:
- Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi tóm
tắt, sau gần tóm tắt là trình bày bài giải. Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở
(có gạch chân
- Bên cạnh đó, GV luôn luôn nhắc nhở, rèn luyện cho học sinh kĩ năng
viết chữ - viết số đúng mẫu - đẹp. Việc kết hợp giữa chữ viết đẹp và cách trình
bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công trong vấn đề giải
toán có lời văn của các em.
Ví dụ 1: Nam có 6 lá cờ, Hùng có 9 lá cờ. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu
lá cờ?
Không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi thực hiện được ngay cách làm
như sau:
Tóm tắt
Bài giải
Namcó:
6 lá cờ.
Số lá cờ cả hai bạn có là:
Hùng có:
9 lá cờ.
6 + 9 = 15 ( lá cờ)
Cả hai bạn : … lá cờ?
Đáp số: 15 lá cờ.
Ví dụ 2: Hải có 15 hòn bi, Hải cho bạn 6 hòn bi. Hỏi Hải còn lại bao
nhiêu hòn bi?
Tóm tắt
Bài giải

nhiều lần trước khi làm bài, từ đó hình thành cho các em thói quen đọc kỹ đề
bài trước khi giải. Trong quá trình đọc, tôi thường yêu cầu các em phải xác
định được cái đã cho, cái cần tìm và dạng toán. Tránh thói quen xấu là vừa
đọc xong đề đã làm ngay.
*Để hình thành cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảo “giải toán có lời văn”
theo 4 bước trên, đòi hỏi người giáo viên phải thực hiện thường xuyên và liên
tục. Tuy nhiên tùy theo từng đối tượng học sinh mà chúng ta áp dụng cho phù
hợp. Có thể mở rộng thêm hoặc làm kĩ từng bước.
Ví dụ: Đối với học sinh chưa đạt yêu cầu, tôi làm kĩ 2 bước đầu để các
em hiểu rõ bản chất của đề bài, có như vậy các em mới làm tốt được bài toán
đã cho.
Đối với học sinh năng khiếu nếu chúng ta chỉ dừng ở 4 bước trên thì
mới chỉ giúp học sinh tìm được lời giải và đáp số của từng bài tập cụ thể mà
chưa hề rèn luyện trí thông minh và óc sáng tạo cho học sinh. Do đó, sau khi
học sinh luyện tập thành thạo 4 bước, tôi cho học sinh có thói quen làm tiếp
một bước nữa đó là khai thác và phát triển bài toán. Đây chính là bước rèn
luyện trí thông minh và óc sáng tạo của học sinh. Bởi vậy sau khi học sinh
giải xong bài toán và thử lại đúng kết quả, tôi hướng dẫn học sinh cách giải
khác (nếu bài giải có nhiều cách giải). Việc đi sâu vào tìm hiểu nhiều cách
giải khác nhau có vai trò rất lớn trong việc rèn kĩ năng, củng cố kiến thức,
phát triển trí thông minh và óc sáng tạo cho học sinh. Trong khi cố gắng tìm
ra các cách giải khác nhau, học sinh hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa cái đã
cho và cái phải tìm. Học sinh sẽ lựa chọn được cách giải hay hơn và tích luỹ
thêm được nhiều kinh nghiệm để giải toán. Biết tự tìm thêm cách giải mới cho
bài toán là một biện pháp giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại
lượng và những quan hệ bản chất trong mỗi bài toán. Từ đó mà học sinh hiểu
bài sâu hơn rất nhiều.
5.4. Thay đổi hình thức tổ chức dạy học:
Qua một thời gian cải tiến và áp những kinh nghiệm trên, lớp 2C năm
học 2015-2016 đã có những chuyển biến rõ rệt về chất lượng giải toán có lời

Kết quả cụ thể:
Lớp 2B năm học 2016- 2017
- Đầu năm học 2016- 2017 chất lượng khảo sát giải toán có lời văn có
kết quả như sau:
Tổng số HS
Điểm 9,10
Điểm7,8
Điểm5,6

chọn cách giải hay nhất.
- GV cần phải chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cần làm tốt những công việc sau:
+ Xác định đúng yêu cầu bài toán và đưa bài toán về dạng cơ bản.
+ Tìm các cách giải khác nhau của bài toán.
+ Dự kiến những khó khăn sai lầm của học sinh.
+ Tìm cách hướng dẫn học sinh tháo gỡ khó khăn và gợi ý để học sinh
tìm được cách giải hay.
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần có sự động viên, tuyên dương
khuyến khích đúng lúc, kịp thời đối với học sinh.
- Ngoài ra đòi hỏi ở mỗi giáo viên sự kiên trì, linh hoạt và sáng tạo
trong mỗi tiết dạy.
8. Đề nghị:
Qua thời gian tìm hiểu và thực hiện đề tài, tôi có một số yêu cầu như
sau:
- Giáo viên khi thực hiện cần kiểm tra thường xuyên bằng nhiều hình
thức và nhiều đối tượng (HS năng khiếu, chưa đạt yêu cầu). Từ đó rút ra được
những mặt mạnh, yếu của học sinh và có kế hoạch bồi dưỡng, phụ đạo cụ thể
đối với từng đối tượng.
+ Đối với học sinh năng khiếu cần ra bài tập, bài làm phù hợp với năng
lực của các em.
+ Đối với học sinh chưa đạt yêu cầu: Kiểm tra thường xuyên bằng mọi
hình thức, phát hiện ra chỗ yếu, kém để bồi dưỡng kịp thời tạo cho các em
hứng thú, tự giác học tập.
- Dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 2 không thể nóng vội mà
phải hết sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỷ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình
thành cho các em một phương pháp tư duy học tập đó là tư duy khoa học, tư
duy sáng tạo, tư duy lô gíc.


12

7/ Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học lớp 2Nhà xuất bản Giáo dục - 2009


14

10. Mục lục:
Thứ tự

1
2

3
4
5

Tiêu đề

TÊN ĐỀ TÀI
ĐẶT VẤN ĐỀ
- Tầm quan trọng của vấn đề
- Tóm tắt thực trạng liên quan đến vấn đề
- Lí do chọn đề tài
- Giới hạn
CƠ SỞ LÍ LUẬN
CƠ SỞ THỰC TIỄN
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
5.1. Khảo sát, phân loại đối tượng học sinh

6
7

6
6
9
10
10
11
12
13
14


15

Mẫu SK1
PHÒNG GD&ĐT ĐẠI LỘC
TRƯỜNG ............................

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
..............., ngày tháng năm 2015

PHIẾU ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC 2015-2016
CỦA HĐKH TRƯỜNG :...................................................................
1.Tên đề tài: ............................................................................................................
.......................................................................................................................................
2. Họ và tên tác giả: .................................................................................................
3. Nhiệm vụ được phân công: ................. ................................................................
4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài:


Họ và tên học sinh

Khảo sát
đầu năm

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24

Nguyễn Thị Kim yên

10
5
3
8
8
4
4
9
7
9
6
7
7
3
9
5
9
10
4
7
6
8
6
6
9
8
10


10

10
8
5
10
10
7
5
10
9
10
8
9
9
5
10
7
10
10
5
9
8
10
9
7
10
9
10


10
8
6
10
10
8
6
10
9
10
8
9
9
6
10
8
10
10
6
9
9
10
9
8
10
9
10


17

Huỳnh Công Danh
Đinh Đạt
Phạm Thúy Diễm
Nguyễn Thị Mỹ Diệu
Nguyễn Thị Thu Dung
Nguyễn Văn Hà
Nguyễn Đăng Hiếu
Đoàn Thị Hoa
Nguyễn Thị Xuân Hoa
Nguyễn Thị Thanh Hoài
Đỗ Phú Bảo Hoàng
Từ Văn Huy
Ngô Hồng Khải

9
9
8
9
7
4
8
6
7
7
6
6
10
7
9
6

9
9
9
8
10
9
9
7


18

17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34

4
8
6
5
6
5
6
4

9
9
4
9
6
7
6
9
10
9
4
9
7
6
7
6
7
6

9
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status