HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU THỦY
PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG
TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2018
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU THỦY
PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG
TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số: 62 22 03 08
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. ĐỖ THỊ THẠCH
2. TS. NGHIÊM SĨ LIÊM
HÀ NỘI - 2018
22
GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
26
2.1. Cơ sở lý luận
26
2.2. Nội dung, phương thức, chủ thể và sự cần thiết phát huy giá trị gia đình
truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng
sông Hồng hiện nay
2.3. Những yếu tố tác động đến phát huy giá trị gia đình truyền thống trong
37
xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT HUY GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH TRUYỀN
51
THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG HỒNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY
72
3.1. Thực trạng phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
PHỤ LỤC
164
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐBSH
: Đồng bằng sông Hồng
GĐTT
: Gia đình truyền thống
GĐVH
: Gia đình văn hóa
HTCT
: Hệ thống chính trị
mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành
nhân cách… con người và nền văn hóa Việt Nam” [32, tr.77].
Quán triệt quan điểm của Đảng, ngày 4 tháng 5 năm 2001, Thủ tướng Chính
phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Quyết định số
72/2001/QĐ-TTg lấy ngày 28 tháng 6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam. Ngày
29 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 629/QĐ-TTg “phê
duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, trong
đó nêu rõ: “… Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong các mục
tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011
- 2020, đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [127, tr.1]. Đồng thời, Chiến lược cũng đã
chỉ ra việc xây dựng gia đình văn hóa (GĐVH) ở Việt Nam hiện nay không thể
không kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống đã được hình thành,
chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bời vì, văn hoá của một dân tộc
nói chung, văn hoá gia đình nói riêng là một dòng chảy lịch sử, xuyên suốt từ truyền
thống đến hiện đại.
2
Đồng bằng sông Hồng là một trong những cái nôi văn hóa của Việt Nam, là
quê hương giàu truyền thống cách mạng, nơi cư trú và sinh sống của nhiều gia đình
truyền thống (GĐTT). Trong giai đoạn hiện nay, đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có
tiềm năng to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên, truyền
thống văn hóa… tạo ra lợi thế phát triển cao hơn so với nhiều vùng khác trong cả
nước. Theo đó, việc phát huy những giá trị của GĐTT trong xây dựng GĐVH cũng
có những thuận lợi đáng kể: tăng trưởng kinh tế cao, trình độ dân trí tốt, nhận thức
xã hội của người dân khá cao, vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu văn hóa…
Tuy nhiên, trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH cũng có nhiều vấn đề đang
đặt ra cần phải được nghiên cứu làm sáng tỏ. Nổi bật như: chưa có sự thống nhất,
tường minh trong nhận thức về giá trị GĐTT; chưa được cụ thể hóa đầy đủ các giá
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu giá trị GĐTT và phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng
GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu phát huy giá trị GĐTT Việt Nam, trong
đó chủ yếu là giá trị văn hoá truyền thống của gia đình trong xây dựng GĐVH ở
vùng ĐBSH hiện nay, bao gồm giá trị đạo đức, giá trị giáo dục, giá trị tâm lý, tình
cảm và giá trị ý thức cộng đồng của GĐTT.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu việc phát huy giá trị GĐTT trong xây
dựng GĐVH ở vùng ĐBSH thông qua nghiên cứu thực trạng ở một số tỉnh có tính
chất đại diện cho vùng như: Hà Nội - trung tâm vùng, thủ đô của cả nước; Vĩnh
Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên - phía Bắc vùng ĐBSH; Thái Bình, Nam Định - phía
Nam vùng ĐBSH.
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu việc phát huy giá trị GĐTT trong xây
dựng GĐVH ở vùng ĐBSH thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Trung
ương 5, khoá VIII (1998) về xây dựng văn hoá, GĐVH đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận và phương pháp luận
- Luận án thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước về vấn đề gia đình và xây dựng GĐVH ở Việt Nam hiện nay.
- Luận án cũng kế thừa tài liệu, công trình của các nhà nghiên cứu, các hoạt động
thực tiễn ở Việt Nam và thế giới liên quan đến vấn đề gia đình và xây dựng GĐVH.
- Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp cụ thể
để giải quyết nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.
4
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án
được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
William J. Goode, World Revolution and Family Patterns (Cách mạng thế
giới và các dạng thức gia đình), The Free Press [164]. Tác giả đã đề cập đến sự thay
đổi trong mô hình gia đình ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tiểu vùng Sahara và
các nước Ả rập trong nửa thế kỷ 20 với những thay đổi của thể chế chính trị của mỗi
quốc gia cũng như sự biến đổi trong khu vực. Theo đó, tác giả đã khảo sát, nghiên
cứu quá trình công nghiệp hóa (CNH), đô thị hóa tác động đến mọi mặt của đời
sống gia đình, làm biến đổi về quy mô, cấu trúc, vấn đề hôn nhân và các mối quan
hệ trong gia đình… từ đó, đưa ra các mô hình gia đình mới phù hợp với từng quốc
gia, khu vực.
Michael Anderson, Family structure in nineteeth century Lancashir (Hình
thái gia đình người Lancashir thế kỷ 19), Cambridge University press [163]. Nội
dung cuốn sách đề cập đến tác động của CNH, đô thị hóa đến mối quan hệ họ hàng
của các tầng lớp lao động thế kỷ 19 ở Lancashir và tại sao mọi người nên quan tâm,
duy trì mối quan hệ họ hàng hơn là đối với những người khác trong đời sống xã hội
của họ. Tác giả đã trình bày về cơ cấu hộ gia đình, mô hình cư trú, doanh thu dân số
trong các thị trấn, mô hình di cư, tỷ lệ đói nghèo, vai trò của gia đình trong tìm nhà
và việc làm cho người thân. Ông cũng đề cập đến tuổi kết hôn, xung đột giữa cha
giả đã chỉ ra rằng, gia đình dựa trên cơ sở hôn nhân nhưng không chỉ dừng lại ở đó,
nó còn bao gồm cả mối liên hệ với các thế hệ trong gia tộc, dòng họ. Cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa (TCH) và hội nhập quốc
tế đã tác động ngày càng sâu, rộng đến gia đình, làm biến đổi cấu trúc, thậm chí là
bản chất của nhiều gia đình trên thế giới. Qua nghiên cứu, các tác giả cũng dự báo
tương lai sẽ tồn tại nhiều loại mô hình gia đình khác nhau, trong đó đáng lưu ý là
gia đình đồng tính (phá vỡ bản chất, chức năng của GĐTT).
7
Elaine Leeder, The Family in Global Prespective - A Gendered Journey (Gia
đình theo quan điểm toàn cầu - Hành trình giới tính), Sage Publications
[160]. Tác giả Elaine Leeder đã sử dụng nhiều quan điểm lịch sử, lý luận, so sánh
khác nhau để mở rộng sự hiểu biết liên văn hóa về cuộc sống gia đình. Cuốn sách
khảo sát sự đa dạng cuộc sống gia đình ở các nước phương Tây đối chiếu chúng với
những câu chuyện gia đình ở các vùng của Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh.
Sau khi so sánh lịch sử của gia đình ở nhiều nơi trên thế giới, Elaine Leeder đã phân
tích sự tác động của TCH đến cấu trúc gia đình, hành vi giới tính, các mối quan hệ
giữa các thế hệ trong gia đình, dân tộc, tôn giáo, sắc tộc và các vấn đề về giáo dục,
bạo lực, chính sách xã hội liên quan đến đời sống gia đình. Cuốn sách đã được đánh
giá là một cuốn sách giáo khoa hỗ trợ, bổ sung lý tưởng cho các khóa học về hôn
nhân, gia đình, đồng thời là nguồn tài liệu quý phục vụ cho nghiên cứu gia đình,
công tác xã hội, xã hội học, tâm lý và nghiên cứu phụ nữ…
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu về gia đình và giá trị gia đình truyền
thống
Mai Huy Bích, Xã hội học gia đình [8]. Tác giả tiếp cận gia đình từ góc độ
nghiên cứu xã hội học với những nội dung chia làm bảy chương bàn về: định nghĩa
gia đình; quan điểm xã hội học về gia đình; sự đa dạng của các hình thái gia đình;
hôn nhân và gia đình theo quan điểm giới; đường đời và sự phát triển, biến đổi của
nghiên cứu vấn đề quản lý gia đình ở huyện Kiến Thụy, Hải Phòng…[101, tr.338].
Gia đình truyền thống và giá trị GĐTT là vấn đề được nhiều tác giả quan
tâm, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Qua tổng quan các công trình nghiên
cứu, có thể chia thành ba nhóm nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về các nghi thức, nghi lễ, những tập tục, ứng xử
trong gia đình cụ thể: thờ cúng tổ tiên trong gia đình, cưới xin truyền thống, giao
tiếp vợ chồng… chủ yếu với mục đích hướng dẫn thực hiện, thực hành. Ví dụ như:
Lê Minh, Những tình huống ứng xử trong gia đình [85]. Cuốn sách đề cập
đến những điều thường gặp trong gia đình như ứng xử giữa vợ chồng, cha mẹ với
con cái, giữa ông bà với cháu chắt, giữa anh chị em với nhau và giữa gia đình với
dòng họ, cộng đồng, xã hội. Tác giả phân tích những tình huống ứng xử diễn ra
trong gia đình của người Việt Nam trong lịch sử đã tác động rất lớn, quyết định đến
việc hình thành nhân cách trẻ thơ. Từ đó, giúp người đọc rút ra
9
bài học, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho con người trong mỗi gia đình
hiện nay.
Vũ Văn Khiếu, Đất lề quê thói (phong tục Việt Nam) [64]. Tác giả đã thông
qua 12 chương viết với các phân đoạn nhỏ và sử dụng nhiều câu ca dao, tục ngữ,
thơ, vè… để thể hiện về văn hoá, phong tục Việt Nam. Cuốn sách đã được các nhà
nghiên cứu đánh giá cao. Nội dung của nó thể hiện khá đầy đủ và sâu sắc về phong
tục của Việt Nam. Cuốn sách được coi như một bách khoa toàn thư thu nhỏ về văn
hóa và phong tục cổ truyền Việt Nam. Thông qua nội dung cuốn sách, người đọc sẽ
thấy đất lề, quê thói còn tồn tại lâu dài, nó đã ăn sâu vào tiềm thức, tâm thức của
người Việt.
Bùi Xuân Mỹ, Lễ tục trong gia đình người Việt Nam [90]. Cuốn sách được
kết cấu thành 9 chương nội dung bao gồm: Chương 1 - Sơ sinh, thơ ấu; chương 2 Trưởng thành; chương 3 - Hôn nhân; chương 4 - Về già; chương 5 - Tang ma;
chương 6 - Quan hệ; chương 7 - Thờ phụng tổ tiên; chương 8 - Tín ngưỡng dân gian
và chương 9 - Các lễ tết trong năm. Cuốn sách đã phân tích các lễ tục trong gia đình
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Công trình: Giá trị tinh thần
truyền thống Việt Nam của Trần Văn Giàu
[42]. Nội dung của cuốn sách đã khái quát cơ bản các khái niệm về giá trị tinh thần
truyền thống của dân tộc như: tinh thần yêu nước, đoàn kết, tấm lòng nhân ái, đức
tính trung thực, cần cù, sự sáng tạo, lạc quan, khiêm tốn, giản dị… trong cuộc sống
và những ảnh hưởng của lịch sử đối với sự phát triển các giá trị ấy trong quá khứ,
hiện tại. Thông qua cuốn sách, giúp tác giả có cái nhìn toàn diện, chính xác hơn về
cơ sở hình thành, cũng như nội dung, biểu hiện của những giá trị tinh thần truyền
thống của dân tộc Việt Nam trong đó có giá trị GĐTT. Những giá trị tinh thần ấy,
đều thấm đượm trong các mối quan hệ từ trong gia đình, dòng họ, làng xã đến cộng
đồng, xã hội và trở thành sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Trần Quốc Vượng, Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm [157]. Cuốn sách
là một trong những công trình mang tính tổng hợp, “tập đại thành” đối với những
người làm công tác nghiên cứu văn hóa. Mỗi chương sách thực sự là một khám phá
chứa đựng những ý tưởng khoa học mới, độc đáo, khác lạ và sâu sắc giúp gợi mở
những hướng nghiên cứu mang tính liên ngành, đa ngành cho văn hóa học hiện nay
nói chung và cho các nhà nghiên cứu văn hóa khi tiếp cận nghiên cứu văn hóa Việt
Nam xưa - nay, giá trị GĐTT… nói riêng cả về nội dung lẫn
11
phương pháp tiếp cận. Trong cuốn sách, tác giả luận án quan tâm đến phần “những
vấn đề chung”, “văn hóa dân gian”, “ứng xử” và đặc biệt là nội dung “tâm thức văn
hóa cư dân châu thổ Bắc Bộ” từ trang 487 đến trang 500. Ở phần nội dung này, Giáo
sư đã lý giải việc gọi châu thổ Bắc Bộ, phân tích những điều kiện tự nhiên, đặc điểm
kinh tế, xã hội để hình thành nên văn hóa ứng xử của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ
trong xã hội nông nghiệp cổ truyền.
Phạm Xuân Nam, Gia đình Việt Nam - các giá trị truyền thống [92]. Trong
cuốn sách này, tác giả đã khẳng định: trải qua nhiều thế hệ gia đình Việt Nam đã
được hình thành, phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng
cứu từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như: văn hoá, tâm lý, giáo dục, mỹ học, lịch
sử… Ngoài những nội dung về gia đình nêu trên, cuốn sách cũng đã khắc họa được
bức tranh hiện thực về một số vấn đề “bệnh lý xã hội” đã và đang xuất hiện trong
một bộ phận các gia đình Việt Nam hiện nay như: những bất hòa trong đời sống vợ
chồng, ly thân, ly hôn, quan hệ cha mẹ - con cái, các vấn đề liên quan đến bạo lực
gia đình, bạo hành trẻ em… cùng những thách thức mà gia đình phải vượt qua để
phát huy tốt các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam trong xây dựng gia đình
mới, GĐVH.
Nguyễn Thế Long, Gia đình - Những giá trị truyền thống [70]. Dưới góc độ
của nhà giáo dục và xã hội học, tác giả Nguyễn Thế Long đã trình bày những bài
tiểu luận ngắn các quan điểm của mình về những giá trị truyền thống văn hóa của
gia đình và dân tộc mà ngày nay cần phải kế thừa, phát huy trong xây dựng gia đình
mới, GĐVH. Trong cuốn sách, tác giả cho rằng, giáo dục con em tiếp thu và phát
huy giá trị truyền thống lâu đời của gia đình là việc làm cần thiết và rất quan trọng
trong xây dựng gia đình và đất nước hiện nay. Nội dung giáo dục bao gồm các giá
trị truyền thống như: truyền thống hiếu học và “Tôn sư trọng đạo”; truyền thống đạo
đức; truyền thống tâm linh và truyền thống thẩm mỹ... Theo ông, những nội dung
giáo dục trên chính là giá trị truyền thống lâu đời của một gia đình, một dòng họ, nó
có một sức mạnh vô hình thúc giục, động viên mọi người trong gia đình, dòng họ
vươn lên thực hiện những hoài bão lớn đồng thời, góp phần tạo nên truyền thống,
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Tóm lại, ở cả ba nhóm công trình nghiên cứu về GĐTT và giá trị GĐTT như
trên, mặc dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản đều nhìn nhận văn
13
hoá GĐTT dưới góc độ đề cao như là những chuẩn mực mà con người, gia đình
hiện nay cần kế thừa, phát huy.
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu về thực trạng và xu hướng biến đổi của
gia đình Việt Nam hiện nay
xã hội cũ vẫn còn tồn tại dẫn đến chênh lệch giới tính khi sinh, nam nhiều hơn nữ
gia tăng nhanh trong những năm gần đây. Mặt trái của sự tác động đẩy nhanh quá
trình đô thị hóa nông thôn khiến cho việc giáo dục giới tính, sức khỏe vị thành niên
gặp nhiều khó khăn và suy giảm ý thức cộng đồng ở nông thôn - một trong những
nét đặc trưng cơ bản của xã hội truyền thống.
Thứ tư, nghiên cứu về tính đa dạng của gia đình. Các bài viết đã cung cấp
những thông tin phong phú về đặc điểm gia đình ở các khu vực, các dân tộc, tôn
giáo và các loại hình gia đình khác nhau. Dưới sự tác động của kinh tế thị trường,
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đã làm cho quy mô, mức sinh, tuổi kết hôn, việc
chăm sóc gia đình, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, mối quan hệ gia đình, dòng họ…ở
các gia đình có sự biến đổi. Đáng lưu ý, trong phần IV, là sự xuất hiện và đang tăng
lên nhanh chóng một loại gia đình mới - gia đình quốc tế, trong đó nổi bật là các cô
dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài thông qua môi giới…
Thứ năm, nghiên cứu về chính sách và hành động đối với sự phát triển của
gia đình. Nội dung các bài viết đề cập đến nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng và
vị trí của gia đình trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước của Đảng, của Nhà nước.
Nhiều văn bản pháp luật, chính sách, đề án, chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm xây
dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc… đã được ban hành và triển
khai. Tuy nhiên, hoạt động triển khai và thực thi chính sách gia đình vẫn còn nhiều
hạn chế, bất cập và gặp không ít khó khăn.
Những bài viết đã có cách đánh giá khách quan, khoa học về những biến đổi
trên các khía cạnh khác nhau của gia đình. Đây chính là nguồn tài liệu tham khảo
quý góp phần quan trọng trong việc hình thành luận cứ khoa học cho việc xây dựng
luật pháp, các nghị định, chính sách xã hội nhằm phát huy tối đa vai trò, vị thế to
lớn của gia đình trong công cuộc CNH, HĐH đất nước.
Nguyễn Linh Khiếu, Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hoá xã hội ở
nông thôn [63]. Trong nội dung cuốn sách, tác giả khẳng định được vị trí, vai trò to
lớn của gia đình đối với sự phát triển cá nhân và xã hội cũng như vai trò của phụ nữ
nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời chỉ ra
Ngoài những cuốn sách nêu trên còn có một số Luận án tiến sĩ nghiên cứu
thực trạng, xu hướng biến đổi của gia đình do tác động của kinh tế thị trường và
toàn cầu hóa như:
16
Nguyễn Thanh Bình, Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở lứa tuổi
thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay [11]. Tác giả đã phân tích, làm rõ vai
trò của giáo dục gia đình, những vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay trong giáo dục gia
đình, nhất là giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên ở gia đình thành phố trong bối cảnh
KTTT, mở cửa và hội nhập quốc tế. Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp phù
hợp góp phần tăng cường vai trò, chức năng giáo dục gia đình đối với con cái, lứa
tuổi thiếu niên ở thành phố.
Nghiêm Sĩ Liêm, Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước
ta hiện nay [68]. Luận án đã làm rõ các khái niệm “Gia đình”, “Giáo dục gia đình”,
“Vai trò của giáo dục gia đình”, “Thế hệ trẻ”, chỉ ra đặc điểm cũng như nội dung
của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ. Luận án đã xác định được những yếu tố ảnh
hưởng đến giáo dục gia đình, đánh giá thực trạng giáo dục gia đình đối với thế hệ
trẻ ở nước ta và phân tích được những nguyên nhân cơ bản của thực trạng cũng như
những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết như: vẫn còn nhiều bất cập trong việc giáo
dục đạo đức, học tập văn hóa, giáo dục lao động và rèn luyện tính tự lập cho trẻ
giữa các vùng, miền, các giới; giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ chưa được các gia
đình quan tâm đúng mực… Từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp góp phần
nhằm nâng cao vai trò của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở nước ta trong thời
kỳ đổi mới.
Nguyễn Thị Thọ, Đạo đức gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay [125]. Luận án đã phân tích, làm rõ vai trò của đạo đức gia đình, tác
động của KTTT đến đạo đức gia đình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất các
giải pháp phù hợp nhằm góp phần xây dựng, hoàn thiện đạo đức gia đình theo
hướng tiến bộ, tích cực.
đang đặt ra hiện nay cần giải quyết: nhiều mâu thuẫn mới phát sinh trong gia đình
do việc đề cao thái quá các giá trị, chuẩn mực văn hóa của gia đình hiện đại làm
giảm tính bền vững của gia đình Việt Nam; bạo lực gia đình diễn biến phức tạp, khó
kiểm soát phá vỡ giá trị, chuẩn mực hòa thuận, yêu thương trong gia đình Việt Nam
hiện nay; sự gia tăng các hiện tượng ngoại tình, ly thân, ly hôn và xuất hiện một bộ
phận giới trẻ coi thường các giá trị, chuẩn mực văn hóa của GĐTT, cổ xúy cho văn
hóa, lối sống phương Tây. Từ đó, luận án đề xuất bốn giải pháp chủ yếu nhằm xây
dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay, cụ thể: đẩy mạnh phát triển kinh tế và các
dịch vụ tư vấn, hỗ trợ gia đình; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính
sách, pháp luật về gia đình; tôn trọng và đề cao các
18
giá trị, chuẩn mực trong quan hệ hôn nhân, gia đình; đẩy mạnh hoạt động xây dựng
GĐVH nhằm tôn vinh các giá trị, chuẩn mực tốt đẹp của văn hóa gia đình Việt
Nam.
1.1.2.3. Các công trình nghiên cứu về gia đình văn hóa và xây dựng gia
đình văn hóa ở Việt Nam
Trần Hữu Tòng, Trương Thìn, Xây dựng Gia đình văn hóa trong sự nghiệp
đổi mới [135]. Cuốn sách bao gồm tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu
khác nhau về gia đình, xây dựng GĐVH trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Trong
bài Gia đình Việt Nam và xây dựng văn hóa gia đình trong công cuộc đổi mới ở
nước ta của Lê Thi, tác giả đã chỉ ra rằng: gia đình Việt Nam chịu sự tác động mạnh
của điều kiện kinh tế, xã hội đương thời nhưng lại có tính ổn định và độc lập tương
đối trong sự phát triển. Nó có tính quy luật vận động riêng, trong đó, các “quan hệ
kinh tế không đóng vai trò yếu tố cơ bản quyết định cuối cùng mà là các quan hệ
máu mủ, tình cảm và trách nhiệm” [122]. Chúng ta không thể đơn giản chỉ lấy yếu
tố kinh tế, sự biến động của xã hội để giải thích mọi hiện tượng xảy ra trong đời
sống tinh thần, tình cảm và biến đổi các mối quan hệ trong gia đình. Phải xem xét,
nghiên cứu sự biến đổi cấu trúc, chức năng, các mối quan hệ trong gia đình từ cả hai
Đỗ Thị Thạch, Về xây dựng Gia đình văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng Đại
hội XI của Đảng [119]. Ở bài viết này, tác giả đã phân tích những điểm mới trong
Văn kiện Đại hội XI của Đảng về vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hóa
như: phân tích về vị trí, vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới, đồng thời
từ vị trí, vai trò đó tác giả đã đưa ra các phương hướng, giải pháp để xây dựng thành
công GĐVH trong tương lai theo ánh sáng của Đại hội XI.
An Thị Ngọc Trinh, Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc trong xây
dựng văn hoá gia đình Việt Nam hiện nay [140]. Trong luận án này, tác giả tiếp cận
từ những giá trị văn hoá của dân tộc để phân tích, đánh giá và rút ra việc giữ gìn, kế
thừa, phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc trong việc xây dựng văn
hoá gia đình Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, còn có các bài báo như: Trần Thị Tuyết Mai, Văn hoá gia đình và
xây dựng Gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập [77]. Nội dung bài viết đã: đề cập
đến vai trò của gia đình và văn hóa gia đình trong đó có văn hóa GĐTT; chỉ ra
những thuận lợi, khó khăn của gia đình và văn hóa gia đình trước thách thức của
tiến trình hội nhập; rút ra những nội dung giá trị gia đình văn hóa và xây dựng giá
trị văn hóa gia đình trong thời kỳ mới; Phan Văn Phờ có bài, Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh vào công tác xây dựng Gia đình văn hóa [96]. Bài viết đã làm rõ
20
được tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình, chỉ ra được tác động của đổi mới và hội
nhập đến gia đình Việt Nam hiện nay làm cho nhiều giá trị đạo đức trong gia đình bị
mai một, những chuẩn mực tình nghĩa, thủy chung, hòa thuận bị đảo lộn… từ đó, đề
xuất các giải pháp khả thi nhằm xây dựng gia đình Việt Nam trong bối cảnh đổi mới
và hội nhập quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.1.2.4. Các công trình nghiên cứu về gia đình vùng đồng bằng sông Hồng
Mai Huy Bích, Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng [7]. Tác giả nghiên
cứu đặc điểm, cấu trúc, chức năng của các gia đình vùng ĐBSH từ góc độ dân tộc
học và xã hội học. Trên cơ sở đó, làm rõ giữa tính cộng đồng và chức năng tái sinh