LUẬN án TIẾN sĩ HUY ĐỘNG vốn PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HÀNG hóa ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG nước TA - Pdf 39

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước nông nghiệp, có gần 80% dân số sống ở nông thôn
và 60,67% lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp [2, tr. 2]. Nông nghiệp tạo ra 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP),
40% giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Do đó, nông nghiệp là ngành giữ
vị trí trọng yếu trong đời sống kinh tế - xã hội và phát triển đất nước. Đảng
Cộng sản Việt Nam khẳng định:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là
một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước...
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp hàng
hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh
tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ
tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu [37, tr. 94-96].
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, việc huy động tốt các nguồn vốn,
đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu vốn đối với phát triển nông nghiệp, nông
thôn là vấn đề trọng tâm và có ý nghĩa quyết định.
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong hai vùng nông nghiệp
trọng điểm của cả nước. Hàng năm ĐBSH sản xuất ra 17,5% sản lượng lương
thực có hạt, 20% sản lượng lúa gạo, 19% GDP nông, lâm sản cả nước. Trong
những năm đổi mới, nông nghiệp vùng ĐBSH có sự chuyển biến khá mạnh
mẽ, phát triển đa dạng, phong phú và đạt trình độ thâm canh cao hơn các


2

vùng, miền khác trong cả nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển một nền
nông nghiệp hàng hóa (NNHH) hiện đại, hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế

ý là các công trình: Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn trong nước
phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ kinh tế của Nguyễn
Văn Lai, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1996; Những giải pháp
tài chính huy động vốn trong nước để đầu tư phát triển kinh tế Việt Nam,
Luận án phó tiến sĩ kinh tế của Phạm Ngọc Quyết, Trường Đại học Tài chính
- Kế toán Hà Nội, Bộ Tài chính, 1996; Tích tụ và tập trung vốn trong nước để
phát triển công nghiệp nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần
Xuân Kiên, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998; Đầu tư trong
nông nghiệp - thực trạng và triển vọng của phó tiến sĩ Nguyễn Sinh Cúc và phó
tiến sĩ Nguyễn Văn Tiêm (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; Thị
trường vốn tín dụng nông thôn và sử dụng vốn tín dụng của hộ nông dân
huyện Gia Lâm, Hà Nội, Luận án tiến sĩ kinh tế của Kim Thị Dung, Trường Đại
học Nông nghiệp I Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1999;
Hoàn thiện chính sách tài chính hỗ trợ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông
thôn ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Học viện Tài chính, Bộ
Tài chính, Hà Nội, 2002...
Ngoài ra, còn có các bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề vốn và vai
trò của vốn đối với phát triển kinh tế được đăng tải trên sách, báo, tạp chí...
Hầu hết các công trình trên đã đề cập khá toàn diện, khái quát hoặc đi
vào phân tích từng mặt của phạm trù vốn, đầu tư vốn phát triển nền kinh tế
quốc dân nói chung, phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề huy động vốn phát triển
NNHH trên địa bàn vùng đồng bằng - nơi hàm chứa những đặc trưng riêng có
về tiềm năng huy động và khai thác vốn phát triển NNHH, gắn với thị trường
cũng như những bức xúc đặt ra trong thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu
như đề tài của luận án này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:




phân biệt huy động vốn để phát triển nông nghiệp với huy động vốn phát triển
nông thôn sẽ chỉ mang tính chất tương đối.
Bên cạnh đó, thực tế có nhiều loại tín dụng được huy động để phát
triển NNHH, luận án tập trung nghiên cứu hình thức tín dụng chính thống còn
tín dụng phi chính thống chỉ được xem xét như một yếu tố có liên quan.
Phát triển NNHH vùng ĐBSH bao gồm nhiều loại sản phẩm, luận án
chủ yếu nghiên cứu một số sản phẩm đặc trưng của vùng như: lúa gạo, rau
màu, hoa quả và một số sản phẩm chăn nuôi.
- Về không gian: Luận án chọn vùng ĐBSH làm địa bàn khảo sát,
nghiên cứu tình hình huy động vốn trong nước phát triển NNHH.
- Về thời gian: Hiện trạng huy động vốn trong nước phát triển NNHH
vùng ĐBSH được phân tích thông qua các số liệu trong thời kỳ đổi mới kinh
tế, chủ yếu là trong những năm gần đây; dự báo vốn phát triển lĩnh vực này ở
ĐBSH từ nay đến 2010.
Đề tài thuộc chuyên ngành kinh tế chính trị nên luận án chỉ tập trung
đề xuất những phương hướng và giải pháp có tính chất định hướng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Dựa vào những luận điểm cơ bản của các nhà kinh điển chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về vốn và huy động vốn phát triển kinh tế nông thôn nói chung, nông nghiệp
nói riêng; tham khảo một số lý thuyết kinh tế hiện đại, đặc biệt là lý thuyết về
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Mặt khác, luận án kế thừa có chọn lọc
những công trình khoa học có liên quan đến vấn đề huy động vốn phát triển
NNHH.
- Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, chủ yếu là
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin;
coi trọng phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê; kết




1.1. VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
HÀNG HÓA

1.1.1. Khái niệm vốn
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Việt Nam là nước đang
phát triển, có nhu cầu vốn rất lớn để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tuy
nhiên, do tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân thấp, khả năng thu hút
vốn từ nước ngoài còn hạn hẹp nên lượng vốn đầu tư phát triển kinh tế rất
thiếu. Vì vậy, nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn sẽ là tiền đề thúc
đẩy việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng vốn để đầu tư phát triển nền
kinh tế nói chung, NNHH nói riêng, hội nhập tốt vào nền kinh tế thế giới.
Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau.
Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái kinh tế trước C.Mác đã
dày công nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là
phạm trù kinh tế.
Kế thừa chọn lọc tư tưởng của các nhà tiền bối, khi nghiên cứu sự
chuyển hóa của tiền thành tư bản, C.Mác khẳng định: "Như vậy là giá trị ứng
ra lúc ban đầu không những được bảo toàn trong lưu thông, mà còn thay đổi
đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá
trị. Chính sự vận động ấy biến nó thành tư bản" [49, tr. 228].
Khẳng định trên của C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư
bản (vốn) trong phát triển kinh tế. Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng
của tư bản là sinh lời. Tuy nhiên, để giá trị trở thành tư bản và tư bản sinh lời


8


9

sản được giá trị hóa. Mặt khác, với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải
được đầu tư vào hoạt động sản xuất - kinh doanh để tạo ra hàng hóa, dịch vụ
nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai. Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận
động và đảm nhiệm chức năng sinh lời.
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn bản chất của vốn, trên cơ sở đó có biện
pháp đúng đắn khi huy động và sử dụng vốn đầu tư cho phát triển, cần nhận
thức sâu sắc một số vấn đề sau:
Thứ nhất, về các hình thái biểu hiện của vốn
- Xét về mặt trừu tượng, vốn là hình thái giá trị. Giá trị đó được ứng ra
để chuyển hóa nó thành các yếu tố cấu thành quá trình sản xuất, trải qua quá
trình sản xuất, giá trị lớn lên không ngừng.
- Xét về mặt cụ thể, vốn được biểu hiện rất phong phú, đa dạng, bao
gồm: Tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính. Những tài sản này
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ, đồng thời làm tăng giá trị. Nói cách khác, vốn là giá trị thực của
tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính đưa vào đầu tư để tạo ra
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Tài sản hữu hình là những tài sản tồn tại dưới dạng cụ thể của vật
chất. Tài sản hữu hình bao gồm hai bộ phận: Một là, những tài sản hữu hình
phục vụ trực tiếp cho sản xuất, như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, công cụ,
nguyên - nhiên vật liệu, bán thành phẩm v.v... Về thực chất, những tài sản hữu
hình này chính là sự cụ thể hóa năng lực sản xuất của một đơn vị kinh tế cơ sở
hay xét trên phạm vi rộng lớn - toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quyết định tới
hiệu quả sản xuất - kinh doanh; hai là, những tài sản hữu hình phục vụ gián
tiếp cho sản xuất, như: trụ sở văn phòng, trang bị nội thất văn phòng, phương
tiện đi lại, nhà ở v.v... Mặc dù những tài sản hữu hình này là cần thiết cho
hoạt động sản xuất - kinh doanh nhưng chỉ tác động gián tiếp đến việc gia




11

khi và chỉ khi tiền đại diện cho một lượng giá trị hàng hóa, dịch vụ, hay tài sản
nhất định, được "ném" vào lưu thông hoặc tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh để kiếm lời. Bởi vậy, những đồng tiền được cất trữ hay đem tiêu
dùng trong sinh hoạt hàng ngày, không có khả năng sinh ra lợi nhuận không
phải là vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, hình thức vận động của tiền với tư cách
là vốn do phương thức đầu tư cụ thể quyết định. Trên thực tế, sự vận động của
vốn có ba hình thức:
TLSX
+T-H
... SX ... H' - T': Đây là hình thức vận động của
SLĐ
vốn trong các doanh nghiệp sản xuất. Thực chất, đó cũng chính là mô hình tái
sản xuất xã hội nói chung.
+ T - H - T': Đây là hình thức vận động của vốn trong các doanh
nghiệp thương mại - dịch vụ.
+ T - T': Đây là hình thức vận động của vốn trong các tổ chức tài
chính trung gian.
Trong đó:
T:

Lượng tiền ứng ra để đầu tư phát triển

H:

Hàng hóa với tư cách là tư liệu sản xuất, sức lao động, hàng hóa dự
trữ...

được xem là cơ sở phát sinh quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường. Như
vậy, vốn hiển nhiên là đối tượng trao đổi, mua bán trên thị trường vốn. Với tư
cách là hàng hóa, vốn có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng; có chủ sở hữu
và là một trong những yếu tố đầu vào của một quá trình sản xuất.
Thứ ba, vốn là hàng hóa đặc biệt
Tính đặc biệt của hàng hóa thể hiện ở chỗ, vốn có khả năng sinh lời.
Với tư cách là hàng hóa đặc biệt, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn
tách rời nhau. Đặc điểm này của vốn không có ở các loại hàng hóa thông
thường. Chủ sở hữu vốn sẽ nhận được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất
quyền sử dụng vốn) khi bán quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu
tư). Nhà đầu tư khi mua quyền sử dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi
phí (giá mua quyền sử dụng vốn) trả cho chủ sở hữu và nhận về mình quyền
sử dụng vốn. Nhờ có sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn


13

làm cho vốn trở nên linh hoạt trong lưu thông và sinh lời. Cụ thể hơn, nhờ có
sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn mà khi sử dụng
chúng trong hoạt động đầu tư, vốn không những không bị "tan biến" giá trị và
giá trị sử dụng mà còn bảo toàn, phát triển giá trị và giá trị sử dụng của chúng.
C.Mác đã chỉ rõ: "Hàng hóa tư bản có đặc tính là: Khi giá trị sử dụng của nó
được đem tiêu dùng đi, hàng hóa - tư bản không những giữ được giá trị và giá trị
sử dụng của nó, mà còn làm cho giá trị sử dụng đó tăng thêm nữa" [49, tr. 537].
Tất nhiên, để đồng vốn phát sinh lợi nhuận (tăng giá trị), nó phải được
đặt trong một môi trường cụ thể, có sự tương tác của các yếu tố thuộc môi
trường kinh doanh. Từ môi trường này nhà đầu tư có thể lựa chọn kênh cung
cấp vốn, cơ chế huy động và hình thức đầu tư.
Thứ tư, vốn có mối quan hệ mật thiết với thời gian
C.Mác viết:

được tại sao vốn luôn có giá trị về mặt thời gian (gắn với thời gian).
Từ những phân tích trên đây, theo chúng tôi, có thể hiểu, vốn là tổng
giá trị của những tài sản (bao gồm tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản
tài chính) tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất - kinh
doanh nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai.
Trong giới hạn, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, luận án chỉ đề cập
đến vấn đề huy động vốn trong nước vào phát triển NNHH ở vùng ĐBSH. Cụ
thể là:
- Vốn trong nước là tổng giá trị của những tài sản (bao gồm tài sản
hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính), được hình thành từ các nguồn
lực kinh tế và sản phẩm thặng dư của nhân dân lao động ở một nước, tham gia
trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất - kinh doanh nhằm mục tiêu có
thu nhập trong tương lai.
- Vốn với tư cách là giá trị, biểu hiện dưới hình thái tiền, được huy
động để đầu tư vào phát triển NNHH. Cụ thể hơn, vốn đầu tư phát triển


15

NNHH là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được
sử dụng vào phát triển sản xuất - kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
Vốn có vai trò to lớn trong việc tạo ra của cải vật chất, đẩy nhanh nhịp
độ tăng trưởng kinh tế. Huy động vốn có hiệu quả; cung ứng đầy đủ và kịp
thời vốn cho nền kinh tế là một trong những tiền đề quan trọng đẩy mạnh phát
triển nền kinh tế quốc dân nói chung, NNHH nói riêng. Tuy vậy, trong mỗi
quyết định đầu tư cụ thể lại đòi hỏi không chỉ lượng vốn đủ lớn mà còn yêu
cầu một hay nhiều loại vốn khác nhau. Thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu phân
chia và xác định rõ từng loại vốn để có biện pháp huy động, sử dụng và quản
lý vốn có hiệu quả.
Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân chia vốn

sở hữu của công ty cổ phần được hình thành thông qua huy động vốn góp của
cổ đông; vốn chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn được hình thành
thông qua vốn góp của các thành viên v.v...
Vốn vay là vốn huy động được từ bên ngoài để bổ sung, làm tăng
lượng vốn của chủ thể kinh doanh, đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của quá
trình sản xuất. Vốn vay có thể huy động từ: Vay trong nước và vay ngoài
nước. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, vay vốn ngoài nước để phát triển
kinh tế không phải là công việc quá khó đối với các nước đang phát triển và
kém phát triển. Song, vấn đề quan trọng là quản lý và sử dụng vốn vay ngoài
nước ra sao cho có hiệu quả vẫn còn là vấn đề rất nan giải đối với các nước
nghèo và kém phát triển. Nền kinh tế thị trường càng phát triển, vốn vay
sẽ càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của một chủ thể sản xuất kinh doanh.
+ Dựa vào mục đích sử dụng, không chỉ có vốn sản xuất trực tiếp
phục vụ cho quá trình sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ, hàng hóa mà còn


17

cần vốn phục vụ gián tiếp cho sản xuất, bao gồm khối lượng lớn và phong
phú hệ thống kết cấu hạ tầng, các công trình công cộng... [44, tr. 143].
+ Dựa vào giá trị của vốn đầu tư trong thực tế và những chứng chỉ có
giá (cổ phiếu, trái phiếu...), vốn chia thành hai loại: Vốn thực (tư bản thật) và
vốn ảo (tư bản giả) [69, tr. 14] v.v...
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cách tiếp cận khác nhau cho ta
những quan niệm khác nhau về vốn, song, nhận thức về vốn, xét về bản chất
là thống nhất. Việc phân chia vốn thành nhiều loại khác nhau nhằm mục đích
hiểu rõ bản chất của phạm trù vốn - vốn là hình thái giá trị, là thứ hàng hóa
đặc biệt, có mối quan hệ mật thiết với thời gian. Cùng với việc hiểu rõ bản
chất của vốn còn nhận thức được tính đa dạng, nhiều vẻ và rất phức tạp của
vốn trong nền kinh tế thị trường. Đó là những căn cứ khoa học giúp các chủ

Như vậy, vốn đầu tư phát triển của một chủ thể kinh tế được huy động
từ hai nguồn: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước. Tuy nhiên,
ở những nước khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau trong huy động
vốn: Có những nước hoàn toàn dựa vào ngoại lực và ngược lại có những nước
quyết tâm phát huy nội lực, dựa vào "sức mình"; cũng không ít nước kết hợp
huy động cả hai nguồn vốn trong nước và ngoài nước để đẩy mạnh phát triển
kinh tế.
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng hệ quan điểm huy
động vốn xuyên suốt Đại hội lần thứ VII, VIII và IX, đó là: "Kết hợp nội lực
và ngoại lực hình thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước" [36, tr. 26].
Trong đó, "vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn ngoài nước có ý nghĩa
quan trọng" [34, tr. 228]. Đặc biệt, đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn
phải "dựa vào nội lực là chính" [37, tr. 94]. Cơ sở khoa học của hệ quan điểm
trên bắt nguồn từ:


19

Một là, việc nhận thức sâu sắc hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là một
nước đang phát triển đi lên từ nông nghiệp, phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh
ác liệt, khả năng tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế rất hạn hẹp, do đó, nếu chỉ
dựa vào "sức mình" sẽ rất khó đáp ứng được yêu cầu cao về vốn cho sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Hai là, trên cơ sở tìm hiểu những bài học thành công cũng như thất
bại của các nước trên thế giới trong việc huy động vốn ngoài nước để phát
triển kinh tế - xã hội, Đảng ta đã xác định rõ: "Vốn trong nước có ý nghĩa
quyết định". Bởi vì, chỉ khi nào nền kinh tế quốc dân tạo ra tiết kiệm từ chính
nội bộ của mình thì khi đó mới chủ động được vốn, bố trí, phân bổ, sử dụng
vốn một cách hiệu quả theo yêu cầu và mục đích phát triển kinh tế ở từng giai
đoạn cụ thể của cách mạng, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, bền

Năm

Tiết kiệm/Tổng sản phẩm
quốc nội (GDP)

Tiết kiệm thuần/Tổng sản
phẩm quốc nội (GDP)

1994

21,21

12,55

1995

22,86

14,22

1996

20,55

11,70

1997

21,63


Đơn vị tính: %
1996

1997

1998

100

100

100

73,12

76,44

82,27

- Tiết kiệm thuần

41,65

45,59

53,01

- Khấu hao tài sản cố định

31,47

chung, NNHH nói riêng.
Tiết kiệm trong nước bao gồm: tiết kiệm của ngân sách nhà nước
(NSNN), tiết kiệm của doanh nghiệp và tiết kiệm của dân cư (hộ gia đình) [44,
tr. 147].
- Tiết kiệm của NSNN, là phần vốn dành để chi cho đầu tư phát triển,
lấy từ thu NSNN, không tính các khoản: Viện trợ không hoàn lại của chính


22

phủ các nước và các tổ chức, cá nhân nước ngoài; các khoản vay trong nước
và ngoài nước của Chính phủ để bù đắp bội chi NSNN.
Tiết kiệm NSNN chi cho đầu tư phát triển thông qua cấp phát vốn trực
tiếp (nhà nước đầu tư trực tiếp) và cung ứng tín dụng nhà nước (nhà nước đầu
tư gián tiếp). Đầu tư gián tiếp của Nhà nước qua tín dụng là rất cần thiết trong
nền kinh tế thị trường và đó cũng là cơ sở quan trọng để hình thành các loại
vốn có nguồn gốc từ NSNN, như: tín dụng ngân hàng, các quỹ đầu tư tài
chính, các quỹ hỗ trợ vốn cho phát triển v.v... Đối với khu vực nông thôn,
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNN&PTNT), Ngân hàng
phục vụ người nghèo (nay là Ngân hàng chính sách xã hội), Quỹ tín dụng nhân
dân, ... là những tổ chức tín dụng quan trọng bậc nhất trong việc cung ứng
vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này.
Quy mô tiết kiệm của NSNN, về cơ bản phụ thuộc vào sự thay đổi của
tổng thu và tổng chi thường xuyên của NSNN.
Tổng thu NSNN phụ thuộc vào quy mô và chất lượng tăng trưởng của
nền kinh tế; chính sách động viên thu nhập vào NSNN của Chính phủ (chủ
yếu thông qua hệ thống thuế, phí, lệ phí); hiệu lực và hiệu quả của việc thu nộp thuế, phí, lệ phí trên thực tế. Thu NSNN tăng sẽ đẩy mạnh tích lũy vốn,
tăng chi cho đầu tư phát triển và ngược lại.
Chi NSNN cũng là nhân tố quan trọng tác động đến việc mở rộng hay
thu hẹp qui mô tiết kiệm NSNN. Cơ cấu, nội dung và quy mô chi NSNN, về cơ

hoạt động tái đầu tư, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp còn cộng với khoản
thu được từ khấu hao tài sản cố định.
Qui mô và tốc độ tăng trưởng của tiết kiệm doanh nghiệp phụ thuộc vào:
+ Quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp;
+ Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp, mà
trước hết là chính sách thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp);


24

+ Chính sách khuyến khích đầu tư;
+ Chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với DNNN,
vấn đề phân phối lợi nhuận còn chịu sự chi phối bởi chính sách phân phối lợi
nhuận của Nhà nước.
Ở Việt Nam hiện nay, trong khu vực doanh nghiệp, thu nhập cuối
cùng đã vượt tiêu dùng. Phần vốn tiết kiệm của doanh nghiệp chiếm khoảng
20% thu nhập cuối cùng [31, tr. 34]. Đây cũng là một trong những nguồn vốn
góp phần mở rộng quy mô phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hóa tập trung. Nhiều doanh nghiệp chế biến nông sản bước đầu đã
tìm đến với nông dân, huy động và tập trung vốn phát triển ngành nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Phương thức đầu tư chủ yếu của doanh
nghiệp là ứng vốn cho nông dân, hỗ trợ kỹ thuật, khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ngư; bao tiêu nông sản phẩm để chế biến; hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ
tầng phục vụ phát triển NNHH v.v... Song, qui mô tiết kiệm của khu vực
doanh nghiệp còn nhỏ bé (do hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh
của doanh nghiệp chưa cao) nên tác động của nguồn vốn doanh nghiệp đối
với phát triển NNHH còn hạn chế.
- Tiết kiệm của dân cư, là phần thu nhập để dành, chưa tiêu dùng của
các hộ gia đình.
Thu nhập của dân cư được hình thành từ thu nhập trong kết quả lao

kể vào phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn. Trong thời kỳ 1991 - 1995 đã huy động được 50% số vốn tiết kiệm của
dân cư đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thời kỳ 1996 - 2000, đã
huy động được trên 8.000 tỷ đồng, chiếm 15% tổng đầu tư toàn xã hội từ
nguồn vốn tiết kiệm của tư nhân và dân cư đầu tư phát triển nông nghiệp,
nông thôn [39, tr. 12], tập trung chủ yếu phát triển NNHH theo mô hình trang
trại, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thủy hải sản v.v...



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status