ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH KHẮC SANG
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
BỆNH SINH SẢN CHO LỢN NÁI TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN THANH
LỊCH XÃ BA TRẠI HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Chăn nuôi Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khóa học
: 2014 - 2018
Thái Nguyên, 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em
đã hoàn thành bản Khóa luận tốt nghiệp của mình. Để có được kết quả này
ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình
của Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, cán bộ, công nhân tại trại lợn nái Nguyễn
Thanh Lịch huyện Ba Vì, Hà Nội. Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm
khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận
tình dạy dỗ dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Đỗ Thị Lan
Phương đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp Đại học này.
Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp đạt
kết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình
và bạn bè. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý
báu đó.
Thái Nguyên, ngày
tháng
năm 2018
Sinh viên
ĐINH KHẮC SANG
: Thể trọng
KMnO4
: Kali pemanaganat
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................i
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ..................................................................... iii
MỤC LỤC.............................................................................................................iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................ 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ...................................................... 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ................................................................. 3
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập .................. 3
2.1.2. Cơ cấu đàn lợn của trại ............................................................... 4
2.2. Cơ sở khoa học thông tin của đề tài ...................................................... 5
2.2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................... 5
2.2.2. Chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái .............. 17
2.3. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ............................... 21
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ............................................ 21
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước .............................................. 23
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ...... 26
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ,
trong đó ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng và đem lại nhiều
lợi ích cho con người, không những cung cấp thực phẩm hàng ngày, có tỷ
trọng cao và chất lượng tốt cho con người, mà còn là nguồn cung cấp sản
phẩm cho các ngành công nghiệp chế biến, đồng thời với thực tế nước ta là
nước nông nghiệp thì chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho
ngành trồng trọt.
Xã hội ngày nay càng phát triển thì nhu cầu đời sống người dân ngày
càng cao. Đặc biệt là nhu cầu về nguồn thực phẩm có chất lượng cao, an toàn
cho sức khỏe hợp với giá cả thị trường. Trên thực tế, thịt lợn là mặt hàng có
giá cả ổn định tương đối cao và được tiêu thụ trên toàn thế giới. Điều này
chứng tỏ tính ưu việt cho ngành chăn nuôi lợn trong nước phát triển kinh tế và
ổn định thị trường. Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và
ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tư kinh phí phát triển đàn lợn để tăng cả
chất lượng và số lượng nhằm cung cấp cho thị trường khối lượng sản phẩm
lớn chất lượng đảm bảo. Tuy nhiên, việc phát triển đàn lợn gặp nhiều khó
khăn do điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt. Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
không phù hợp, thiếu cán bộ có chuyên môn điều trị bệnh không kịp thời.
Làm gia tăng dịch bệnh, thiệt hại lớn đến người chăn nuôi đặc biệt là những
thiệt hại do bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng. Các bệnh này xảy ra phổ biến ở
tất cả các lứa đẻ, làm giảm khả năng sinh sản giảm tỷ lệ thụ thai, chết thai và
lưu thai. Do đó, ảnh hưởng tới việc phát triển cơ cấu đàn lợn, giảm sự phát
triển ngành chăn nuôi lợn nói chung và gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.
khoảng 28.000 lợn con.
Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 2 kỹ sư chính, 2 tổ
trưởng và 12 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm
cho người lao động trong vùng và các tỉnh lân cận.
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng
chống dịch bệnh cho đàn lợn nái của trại được thực hiện chủ động và tích
cực. Vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn luôn là
vấn đề được đặc biệt quan tâm. Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vật
nuôi, dụng cụ chăn nuôi, sinh sản,…Thì việc vệ sinh chuồng trại, cải tạo tiểu
khí hậu chuồng nuôi luôn được cán bộ thú y và đội ngũ công nhân kỹ thuật
thực hiện chặt chẽ.
Chuồng trại được thiết kế và xây dựng theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật
đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Sau mỗi lứa lợn, chuồng
trại đều được tẩy uế bằng phương pháp: rửa sạch ô nhốt lợn, để khô sau đó
4
phun thuốc sát trùng như fam flus, vikon S và để trống chuồng nuôi tối thiểu
là 5 ngày mới đưa lợn nái chờ đẻ khác lên. Với lợn con tuyệt đối không tắm
rửa để tránh lạnh và ẩm ướt, định kỳ tiêu độc ở các chuồng nuôi lợn nái, lợn
đực làm việc bằng thuốc sát trùng, Trại còn thường xuyên tiến hành vệ sinh
môi trường xung quanh như việc dọn cỏ, phát quang bụi rậm, diệt chuột, thu
dọn phân hằng ngày ở các ô chuồng.
Hiện nay, trại áp dụng quy trình chăn nuôi “cùng vào - cùng ra”, trong
đó một chuồng hoặc cả một dãy chuồng được đưa vào để nhốt đồng loạt cùng
một loại lợn (có thể tương đồng về khối lượng, tuổi). Sau một thời gian nhất
định số lợn này được đưa ra khỏi chuồng, lúc đó chuồng trại được rửa sạch,
phun thuốc sát trùng và để trống ít nhất 5 ngày trước khi đưa đàn lợn mới lên
đẻ. Như vậy quy trình này có tác dụng phòng bệnh do vệ sinh chuồng trại
thường xuyên, định kỳ mỗi khi xuất hết lợn, do đó hạn chế được khả năng lan
Năm
2017
1.181
Đến tháng
5 năm 2018
1.150
Lợn nái hậu bị (con)
120
120
160
Lợn đực (con)
19
21
20
Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng
năm; Số lợn nái hậu bị từ năm 2016 là 120 nái, tới tháng 5 năm 2018 tăng lên
160 nái, nái sinh sản từ 1050 nái năm 2016 tăng lên 1150 nái ở tháng 5 năm
2018, lợn đực cũng tăng theo số lượng lợn nái .
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ
loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng. Phần
sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3 cm nối với sừng tử cung.
- Tử cung (dạ con) (uterus)
+ Cấu tạo giải phẫu tử cung
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái, là nơi làm
tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai đồng thời là cơ
quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ.
Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung. Ở lợn tử
cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1
m trong khi thân tử cung lại ngắn. Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai.
7
+ Cổ tử cung
Cổ tử cung tổ cấu tạo tổ chức sợi mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với
sự góp mặt của một ít cơ trơn.
Ở lợn, cổ tử cung không có nếp gấp hình hoa nở mà là những cột thịt xen
kẽ cài răng lược với nhau. Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung
là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc. Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo
như ruột non, dài chừng 30 - 50 cm. Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung.
- Âm đạo (vagina):
Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ. Đây là nơi tiếp
nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái,
nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh.
Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai. Chiều dài
của âm đạo của lợn: 10 - 12 cm.
Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và
giảm xuống điểm thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô
âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14.
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý
Cấu tạo giải phẫu tuyến vú
Tuyến vú chỉ có ở động vật có vú, tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi
đến tuổi thành thục về tính và phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ. Thời kỳ
con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc
con còn non.
- Cấu tạo: tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả
động vật có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú. Song chỉ ở con cái cùng
với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hoà của các
hoocmone sinh sản mới được phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên.
Ở lợn có 6 - 10 đôi vú, thường là 6 đôi phân bố thành hai hàng từ vùng ngực
tới vùng bẹn, đối xứng nhau qua đường trắng bụng. Vú gồm có bầu vú và
núm vú.
9
+ Bầu vú: là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn
tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp
đến là lớp cơ. Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ
giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản
thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thuỳ nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn
hồi. Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo
3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và
thông ra đỉnh ở đầu vú. Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua
tuyến vú, vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao
quanh bao tuyến dày đặc.
+ Núm vú: một bầu có một núm vú, cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ
chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa. Lợn có từ 2 - 3 ống dẫn sữa. Ở đầu núm vú sợi
cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái
kích thước lại tăng rất nhanh (trong tế bào hạt có chứa lipoit của tế bào
lutein). Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành
nên thể vàng. Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone. Trong thời
gian vài ngày thể vàng sẽ ở đầu xoang của tế bào trứng đó và nó tiếp tục phát
triển. Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối
đa rồi thoái hóa dần. Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày, nếu gia súc
có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ.
11
∗ Niêm dịch
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do
kết quả của quá trình tế bào trứng rụng, sự thay đổi hàm lượng các kích tố
trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch. Đồng
thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra.
∗ Tính dục
Do kết quả của quá trình rụng trứng, hàm lượng oestrogen tăng lên ở
trong máu nên có một loạt biến đổi về bề ngoài khác so với bình thường,
đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản
lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh. Gặp con đực không kháng cự, tăng
lên về cường độ cho đến khi trứng rụng.
∗ Tính hưng phấn
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loại biến đổi về
bên ngoài thường đứng không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém
ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối. Cao độ
nhất là lúc tế bào trứng rụng. Khi đã rụng tế bào trứng thì hưng phấn giảm đi
rõ rệt.
+ Chu kỳ động dục:
Chia làm 4 giai đoạn:
∗ Giai đoạn trước động dục
thai. Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau:
progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày
chửa thứ 20 rồi giảm xuống trong 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời
gian có chửa để an thai, ức chế động dục. Trước ngày đẻ progesterone giảm
đột ngột, estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời
kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất.
Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày.
13
2.2.1.3. Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn
Bệnh sản khoa được thể hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau.
Khi con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sâu trong đường sinh dục
mở ra, máu và sản dịch ra nhiều điều đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập.
Sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng. Dinh
dưỡng không những về mặt vật chất mà về cả mặt lượng cũng rất quan trọng,
việc sử dụng thức ăn thích hợp theo nhu cầu của lứa tuổi có ảnh hưởng đến
quá trình sinh trưởng và phát triển bình thường của chúng. Cho ăn thiếu chất
dinh dưỡng làm giảm sức đề kháng của cơ thể.
∗ Bệnh viêm tử cung
Viêm tử cung là một bệnh sinh sản thường gặp trong chăn nuôi lợn nái,
có thể xuất hiện ở nhiều giai đoạn nhưng thường xảy ra ở giai đoạn sau khi
sinh, đặc biệt là trên lợn nái ngoại (siêu nạc), sau đó đến lợn nái lai, thấp nhất
ở lợn nái nội.
Viêm tử cung dẫn đến lợn nái mệt mỏi, sốt, bỏ ăn, mất sữa, có thể kế phát
sang viêm vú. Lợn nái viêm tử cung dẫn tới làm thay đổi số lượng và chất lượng
sữa, lợn con bị tiêu chảy sớm nếu không chữa dứt điểm cho lợn mẹ.
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và
hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh.
(Trần Ngọc Bích và cs. 2016) [19] đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm
- Hậu quả
Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục, viêm xảy ra trong thời gian có
chửa thì do biến đổi trong cấu trúc niêm mạc như: teo niêm mạc, sẹo trên
niêm mạc, thoái hóa niêm mạc...dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ thai. Qua chỗ
tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm bào thai phát
triển không bình thường. Nếu không phát hiện và điều trị triệt để sẽ làm tổn
thất kinh tế cho người chăn nuôi.
15
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ
ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái. Để hạn chế tối thiểu
hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,
thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất.
Bệnh viêm vú
Bệnh viêm vú trên lợn nái thường gặp trong giai đoạn nuôi con, vú bị
viêm dẫn đến sốt, kém ăn hoặc bỏ ăn, từ đó lượng sữa giảm, hoặc mất hẳn
sữa. Lợn con không được bú sữa đầu, hoặc bú sữa lợn mẹ viêm sẽ bị tiêu
chảy, không thể chữa khỏi hoàn toàn.
- Nguyên nhân
Do lợn mẹ bị viêm tử cung, vi khuẩn theo máu đến tuyến vú gây viêm
vú, lợn con có răng nanh, hoặc chuồng trại có nhiều cạnh sắc làm xây xát vú
mẹ tạo điều kiện vi trùng Staphylococcus, Streptococcus xâm nhập. Lợn nái
nhiều sữa con bú không hết làm sữa ứ đọng nhiều tạo môi trường cho vi trùng
sinh sản gây viêm vú. Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa
quá nên viêm.
- Triệu chứng:
Theo White B. R. và cs. (2013) [27], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc
điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa,
hồng nhạt). Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở
con tiếp theo. Khi đưa tay vào kiểm tra thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng
do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to.
- Hậu quả
Nếu không can thiệp kịp thời thì thai ngạt và chết, nái mẹ kiệt sức. Biện
pháp can thiệp không đúng cách, gây xây sát niêm mạc tử cung hoặc dụng cụ
17
thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh như: viêm tử
cung, viêm vú, xảy thai truyền nhiễm... khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây
cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ... dẫn đến xảy thai, đẻ non thậm trí
là vô sinh.
2.2.2. Chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái
* Phương pháp quan sát
- Quan sát (Inspectio)
Quan sát là phương pháp khám bệnh đầu tiên, đơn giản nhưng rất có
hiệu quả, phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong thú y. Quan sát trạng
thái gia súc, cách đi lại, tình trạng niêm mạc, da, lông và các triệu chứng
bệnh. Quan sát để đánh giá chất lượng đàn gia súc tốt hay xấu, phát hiện
những con bệnh hoặc con xấu trong đàn để điều trị hoặc loại thải.
Đây là phương pháp khám bệnh đơn giản nhưng hiệu quả cao, được sử
dụng rộng rãi trong chẩn đoán lâm sàng. Bằng phương pháp quan sát này có
thể xác định được trạng thái vật nuôi, cách đi đứng, màu sắc và tình trạng
lông, da, niêm mạc, các triệu chứng bệnh. Đồng thời quan sát cũng giúp
chúng ta đánh giá chất lượng đàn vật nuôi, sàng lọc những con có nghi vấn
mắc bệnh. Khi quan sát tùy theo mục đích, vị trí nhìn, cần đứng xa hay gần
con vật. Tuy nhiên, nên quan sát từ xa tới gần, từ tổng quát tới bộ phận.
Quan sát toàn thân là quan sát trạng thái, cử chỉ, cử động, tình trạng dinh
dưỡng, dáng điệu,… của vật bệnh.
- Dạng khí thủng: sờ vào có cảm giác mềm, chứa đầy khí.
Tuy nhiên, để sờ nắn có hiệu quả cao đòi hỏi người khám phải nắm vững
vị trí giải phẫu và có kinh nghiệm trong chẩn đoán.
* Phương pháp gõ