Luận văn thạc sỹ - Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng - Pdf 53

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------------

ĐỖ TRỌNG MINH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------------

ĐỖ TRỌNG MINH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÃ NGÀNH: 8310102

Người hướng dẫn khoa học:

PGS. TS ĐẶNG VĂN THẮNG

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG TỪ NĂM 2012 ĐẾN 2017.................................37
2.1. KHÁI QUÁT, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI ĐỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG........................37
2.1.1. Điều kiện tự nhiên của quận Hai Bà Trưng.............................................37
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội..........................................................................39
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
HAI BÀ TRƯNG....................................................................................................42
2.2.1. Về quy mô, tốc độ...................................................................................42
2.2.2. Cơ cấu các ngành nghề và hiệu quả hoạt động trong khu vực KTTN.....52
2.3. ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT
RA VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI..........................................................................................................57
2.3.1. Thành tựu phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Quận..........................57


2.3.2. Một số hạn chế về phát triển kinh tế tư nhân ở quận Hai Bà Trưng........59
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế và vấn đề đặt ra về phát triển kinh tế tư
nhân ở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội..................................................62
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG.....................66
3.1. NHỮNG CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP...........66
3.1.1. Khái quát bối cảnh phát triển kinh tế tư nhân quận Hai Bà Trưng..........66
3.1.2. Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế tư nhân........................................69
3.2. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG........................................................................................70
3.3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
HAI BÀ TRƯNG....................................................................................................71
3.3.1. Giải pháp thông tin, tuyên truyền phát triển kinh tế tư nhân quận Hai Bà Trưng...71
3.3.2. Tạo điều kiện, môi trường phát triển kinh tế tư nhân..............................71

DNTN
: Doanh nghiệp tư nhân
DNVVN
: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ĐTNN
: Đầu tư nước ngoài
GDP
: Tổng sản phẩm trong nước
GTGT
: Giá trị gia tăng
HDI
: Chỉ số phát triển con người
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KCN, CCN : Khu công nghiệp, cụm công nghiệp
KCX
: Khu chế xuất
KH & ĐT
: Kế hoạch và đầu tư
KTQT
: Kinh tế quốc tế
KTTN
: Kinh tế tư nhân
KTTT
: Kinh tế trang trại
MMTB
: Máy móc thiết bị
NQD
: Ngoài quốc doanh
LLSX

Bảng 2.9.
Bảng 2.10.
Bảng 2.11.
Bảng 2.12

Số cơ sở kinh tế tư nhân quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2013-2017 phân
theo loại hình kinh tế............................................................................42
Số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân phân theo loại hình
kinh tế...................................................................................................44
Quy mô vốn bình quân của kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.45
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng khu vực kinh tế ngoài
nhà nước phân theo ngành kinh tế (giá hiện hành)...............................47
Cơ sở kinh doanh thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ khu vực
kinh tế ngoài nhà nước phân theo ngành kinh tế..................................49
Doanh thu thương mại, dịch vụ khu vực kinh tế ngoài nhà nước phân
theo ngành kinh tế................................................................................50
Cơ cấu doanh thu thương mại dịch vụ khu vực kinh tế ngoài nhà nước
phân theo ngành kinh tế........................................................................50
Tỷ trọng các ngành KTTN...................................................................52
Số cơ sở ngành công nghiệp khu vực kinh tế ngoài nhà nước phân theo
ngành kinh tế........................................................................................53
Số doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng khu vực kinh tế ngoài nhà nước
phân theo loại hình kinh tế...................................................................54
Số lao động của doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng khu vực kttn phân
theo loại hình kinh tế............................................................................55
Giá trị sản xuất của doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng khu vực kinh tế
ngoài nhà nước phân theo loại hình kinh tế (giá hiện hành)................56
Tình hình nộp ngân sách nhà nước của kttn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng. . .57

HÌNH

tập trung trong các cương lĩnh xây dựng đất nước, văn kiện đại hội Đảng, nghị
quyết chuyên đề của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội XII (1-2016) so với các kỳ đại hội trước là sự
khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn của Đảng khi coi kinh tế tư nhân là một động
lực quan trọng của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh việc: “Hoàn thiện
cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở
hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền
kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh
nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở
hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”. Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương 4 khóa XII tiếp tục xác định rõ việc phát triển mạnh khu vực kinh
tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng
trong phát triển kinh tế.


2
Nằm trong bối cảnh chung của thủ đô và đất nước, trong những năm đổi mới vừa
qua kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng đã từng bước phát triển. Khu
vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào việc huy động các nguồn nhân lực
giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, và phát triển nền kinh tế
của địa phương, tạo nên sự cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
trên địa bàn Quận.
Bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế của thủ đô Hà Nội, khu vực
kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng vẫn bộc lộ không ít hạn chế. Số
lượng các doanh nghiệp tư nhân cũng dần được tăng lên, kể từ khi có luật doanh
nghiệp (năm 2005), tuy nhiên chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân
chưa tương xứng với sự gia tăng đó. Có nhiều cơ sở doanh nghiệp tư nhân quy mô
còn nhỏ, công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa,
chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, còn mang nặng tính tự phát, chủ thể sản xuất
- kinh doanh chưa yên tâm về lâu dài… Tình trạng này gây tác động hạn chế

- TS Nguyễn Minh Phong (năm 2004), Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tổng kết sự phát triển của kinh tế tư nhân trước đổi
mới; Vai trò, ý nghĩa của phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nôi. Đặc biệt nhấn mạnh yêu
cầu và tính tất yếu của phát triển kinh tế tư nhân với phát triển Kinh tế - xã hội ở Hà
Nội.
- PGS,TS Vũ Văn Phúc (Năm 2005), Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Tác giả đề cập đến quan niệm về kinh tế tư nhân; bản chất kinh tế tư nhân;
tính tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh
tế hàng hóa và kinh tế thị trường; tính hai mặt của sự phát triển kinh tế tư nhân;
thực trạng kinh tế tư nhân và một số giải pháp cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh
tế tư nhân.
- "Doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình hiện nay". Luận văn thạc sĩ Kinh tế của
Bùi Việt Hưng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội - 2006. Tác giả đã
phân tích và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Thái
Bình. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu
để phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình trong thời gian tới.
- TS.Nghiêm Xuân Đạt, GS.TS Tô Xuân Dân (chủ biên), Phát triển và quản
lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nxb Khoa học và kỹ thuật.


4
Các tác giả đã phân tích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn, sự cần thiết
phát triển thành phần kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm
huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần. Đồng thời các tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm
tận dụng phát huy lợi thế để phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng như hiện nay.
- Phạm Quang Trung (2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp ở Hà Nội, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 129 (2008). Tác giả phân tích và

huy được nội lực trong nền kinh tế.
Và một số bài báo, tạp chí, luận văn, luận án nghiên cứu về kinh tế tư nhân ở
các Bộ, Ngành, địa phương.
Nhìn chung, các công trình, đề tài trên đã nghiên cứu về kinh tế tư nhân theo
nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau. Song, đến nay chưa có một đề tài nào có thể
vận dụng thật sự hiệu quả trên địa bàn quận Hai Bà Trưng. Vì, một mặt, do các giải
pháp phát triển kinh tế tư nhân cần có sự thay đổi theo đòi hỏi thực tiễn hiện nay. Mặt
khác nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng để góp
phần vào công cuộc đổi mới của đất nước, đóng góp quan trọng trong sự phát triển
kinh tế của thủ đô Hà Nội với những thành tựu đạt được và những khó khăn gây
cản trở sự phát triển của nó để đưa ra các giải pháp phát triển KTTN ở quận Hai Bà
Trưng trong điều kiện hội nhập KTQT thì chưa có một công trình nào nghiên cứu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở xác định bản chất, vai trò và xu hướng vận động của kinh tế tư
nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam luận văn phân tích, đánh giá thực
trạng thành phần kinh tế tư nhân ở quận Hai Bà Trưng, qua đó đề xuất phương
hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực
của nó trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của quận Hai Bà Trưng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trên cơ sở đó vận dụng vào phân tích
thành phần kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
- Phân tích đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà
Trưng, chỉ rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân những hạn chế trong phát
triển kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.


6
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trên địa


7
7. Kết cấu luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về kinh tế tư nhân và kinh nghiệm phát triển kinh tế
tư nhân.
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà
Trưng từ năm 2013 đến 2017.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trên
địa bàn quận Hai Bà Trưng.


8

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1.1. Quan niệm về kinh tế tư nhân và các loại hình của
kinh tế tư nhân
* Quan niệm về kinh tế tư nhân
Xuất phát từ thế giới quan duy vật lịch sử, các nhà kinh điển Mác – Lê-nin
đã chỉ cho chúng ta rằng “do sự phát triển của lực lượng sản xuất mà từ một chế độ
sinh hoạt xã hội này đã nảy sinh ra và phát triển lên như thế nào một chế độ sinh
hoạt xã hội khác, cao hơn”. Trong quá trình nghiên cứu phương thức tư bản chủ
nghĩa, Các-Mác cũng đã phát hiện ra quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mà trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở
hữu với các loại hình và hình thức phong phú là kết quả của sự phát triển lực lượng
sản xuất, mặt khác, đến lượt nó, quan hệ sở hữu lại có tác động kích thích hoặc kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì vậy cần thay đổi chế độ tư hữu
tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất khi nó đã đạt đến trình độ xã hội hóa cao.

doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, công ty hợp danh.
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách
khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân đã khẳng định kinh tế tư
nhân gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân “là một khu vực kinh tế, là
một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và việc phát triển kinh
tế tư nhân được coi là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành
phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao
nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng Công Sản Việt Nam (2006) đã
xác định xuất phát từ ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân) đã hình thành
nên nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế


10
tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, lần đầu tiên Đảng ta khẳng định kinh tế
tư nhân là một thành phần kinh tế, đồng thời khẳng định “Các thành phần kinh tế
hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh… kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong
những động lực của nền kinh tế”; “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong
lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể
và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng lớn ở những đơn vị chưa có điều
kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường
tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”.
Quan niệm như trên cũng được ghi trong luật pháp và chính sách của Nhà nước
ta. Hiến pháp năm 1992 quy định chế độ sở hữu ở Việt Nam bao gồm ba hình thức cơ
bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Trên cơ sở chế độ sở hữu đó, nền

luật (trừ những hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư ngiệp, làm muối, những người
bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh).
Ở nước ta hiện nay, loại hình hộ cá thể đang tồn tại phổ biến như chủ thầu
xây dựng nhỏ, chủ cửa hàng, xưởng sản xuất. Hộ kinh doanh cá thể được thừa nhận
là một đơn vị kinh tế tự chủ, góp phần tích cực giải quyết công ăn, việc làm, xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống cho toàn xã hội.
* Luật doanh nghiệp 2005 quy định "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh". Các loại
hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân của nước ta hiện nay gồm:
Doanh nghiệp tư nhân:
Doanh nghiệp tư nhân là một loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất cứ một loại chứng khoán
nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
Hiện nay ở nước ta, doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp khá phổ
biến, tuy nhiên đa số đều thuộc quy mô còn nhỏ và vừa. Doanh nghiệp tư nhân có tư
cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai loại hình công ty TNHH một thành viên


12
và công ty TNHH hai thành viên trở lên. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi
là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty
THHH hai thành viên trở lên là Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong
đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm
mươi; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của

góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn
đã góp của mình vào công ty.
Công ty hợp danh không có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy
động vốn.
Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty hợp danh có ưu điểm là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều
người, dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều
hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những
người có uy tín, tin tưởng nhau.
Hạn chế của công ty hợp danh là do có chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô
hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên liên danh là rất cao. Do vậy, công ty hợp
danh là hình thức ít được các chủ sở hữu lựa chọn để hoạt động.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động của kinh tế tư nhân trong các nền kinh tế
Dựa trên "quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất". Đăc điểm này chỉ ra rằng các hình thức sở hữu, nói rộng ra
là quan hệ sản xuất đều ra đời, phát triển và tiêu vong có tính khách quan. Mặt khác,
các hình thức sở hữu hay các quan hệ sản xuất mang tính chất lịch sử, chúng tồn tại
trong những điều kiện nhất định của lực lượng sản xuất.
Sự khác nhau: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường khác với kinh tế
tư nhân trong nền kinh tế tự cung tự cấp:
- Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường dựa trên lực lượng sản xuất xã
hội hóa, do đó nó tồn tại và phát triển không thể tách rời các hình thức sở hữu và
các thành phần kinh tế khác. Đặc điểm này đưa đến mâu thuẫn nội tại trong kinh tế
tư nhân của kinh tế thị trường, đó là mâu thuẩn giữa tính chất xã hội hóa hoạt động
sản xuất kinh doanh với tính chất tư nhân hóa về chiếm hữu, mẫu thuẫn này không


14
có trong nền kinh tế tự cung tự cấp.


15
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ tư, mối quan hệ trực tiếp giữa các chủ doanh nghiệp tư nhân với người
lao động doanh nghiệp không còn là quan hệ đối kháng, chủ - thợ, quan hệ giữa một
bên là chủ sở hữu tư liệu sản xuất, một bên là người bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất
mà là mối quan hệ hợp tác.
1.1.3. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
Phát triển kinh tế tư nhân có vị trí, vai trò ngày càng quan trọng và cần thiết,
có tác dụng to lớn trên nhiều mặt:
Một là, kinh tế tư nhân là nhân tố tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy
tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
năng động và đóng góp ngày càng lớn vào ngân sách nhà nước.
- Sự phát triển của kinh tế tư nhân đã khơi dậy những tiểm năng của đất nước
cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn, đóng
góp đáng kể vào giá trị thu nhập của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh
tế thị trường hiện đại, ở các nước có nền kinh tế phát triển cao và hiệu quả, tỷ lệ
đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân của khu vực kinh tế tư nhân thường cao hơn
khu vực kinh tế nhà nước.
- Nhờ khai thác và sử dụng tốt những nguồn lực, trí tuệ, kinh nghiệm, khả
năng kinh doanh, tiền vốn, sức lao động, tài nguyên và các nguồn lực khác, khu vực
kinh tế tư nhân đã thu hút được nhiều lao động nông thôn vào các ngành phi nông
nghiệp, nhất là công nghiệp đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch
cân bằng không chỉ thể hiện về số lượng giữa kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể, mà
còn thể hiện rất rõ trong sự phát triển của các vùng lãnh thổ, và giữa các ngành và
các địa phương.
Hai là, kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế
và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế xã hội theo hướng kinh tế thị trường, tạo ra môi
trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế. Sự phát triển phong phú đa dạng

1.2.1. Quan niệm về phát triển kinh tế tư nhân
- Phát triển kinh tế tư nhân là quá trình phát triển biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất.
Trước hết, về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu lao động và người


17
lao động. Khi công cụ sản xuất được sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để sản
xuất ra một sản phẩm cho xã hội không cần đến lao động của nhiều người. Công cụ
sản xuất được nhiều người sử dụng để sản xuất ra các vật phẩm thì LLSX mang tính
chất xã hội.
Trình độ phát triển của tư liệu lao động mà đặc biệt là công cụ sản xuất, là
thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Đồng thời nó cũng là trình độ
sản xuất và tiêu chuẩn đánh giá sự khác nhau giữa các thời đại, xã hội khác nhau.
Chính công cụ sản xuất và phương tiện lao động kết hợp với lao động sáng tạo của
con người là yếu tố quyết định đến năng xuất lao động.
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển, biến đổi của các
hình thức của quan hệ sản xuất.
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc, con
người không ngừng cải tiến hoàn thiện và chế tạo ra các công cụ sản xuất mới.
Đồng thời sự tiến bộ của công cụ tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹ thuật và
mọi kỹ năng của người lao động cũng ngày càng phát triển. Yếu tố năng động này
của LLSX đòi hỏi QHSX phải thích ứng với nó. LLSX quyết định sự hình thành,
phát triển của QHSX từ đó nó quy định sự phát triển và biến đổi của quan hệ sở
hữu. Sự lớn mạnh của LLSX đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với chế độ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa. Chúng ta biết rằng, các quan hệ sở hữu XHCN xuất hiện khi
LLSX đã trở nên mâu thuẫn với hình thức chiếm hữu tư bản tư nhân. Nhưng nó vẫn
chưa hoàn toàn xã hội hoá trong phạm vi toàn xã hội. Chúng ta thấy rằng chỉ có thể
phát triển nền sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu,

những mâu thuẫn thì không những QHSX lỗi thời mà ngay cả QHSX đi quá với
LLSX cũng sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển của LLSX. Nhưng QHSX luôn luôn
được đổi mới hoàn thiện cho phù hợp với LLSX thì khi đó quá trình biến đổi tích
luỹ về lượng của LLSX sẽ nhanh hơn, mâu thuẫn giữa chúng sẽ được giải quyết kịp
thời. Do đó bước nhảy vọt trong sự phát triển của nó có thể diễn ra sớm hơn. Chính
việc hoàn thiện QHSX quyết định những nhịp độ tiến bộ kkoa học kỹ thuật vào sự
tiến bộ của hệ thống LLSX.
Trước đây nói đến CNXH chúng ta thường nói đến chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất giữa hai hình thức toàn dân và tập thể. Ở nước ta, từ Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ 6 đến nay đã hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới chuyển từ nền



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status