Luận văn thạc sỹ: Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Nam Định - Pdf 25

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
4
1.1. Bản chất, vai trò và đặc điểm của kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế thị trường
4
1.1.1. Quan niệm về kinh tế tư nhân
4
1.1.2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân
9
1.1.3. Vai trò của kinh tế tư nhân
15
1.2. Nhân tố ảnh hưởng và nội dung phát triển kinh tế tư nhân
trong nền kinh tế thị trường
22
1.2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế thị trường
22
1.2.2. Nội dung phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
25
1.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của trung quốc và
thành phố hồ chí minh
28
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của Trung Quốc
29

2.3.2. Những hạn chế, bất cập của KTTN và nguyên nhân
64
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN Ở TỈNH NAM ĐỊNH
74
3.1. Phương hướng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh nam định
74
3.1.1. Xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam
74
3.1.2. Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và các thành phần
kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định
77
3.1.3. Định hướng và mục tiêu phát triển KTTN ở tỉnh Nam Định
81
3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển mạnh mẽ, đúng hướng và
có hiệu quả kttn ở tỉnh nam định thời gian tới
86
3.2.1. Tăng cường công tác tuyên truyền làm cho mọi người nhận
thức đúng đắn hơn chủ trương của Đảng về KTTN
86
3.2.2. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật
tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân
90
3.2.3.Tăng cường quan hệ kinh tế trong nội bộ KTTN và giữa
KTTN với các thành phần kinh tế khác
97
3.2.4. Tiếp tục hoàn thiện và tăng cường quản lý nhà nước đối với kinh
tế tư nhân
99

Nam Định
Biểu số 2.6
Tốc độ tăng Tổng sản phẩm (GDP) kinh tế t nhân trên
địa bàn Tỉnh Nam Định (%)
Biu số 2.7 Tình hình nộ ngân sách Nhà nớc ca KTTN trên
a b n tnh
Biểu số 2.8
Cơ cấu trình độ trang thiết bị, công nghệ
Biểu số 2.9
Thị trờng tiêu thụ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ở nước ta kinh tế tư nhân đã có một lịch sử phát triển thăng trầm. Trước
đổi mới, do quan niệm sai lầm đánh đồng kinh tế quốc doanh với CNXH, nên
chúng ta đã nôn nóng xoá bỏ kinh tế tư nhân. Sai lầm cực đoan đó đã dẫn tới
lãng phí các nguồn lực làm chậm tiến trình phát triển kinh tế của đất nước.
Kể từ Đại hội VI của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 16 NQ/TW của
Bộ Chính trị BCH-TW khoá VI về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh
tế ngoài quốc doanh, kinh tế tư nhân ở nước ta mới được phục hồi phát triển.
Nằm trong bối cảnh chung của cả nước, trong những năm đổi mới vừa qua
kinh tế tư nhân ở Nam Định đã có những bước phát triển đáng kể. Khu vực kinh
tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào huy động các nguồn lực giải quyết việc
làm tăng thu nhập và làm sống động nền kinh tế của địa phương, tạo áp lực cạnh
tranh thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế trên địa bàn.
Bên cạnh những thành quả trên cũng như tình trạng chung của cả nước,
hoạt động kinh tế tư nhân ở Nam Định vẫn bộc lộ không ít hạn chế tiêu cực.
Tuy số lượng cơ sở và doanh nghiệp tư nhân tăng lên rất nhanh, nhất là từ khi
có luật doanh nghiệp (năm 2000), nhưng chất lượng hoạt động chưa tương
xứng với sự gia tăng đó. Hầu hết cơ sở doanh nghiệp tư nhân quy mô còn nhỏ,
công nghệ lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực kém, còn mang nặng tính tự

cực của nó trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trên cơ sở đó
vận dụng vào phân tích thành phần kinh tế tư nhân ở tỉnh Nam Định.
- Phân tích đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân ở Nam Định, chỉ rõ
những thành công, hạn chế và nguyên nhân những hạn chế trong phát triển
kinh tế tư nhân ở tỉnh Nam Định.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân
trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian tới.
2
4. Đối tượng - phạm vi nghiêm cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các cơ sở và doanh nghiệp thuộc khu
vực kinh tế tư nhân trong các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ thương
mại trên địa bàn tỉnh Nam Định.
- Phạm vi thời gian từ năm 2000 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
- Các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị được coi trọng sử dụng
trong luận văn là phương pháp khảo sát thực tiễn, phân tích và tổng hợp, phương
pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp thống kê, phân tích kinh tế…
6. Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và các quan điểm của Đảng ta về
KTTN trong công cuộc đổi mới đất nước.
- Đánh giá tổng quát quá trình khôi phục và phát triển KTTN ở tỉnh Nam
Định từ năm 2000 đến nay.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tính tích cực và hạn
chế những tiêu cực của thành phần kinh tế này trên địa bàn. Qua đó đóng góp
vào thực hiện chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

đạt được những thành tựu thực tiễn kinh tế - xã hội quan trọng. KTTN ngày
càng tỏ rõ vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam. Thực tiễn này đặt ra cần phải nghiên cứu để phát huy hơn nữa vai
trò của khu vực kinh tế này trong quá trình phát triển của cả nước nói chung,
các tỉnh nói riêng. Để đạt được yêu cầu này, trước hết cần phải làm rõ bản
chất và đặc điểm của KTTN.
1.1.1. Quan niệm về kinh tế tư nhân
Theo C.Mác, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vai trò phản ánh
đặc trưng của các hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng như hình thức tổ
chức kinh tế nói riêng, nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và
4
phân phối kết quả sản xuất. Như vậy, có thể nhận thức rằng KTTN được đặc
trưng bởi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Mặc dù trong các tài liệu nghiên
cứu của Mác và Lê Nin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhưng các ông lại
thường đề cập đến các thuật ngữ sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa, lao động tư nhân. Nói KTTN TBCN chính là C.Mác nói đến một hình
thức phát triển của KTTN trong thời đại TBCN.
Ở nước ta cho đến nay đã có nhiều quan niệm về KTTN. Có quan niệm
cho rằng KTTN là một thành phần kinh tế, nhưng ý kiến khác lại cho rằng
KTTN là một khu vực kinh tế, một hình thức tổ chức doanh nghiệp hoặc là
khu vực kinh tế dân doanh
Trong các văn kiện của Đảng ta, KTTN thường được hiểu là một thành
phần kinh tế. Chẳng hạn Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (1988) và Nghị quyết
hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khoá VI) nêu quan niệm: KTTN là đơn vị
kinh tế do những người có vốn, có tài sản lập ra, sản xuất, kinh doanh theo
pháp luật, bao gồm các hình thức xí nghiệp tư doanh, công ty hợp doanh,
công ty cổ phần
Trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, KTTN được hiểu bao gồm kinh tế
cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Trong văn kiện có đoạn viết:
“Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo

hữu toàn bộ hay đại bộ phận tư liệu sản xuất thuộc về tư nhân và lao động làm
thuê, người chủ chiếm đoạt giá trị thăng dư do công nhân sáng tạo ra [30,
tr.21 - 25]. Về hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, KTTN bao gồm doanh
nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần (do tư nhân nắm tỷ lệ cổ
phiếu khống chế). Quan niệm KTTN như vậy đã không bao gồm các cơ sở
kinh tế cá thể. Trong các thuộc tính để xác định KTTN, ngoài quan niệm sở
hữu đối với tư liệu sản xuất còn có các quan niệm về thuê mướn lao động, có
bóc lột.
6
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng “KTTN gồm các đơn vị kinh tế mà phần
lớn vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, huy động cổ phần (nhưng do một
hay một nhóm tư nhân nắm cổ phiếu khống chế, chi phối), thuê lao động sản
xuất kinh doanh” [30, tr.16]. Những người theo loại ý kiến này cho rằng
không nên phân biệt tư nhân với cá thể vì không thể lấy tiêu chuẩn có tham
gia lao động trực tiếp hay không bóc lột. Ngoài ra, lý do chính mà trước đây
cần có sự phân biệt như vậy là để “cải tạo tư sản” và phân biệt đối xử trong
chính sách, nhưng hiện nay như vậy là không có lợi. Hơn nữa cơ sở để xác
định KTTN hay loại hình kinh tế nào không chỉ căn cứ vào sở hữu tư liệu sản
xuất, mà còn phải tính đến cả sở hữu vốn và tài sản kể cả những thứ chưa
thành tư liệu sản xuất nhưng có thể đưa vào sản xuất [30, tr.21].
- Loại ý kiến thứ ba cho rằng, KTTN bao gồm các công ty, doanh nghiệp
tư nhân và các cơ sở kinh tế cá thể. Nó còn bao gồm cả các hợp tác xã do tư
nhân đội lốt, các doanh nghiệp có vốn nước ngoài [13, tr.3 - 6], hoặc bao gồm
kinh tế gia đình, tiểu chủ và tiểu tư nhân có phân biệt theo giá trị tài sản và số
lao động làm thuê [5, tr.23]. Nghĩa là, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế
dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hoặc sở hữu tư nhân chiếm ưu thế,
không bao gồm các hợp tác xã đích thực.
- Loại ý kiến thứ tư, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế ngoài kinh
tế nhà nước (kể cả hợp tác xã và kinh tế gia đình) [21, tr.33-36].
- Loại ý kiến thứ năm lại coi KTTN là một khu vực, bao gồm các tổ chức

Khu vực kinh tế nhà nước do nhà nước là chủ sở hữu (hoặc có tỷ lệ cổ phần
khống chế) nên nhà nước có thể chi phối và kiểm soát trực tiếp hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khu vực KTTN là phần còn lại ngoài khu
vực nhà nước. Nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay cũng đươc chia ra thành
hai khu vực: khu vực kinh tế công hữu (gồm kinh tế quốc hữu và kinh tế tập
thể) và kinh tế phi công hữu (bao gồm KTTN và kinh tế có vốn đầu tư nước
8
ngoài); tức là KTTN là một khu vực kinh tế phi công hữu. Những sự phân
chia trên chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và vốn.
Trong nền kinh tế các nước hiện nay, sự đan xen sở hữu khu vực kinh tế
nhà nước và KTTN làm cho sự phận loại thêm phức tạp. Trong các công ty
hỗn hợp, khu vực tư nhân được xác định dựa vào tỷ lệ vốn khống chế thuộc
về tư nhân. Tỷ lệ vốn đó tuỳ thuộc vào điều kiện mỗi nước và có thể dao động
từ 18 - 40%, không nhất thiết phải trên 50%.
Qua những phân tích trên, căn cứ vào quá trình ra đời và phát triển của
quan hệ sản xuất theo đó là quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân
phối sản phẩm, căn cứ vào quan niệm của Đảng ta về kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế nhiều thành phần, có thể hiểu KTTN là loại hình kinh tế ra đời và
phát triển trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và vốn, tồn tại
dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất của chế độ sở
hữu mà nó đại diện.
KTTN đã từng tồn tại lâu dài qua những biến đổi của các hình thái kinh
tế - xã hội trong lịch sử. Nó chứng tỏ có một sức sống mạnh mẽ đã vượt qua
những thử thách để tồn tại và phát triển lâu dài. Trong nền kinh tế ở nước ta,
KTTN tồn tại chủ yếu dưới ba hình thức: Kinh tế cá thể, Kinh tế tiểu chủ và
Kinh tế tư bản tư nhân, tuy ranh giới không phải bao giờ cũng phân chia rạch
ròi giữa ba hình thức đó, nhất là giữa Kinh tế tiểu chủ và KTTN. KTTN là
một bộ phận hữu cơ của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay.
1.1.2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân
KTTN có ba đặc điểm chủ yếu sau đây:

không có ở sở hữu tư nhân trong nền kinh tế tự cung, tự cấp.
Do sự phát triển của mẫu thuẫn nêu trên, nên kết cấu của sở hữu tư nhân
trong kinh tế thị trường dần dần biến đổi theo hướng xã hội hoá như kinh tế
cổ phần, kinh tế hợp doanh
10
- Sở hữu tư nhân trong kinh tế thị trường ra đời là kết quả của sự xoá bỏ
sở hữu tư nhân trong nền kinh tế tự cung, tự cấp (bằng kinh tế hay bằng tước
đoạt). C.Mác coi đây là bước phủ định thứ nhất. Khi quá trình phát triển mâu
thuẫn nói trên đến mức độ nào đó sẽ diễn ra bước phủ định thứ hai, được coi
là “phủ định của phủ định” đối với sở hữu tư nhân. Quá trình đó tất yếu dẫn
đến sở hữu xã hội.
Điều này nghĩa là chỉ có sở hữu tư nhân trong kinh tế thị trường, chứ
không phải sở hữu tư nhân tự cung, tự cấp, mới có khả năng phát triển, dẫn
đến sở hữu xã hội thông qua những biến đổi theo đòi hỏi của lực lượng sản
xuất. Còn tất cả các hình thức sở hữu trong kinh tế tự cấp hay bao cấp dù quy
mô lớn (như các hợp tác xã kiểu cũ ở Việt Nam, nông trang, nông trường ở
Liên Xô, công xã nhân dân ở Trung Quốc) không bao giờ có thể đưa đến sở
hữu xã hội thực tế.
- Sở hữu tư nhân trong các chế độ chính trị khác nhau thì địa vị có khác
nhau, ở đây chỉ nói sở hữu tư nhân trong chế độ TBCN và trong chế độ do
Đảng cộng sản cầm quyền.
Trong nền kinh tế thị trường TBCN, sở hữu tư nhân giữ vai trò thống trị,
nó phù hợp với trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất. Vai trò lịch sử của
sở hữu tư nhân là thúc đẩy quá trình xã hội hoá, thông qua sản xuất giá trị
thặng dư để tích luỹ tư bản. Về khách quan, nó chuẩn bị tiền đề vật chất cho
xã hội sau này. Vì vậy, tính chất bóc lột của kinh tế tư nhân TBCN đưa đến
tăng trưởng và phát triển kinh tế, mặc dù người lao động phải trả giá cho sự
phát triển ấy. Còn kinh tế tư nhân trước CNTB chỉ kìm hãm kinh tế và xã hội
trong tình trạng lạc hậu. Vì vậy, tính chất bóc lột TBCN khác với tính chất
bóc lột của kinh tế tư nhân trước CNTB. Vì tính chất khác nhau đó, nên trong

hoạt động kinh tế của tư nhân được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Dưới
đây là các hình thức tổ chức, quản lý chủ yếu của KTTN trong kinh tế thị trường:
12
- Doanh nghiệp một chủ: Đây là hình thức truyền thống và phổ biến của
KTTN. Nó do một cá nhân nắm quyền sở hữu. Hình thức này đặc biệt thích
hợp với các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ, không đòi hỏi vốn lớn và
công nghệ phức tạp. Ưu thế của loại hình doanh nghiệp này là:
Chủ doanh nghiệp được toàn quyền thu lợi nhuận tại doanh nghiệp, qua
đó kích thích người có vốn vừa và nhỏ ham muốn kinh doanh tham gia
thương trường.
Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp thường là vô hạn gắn liền với tài sản
và uy tín, thân nhân của cá nhân người chủ, điều này làm cho doanh nghiệp dễ
hoạt động (được bạn hàng tin cậy trong làm ăn) dù số vốn đầu tư có thể rất nhỏ.
Về tâm lý, chủ doanh nghiệp có được cảm giác hài lòng khi tự mình làm
chủ doanh nghiệp, nó kích thích người có vốn tự khẳng định mình trong hoạt
động kinh tế.
Quản lý doanh nghiệp do một người, cá nhân chủ sở hữu, trực tiếp quyết
định. Điều này làm cho doanh nghiệp có ưu thế trong xử lý các tình huống,
linh hoạt trong hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên doanh nghiệp một chủ còn có những bất lợi như trách nhiệm
pháp lý về tài chính doanh nghiệp là vô hạn nên dễ gây tâm lý nặng nề khi
chủ doanh nghiệp đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ thường gặp khó khăn, vì
không có người chia sẻ trách nhiệm trong quản lý nên các quyết định lớn
thường có độ rủi ro cao.
- Doanh nghiệp nhiều chủ (sở hữu nhóm): Đây là doanh nghiệp mà
sở hữu gồm ít nhất là hai chủ. Họ ký kết với nhau một hợp đồng sở hữu nhóm để
xác lập doanh nghiệp. Ưu thế của loại doanh nghiệp này là huy động được nhiều
vốn ban đầu, các thành viên tích cực cao vì cùng tham gia điều hành doanh
nghiệp. Song nó cũng có những bất lợi như tất cả các thành viên đều phải chịu
trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp, tính bền vững của doanh

1.1.3. Vai trò của kinh tế tư nhân
Thông thường, để đánh giá vai trò của một khu vực kinh tế, các nước
thường sử dụng các chỉ tiêu như tỷ trọng của nó trong GDP (hoặc trong giá trị
gia tăng, trong tổng doanh thu), tỷ lệ trong huy động vốn kinh doanh (hoặc
vốn cố định) và tỷ lệ thu hút lao động xã hội (tạo việc làm). Ngoài ra, các
nước còn sử dụng các chỉ tiêu khác để đánh giá vai trò của KTTN trong tăng
trưởng kinh tế, đóng góp cho ngân sách quốc gia… Song, việc đánh giá và
phát triển, nhằm tổng kết vai trò của một khu vực kinh tế trong nền kinh tế
quốc dân, chứ chưa có tính khái quát về lý luận.
Từ phương pháp tiếp cận của kinh tế chính trị, trên cơ sở khái quát thực
tiễn ở các nước từ trước tới nay, có thể xác định vai trò của KTTN trên các
nội dung chủ yếu sau:
Một là. Thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư xã hội vào đầu tư phát triển
KTTN bao gồm các cơ sở sản xuất, kinh doanh được hình thành và phát triển
dựa trên vốn của các cá nhân. Các nhà kinh doanh tự bỏ vốn đầu tư, tự mình
xây dựng doanh nghiệp, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
Sự phát triển của khu vực này có vai trò rất lớn trong thu hút các nguồn vốn
xã hội vào đầu tư phát triển. Nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân phần
lớn được tích luỹ bằng lao động sáng tạo của cá nhân và gia đình họ, được
gòm góp lại từ thế hệ này qua thế hệ khác (tất nhiên không loại trừ các biện
pháp tích luỹ cực đoan, không chính đáng, song nếu nhà nước cấm đoán hoặc
không cho phép tồn tại các cơ sở KTTN thì nguồn vốn đó không được đưa
vào đầu tư phát triển). Sở hữu các chủ tư nhân chính là nguồn vốn khởi đầu
để các nền kinh tế có thể tồn tại và phát triển.
Sở hữu tư nhân cùng với sự phát triển của hình thức kinh doanh một
chủ có vai trò là cơ sở để hình thành các hình thức kinh doanh chung vốn,
công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã… con đường hợp quy luật để
phát triển các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước là phải biết huy động
các nguồn vốn thông qua phát triển KTTN.
15

Do có quy mô nhỏ và vừa, các cơ sở và doanh nghiệp tư nhân dễ thích
nghi với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động dôi dư, lao động nông
nhàn, trình độ dân trí thấp và đời sống còn nhiều khó khăn. Trong điều kiện
như vậy, KTTN có vai trò quan trọng đối với vấn đề giải quyết việc làm, giảm
thất nghiệp. Theo điều tra gần đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung
ương, các doanh nghiệp tư nhân đầu tư trung bình từ 70 - 100 triệu đồng là đã
tạo ra được 1 chỗ làm việc, trong khi đó doanh nghiệp nhà nước phải 210 - 280
triệu đồng (cao gấp khoảng 3 lần) [1, tr.15]
Ba là. Góp phần nâng cao chất lượng lao động, nuôi dưỡng tinh thần
kinh doanh của nhân dân. Tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay nghề
và những kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, bí truyền được tích luỹ từ đời này
qua đời khác trong từng gia đình và dòng họ sẽ là nguồn sáng tạo vô tận cho
sự tăng trưởng kinh tế nếu ở đó chính phủ biết cách khơi dậy tiềm năng này
thông qua kích thích động cơ của họ. KTTN là hình thức tổ chức có hiệu quả
trong đáp ứng đòi hỏi này. Theo các khảo sát thực tiễn ở nước ta, nguồn tiềm
năng "chất xám" của khu vực KTTN rất đa dạng: có loại là Nhà nước đào tạo
trong các trường chính quy như công nhân, kỹ thuật, nhà kinh tế đến các tiến
sĩ giáo sư…; có loại cá nhân tự bỏ tiền để học lấy một nghề nhất định, có loại
do các doanh nghiệp tư nhân sau khi tuyển dụng đã bỏ tiền ra để đào tạo và
đào tạo lại… Đây là nguồn lực rất to lớn của tăng trưởng kinh tế.
Hơn nữa, trong khu vực KTTN do các nhà kinh doanh tự bỏ vốn của
mình để đầu tư và chịu trách nhiệm (khác với doanh nghiệp nhà nước), và do
phải trực tiếp chịu các áp lực của thị trường, nên các chủ doanh nghiệp phải
tính toán chặt chẽ việc lựa chọn sản xuất kinh doanh. Qua nhiều công trình
nghiên cứu cho thấy hiệu quả sản xuất, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực của
KTTN cao hơn so với các doanh nghiệp nhà nước; các chỉ tiêu hiệu quả về
vốn, thời gian thu hồi vốn, hiệu suất lao động… của khu vực tư nhân đều đạt
mức cao hơn khu vực nhà nước [29, tr.11].
17
Trong quá trình phát triển, do cạnh tranh trên thị trường, không ít

kiếm phương thức kinh doanh có hiệu quả hơn nhằm giảm chi phí sản xuất,
nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị
trường. Đó chính là quá trình các chủ tư nhân phải đổi mới cơ sở vật chất - kỹ
thuật tại doanh nghiệp của mình, chuyển hướng kinh doanh vào các sản phẩm
có lợi nhất. Quá trình này, tự nó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
hiện đại, hợp lý. Nó lại càng trở nên có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay. Bởi vì KTTN là loại hình doanh
nghiệp sử dụng phổ biến công nghệ trung gian - một cầu nối quan trọng trong
việc chuyển nền nông nghiệp còn nhiều lạc hậu lên sản xuất với kỹ thuật,
công nghệ hiện đại. Các cơ sở KTTN trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ sẽ là những chủ thể cơ bản ban đầu đóng vai trò thực hiện và thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Thực tế ở nước ta vừa qua cho thấy, trình độ sản xuất, kinh doanh của KTTN
ngày càng tiến bộ hơn, số lượng hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu và tham
gia xuất khẩu tăng lên. Một số sản phẩm đã góp phần chặn đứng đẩy lùi sự
xâm nhập của hàng ngoại nhập.
Sáu là. KTTN đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành cơ cấu sở
hữu XHCN. Vai trò này được nhận thức từ sự phân tích logic kinh tế xã hội
hoá trong điều kiện thời đại và dân tộc hiện nay. Trước đây, do không nhận
thức đúng sở hữu XHCN, nên đã gây ra nhận thức không đúng về sở hữu tư
nhân, do đó cản trợ sự phát triển KTTN và nền kinh tế quốc dân
Theo C.Mác, sở hữu XHCN là kết quả của một quá trình xã hội hoá lâu
dài trong kinh tế thị trường. Quá trình xã hội hoá ấy đưa đến hai hình thức sở
hữu: Sở hữu xã hội và sở hữu cá nhân. Hai bộ phận đó hợp thành sở hữu
XHCN. Do dựa trên phân tích logic xã hội hoá kinh tế mà các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác - Lênin đã cho rằng CNXH thay thế CNTB là một tất yếu.
19
Ở đây, sở hữu xã hội là kết quả quá trình phát triển xã hội hoá trong
nền kinh tế nhiều thành phần. Nó không hoàn toàn đồng nhất với sở hữu
nhà nước. Còn sở hữu cá nhân thì hoàn toàn khác về bản chất với sở hữu tư

hàng hoá, mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài, góp phần quan trọng vào
việc thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
* Những hạn chế của kinh tế tư nhân.
Bên cạnh vai trò to lớn nêu trên, quá trình hoạt động của KTTN có thể
dẫn đến những hạn chế (tiêu cực) như:
- Do bản chất tư hữu, chạy theo mục tiêu lợi nhuận tối đa, nên các chủ
doanh nghiệp tư nhân thường tự phát đổ xô vào các ngành, lĩnh vực có tỷ suất
lợi nhuận cao (như thương mại, dịch vụ…), dẫn đến tình trạng có các ngành,
lĩnh vực rất cần cho đời sống nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp, nếu không được
ngân sách nhà nước tài trợ thì sẽ ít được tư nhân đầu tư.
- Ở các nước đang phát triển trong đó có nước ta, do luật pháp chưa
hoàn thiện, nên khu vực KTTN sẵn sàng bộc lộ những tiêu cực như buôn lậu,
làm hàng giả, gian lận thương mại, trốn tránh đăng ký kinh doanh, trốn thuế…
Ở các nước này môi trường, cạnh tranh lành mạnh chưa được đảm bảo. Thông
qua cạnh tranh, các chủ tư nhân thường tìm các thủ đoạn không kinh tế để
triệt tiêu nhau. Các biện pháp mà họ thường dùng là bán phá giá, đầu cơ, tích
trữ… Đây là những khả năng tiềm tàng gây ra sự mất ổn định kinh tế, rối loạn
thị trường, dễ dẫn đến các cơn sốt giá cả, thổi bùng lạm phát.
- Do quá chú trọng đến lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt nên hoạt động
của các chủ tư nhân thường thiếu tổ chức phối hợp, tự gây khó khăn cho nhau
trên thị trường, làm suy yếu sức mạnh cạnh tranh của nhau, hạn chế khả năng
chen chân và đứng vững trên thị trường thế giới.
- Năng lực quản lý của các chủ tư nhân rất không đồng đều. Nên cạnh
tranh các nhà quản lý dày dạn kinh nghiệm, cha truyền con nối…, còn có
21

Trích đoạn Chớnh sỏch đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh Chớnh sỏch tài chớn h tớn dụng Hoàn thiện quy chế phõn cụng, phõn cấp và phối hợp quản Tăng cường, nõng cao hiệu lực cụng tỏc kiểm tra, giỏm sỏt Kiện toàn và củng cố hệ thống cơ quan cấp đăng ký kinh doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status