TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------------
ĐỖ TRỌNG MINH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ NGÀNH: 8310102
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS ĐẶNG VĂN THẮNG
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Tác giả
Đỗ Trọng Minh
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG, HÌNH...................................................................................................................................5
Đổi mới hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô đối với khu vực kinh tế tư nhân.............................................79
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN - TTCN : Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTB
: Chủ nghĩa tư bản
CTCP
: Công ty cổ phần
DN
: Doanh nghiệp
DNNN
: Doanh nghiệp nhà nước
DNTN
: Doanh nghiệp tư nhân
DNVVN
: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ĐTNN
: Đầu tư nước ngoài
GDP
: Tổng sản phẩm trong nước
GTGT
: Giá trị gia tăng
HDI
: Chỉ số phát triển con người
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KCN, CCN : Khu công nghiệp, cụm công nghiệp
KCX
: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
BẢNG
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3.
Bảng 2.4.
Bảng 2.5.
Bảng 2.6.
Bảng 2.7.
Hình 2.5.
Bảng 2.8
Bảng 2.9.
Bảng 2.10.
Bảng 2.11.
Bảng 2.12
Số cơ sở kinh tế tư nhân quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2013-2017 phân
theo loại hình kinh tế..........................Error: Reference source not found
Số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân phân theo loại hình
kinh tế.................................................Error: Reference source not found
Quy mô vốn bình quân của kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
............................................................Error: Reference source not found
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng khu vực kinh tế ngoài
nhà nước phân theo ngành kinh tế (giá hiện hành).........Error: Reference
3. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5
3.1. Mục đích nghiên cứu:........................................................................................................................5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:.......................................................................................................................5
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6
6. DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP
6
CHƯƠNG 1..............................................................................................................................................................8
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TƯ NHÂN...........................................................................................................................................................8
CHƯƠNG 2............................................................................................................................................................40
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG........40
Tình hình phát triển kinh tế xã hội.............................................................................................................42
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG 45
2.2.1. Về quy mô, tốc độ.........................................................................................................................45
CHƯƠNG 3............................................................................................................................................................69
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN........................................................................69
KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG................................................................69
3.1. NHỮNG CĂN CỨ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
69
3.1.1. Khái quát bối cảnh phát triển kinh tế tư nhân quận Hai Bà Trưng.............................................69
Đổi mới hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô đối với khu vực kinh tế tư nhân.............................................79
1
2
Nằm trong bối cảnh chung của thủ đô và đất nước, trong những năm đổi mới vừa
qua kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng đã từng bước phát triển. Khu
vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào việc huy động các nguồn nhân lực
giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, và phát triển nền kinh tế
của địa phương, tạo nên sự cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
trên địa bàn Quận.
Bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế của thủ đô Hà Nội, khu vực
kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng vẫn bộc lộ không ít hạn chế. Số
lượng các doanh nghiệp tư nhân cũng dần được tăng lên, kể từ khi có luật doanh
nghiệp (năm 2005), tuy nhiên chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân
chưa tương xứng với sự gia tăng đó. Có nhiều cơ sở doanh nghiệp tư nhân quy mô
còn nhỏ, công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa,
chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, còn mang nặng tính tự phát, chủ thể sản xuất
- kinh doanh chưa yên tâm về lâu dài… Tình trạng này gây tác động hạn chế
không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội và quá trình chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế của quận Hai Bà Trưng. Do đó cần có các giải pháp và cơ chế để phát huy
những yếu tố tích cực của thành phần kinh tế này và hạn chế những tiêu cực của nó
trong quá trình phát triển.
Trước những vấn đề nêu trên tôi chọn đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân trên địa
bàn quận Hai Bà Trưng” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Kinh tế tư nhân ở nước ta nói chung và ở các tỉnh thành phố nói riêng đã được
quan tâm nghiên cứu đã trở thành chủ trương của Đảng trong đường lối chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội trong công cuộc đổi mới. Đến nay đã có các công trình
nghiên cứu với những phạm vi và khía cạnh khác nhau. Có những công trình tiêu
biểu có liên quan đến đề tài như:
- Hà Huy Thành (năm 2002): “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản
tư nhân”. NXB.CTQG, Hà Nội năm 2002. Đã làm rõ vị trí vai trò của các thành
phần kinh tế cá thể tiểu chủ và tư bản tư nhân cùng những giải pháp thúc đẩy bộ
Bình. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu
để phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Thái Bình trong thời gian tới.
- TS.Nghiêm Xuân Đạt, GS.TS Tô Xuân Dân (chủ biên), Phát triển và quản
lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nxb Khoa học và kỹ thuật.
4
Các tác giả đã phân tích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn, sự cần thiết
phát triển thành phần kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm
huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần. Đồng thời các tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm
tận dụng phát huy lợi thế để phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng như hiện nay.
- Phạm Quang Trung (2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp ở Hà Nội, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 129 (2008). Tác giả phân tích và
luận giải những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trên địa bàn như: vấn đề khó khăn về vốn và sự hạn chế trong tiếp cận các
nguồn tài chính; nhiều doanh nghiệp trong nhận thức chưa rõ ràng, còn mơ hồ về
xây dựng và phát triển thương hiệu, chưa có chiến lược Marketing để chiếm lĩnh thị
trường trong và ngoài nước; đội ngũ cán bộ và đội ngũ công nhân lành nghề trong
nhiều doanh nghiệp còn yếu và thiếu; trình độ máy móc, thiết bị, công nghệ rất lạc
hậu nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của DN trên địa bàn như:
Đa dạng hóa các kênh tài chính; nâng cao vốn điều lệ của doanh nghiệp; phát triển
thương hiệu; xây dựng và phát triển hệ thống phân phối, thúc đẩy đầu tư phát triển
công nghệ.
- Phạm Văn Minh (2009), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở tinh Thải Bình, Luận văn thạc sĩ Kinh tế Chính trị, Học viện Chính trị
quân sự, Hả Nội. Trong đó tác giả tập trung luận giải một sổ vấn đề về cạnh tranh,
nâng lực cạnh tranh của DNVVN làm cơ sở để phân tỉch, đánh gía thực trạng năng
lực cạnh tranh của các DNVVN ở tỉnh Thái Bình, từ đỏ đề xuất một số quan điểm,
nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XII đã khẳng định “Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế”
luận văn phân tích, đánh giá thực trạng thành phần kinh tế tư nhân ở quận Hai Bà
Trưng, qua đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy
mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội
của quận Hai Bà Trưng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trên cơ sở đó vận dụng vào phân tích
thành phần kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
6
- Phân tích đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà
Trưng, chỉ rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân những hạn chế trong phát
triển kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trên địa
bàn quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: kinh tế tư nhân với tư cách là khu vực kinh trong cơ
cấu của nền kinh tế trong các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Vấn đề phát triển KTTN rất rộng lớn, trong phạm vi luận
văn chỉ tập trung nghiên cứu vào quá trình phát triển của các cơ sở và doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ
thương mại trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
+ Về thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình phát triển
KTTN ở quận Hai Bà Trưng từ năm 2013-2017.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1.1. Quan niệm về kinh tế tư nhân và các loại hình của
kinh tế tư nhân
* Quan niệm về kinh tế tư nhân
Xuất phát từ thế giới quan duy vật lịch sử, các nhà kinh điển Mác – Lê-nin
đã chỉ cho chúng ta rằng “do sự phát triển của lực lượng sản xuất mà từ một chế độ
sinh hoạt xã hội này đã nảy sinh ra và phát triển lên như thế nào một chế độ sinh
hoạt xã hội khác, cao hơn”. Trong quá trình nghiên cứu phương thức tư bản chủ
nghĩa, Các-Mác cũng đã phát hiện ra quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mà trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở
hữu với các loại hình và hình thức phong phú là kết quả của sự phát triển lực lượng
sản xuất, mặt khác, đến lượt nó, quan hệ sở hữu lại có tác động kích thích hoặc kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì vậy cần thay đổi chế độ tư hữu
tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất khi nó đã đạt đến trình độ xã hội hóa cao.
Theo Các-Mác, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vai trò phản ánh
đặc trưng của các hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng như hình thức tổ chức
kinh tế nói riêng, nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết
quả sản xuất. Như vậy, có thể nhận thức rằng KTTN được đặc trưng bởi sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất. Mặc dù trong các tài liệu nghiên cứu của Các-Mác và LêNin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhưng các ông lại thường đề cập đến các
thuật ngữ sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, lao động tư nhân. Nói
KTTN TBCN chính là Các-Mác nói đến một hình thức phát triển của KTTN trong
thời đại TBCN.
Ở nước ta cho đến nay đã có nhiều quan niệm về KTTN. Có quan niệm cho rằng
KTTN là một thành phần kinh tế, nhưng ý kiến khác lại cho rằng KTTN là một khu vực
9
10
tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, lần đầu tiên Đảng ta khẳng định kinh tế
tư nhân là một thành phần kinh tế, đồng thời khẳng định “Các thành phần kinh tế
hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh… kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong
những động lực của nền kinh tế”; “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong
lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể
và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng lớn ở những đơn vị chưa có điều
kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường
tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”.
Quan niệm như trên cũng được ghi trong luật pháp và chính sách của Nhà nước
ta. Hiến pháp năm 1992 quy định chế độ sở hữu ở Việt Nam bao gồm ba hình thức cơ
bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Trên cơ sở chế độ sở hữu đó, nền
kinh tế có các thành phần cơ bản là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể,
kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước.
* Các loại hình của kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, đan xen làm cơ sở cho việc hình
thành nhiều loại hình tổ chức kinh doanh tư nhân khác nhau. So với thế giới, kinh
tế tư nhân nước ta ra đời muộn, tuy nhiên nó chứa đựng sự phong phú, đa dạng, bao
gồm hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư
nhân biểu hiện dưới các hình thức: doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hộ kinh doanh cá thể.
Hộ kinh doanh cá thể:
Hộ kinh doanh cá thể là những hộ kinh doanh nhỏ, bao gồm những cá nhân
kinh doanh và nhóm kinh doanh do một cá nhân hoặc gia đình làm chủ, kinh doanh
nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất cứ một loại chứng khoán
nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
Hiện nay ở nước ta, doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp khá phổ
biến, tuy nhiên đa số đều thuộc quy mô còn nhỏ và vừa. Doanh nghiệp tư nhân có tư
cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai loại hình công ty TNHH một thành viên
12
và công ty TNHH hai thành viên trở lên. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi
là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty
THHH hai thành viên trở lên là Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong
đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm
mươi; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp; Phần vốn góp
của thành viên chỉ được chuyển nhượng.
Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh.
Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần.
Hiện nay ở nước ta công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất.
Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty TNHH đem lại cho nhà đầu tư nhiều
lợi thế.
Công ty cổ phần (CTCP)
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phẩn; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng
cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm
1.1.2. Đặc điểm hoạt động của kinh tế tư nhân trong các nền kinh tế
Dựa trên "quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất". Đăc điểm này chỉ ra rằng các hình thức sở hữu, nói rộng ra
là quan hệ sản xuất đều ra đời, phát triển và tiêu vong có tính khách quan. Mặt khác,
các hình thức sở hữu hay các quan hệ sản xuất mang tính chất lịch sử, chúng tồn tại
trong những điều kiện nhất định của lực lượng sản xuất.
Sự khác nhau: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường khác với kinh tế
tư nhân trong nền kinh tế tự cung tự cấp:
- Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường dựa trên lực lượng sản xuất xã
hội hóa, do đó nó tồn tại và phát triển không thể tách rời các hình thức sở hữu và
các thành phần kinh tế khác. Đặc điểm này đưa đến mâu thuẫn nội tại trong kinh tế
tư nhân của kinh tế thị trường, đó là mâu thuẩn giữa tính chất xã hội hóa hoạt động
sản xuất kinh doanh với tính chất tư nhân hóa về chiếm hữu, mẫu thuẫn này không
14
có trong nền kinh tế tự cung tự cấp.
- Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường ra đời là kết quả xóa bỏ sở hữu
tư nhân, trong nền kinh tế tự cung tự cấp.
- Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường sẽ vận động, phát triển
theo hướng xã hội hóa ngày càng cao dưới các hình thức công ty cổ phần, công
ty hợp danh.
- Chỉ có kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường mới có khả năng
phát triển dẫn đến sở hữu xã hội thông qua sự biến đổi và phát triển của lực
lượng sản xuất.
Kinh tế tư nhân trong các chế độ chính trị khác nhau thì bản chất nó khác nhau
- Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, kinh tế tư nhân giữ vai trò
thống trị, nó phù hợp với trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất.
- Trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản lãnh đạo
thì kinh tế tư nhân là một bộ phận trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nó chịu
- Sự phát triển của kinh tế tư nhân đã khơi dậy những tiểm năng của đất nước
cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn, đóng
góp đáng kể vào giá trị thu nhập của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh
tế thị trường hiện đại, ở các nước có nền kinh tế phát triển cao và hiệu quả, tỷ lệ
đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân của khu vực kinh tế tư nhân thường cao hơn
khu vực kinh tế nhà nước.
- Nhờ khai thác và sử dụng tốt những nguồn lực, trí tuệ, kinh nghiệm, khả
năng kinh doanh, tiền vốn, sức lao động, tài nguyên và các nguồn lực khác, khu vực
kinh tế tư nhân đã thu hút được nhiều lao động nông thôn vào các ngành phi nông
nghiệp, nhất là công nghiệp đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch
cân bằng không chỉ thể hiện về số lượng giữa kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể, mà
còn thể hiện rất rõ trong sự phát triển của các vùng lãnh thổ, và giữa các ngành và
các địa phương.
Hai là, kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế
và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế xã hội theo hướng kinh tế thị trường, tạo ra môi
trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế. Sự phát triển phong phú đa dạng
của khu vực kinh tế tư nhân không những đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp
nhà nước, buộc khu vực kinh tế tư nhân phải tái cơ cấu để tồn tại và đứng vững
16
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn thúc đẩy sự cạnh
tranh giữa các khu vực kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động. Phát triển
khu vực kinh tế tư nhân có tác động thúc đẩy phân công lao động, giải phóng lực
lượng sản xuất hình thành lao động, chủ thể kinh tế mới, tạo việc làm, góp phần giải
quyết nạn thất nghiệp, nâng cao đời sống của người dân. Phát triển khu vực kinh tế
tư nhân đòi hỏi cấp bách phải có sự thay đổi pháp lý, đặc biệt là luật pháp về kinh tế
cho phù hợp với điều kiện mới. Đồng thời, cũng đòi hỏi sự quản lý của nhà nước về
kinh tế phải có sự chuyển đổi, thích nghi và ngày càng có hiệu lực, hiệu quả hơn
thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Đồng thời nó cũng là trình độ
sản xuất và tiêu chuẩn đánh giá sự khác nhau giữa các thời đại, xã hội khác nhau.
Chính công cụ sản xuất và phương tiện lao động kết hợp với lao động sáng tạo của
con người là yếu tố quyết định đến năng xuất lao động.
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển, biến đổi của các
hình thức của quan hệ sản xuất.
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc, con
người không ngừng cải tiến hoàn thiện và chế tạo ra các công cụ sản xuất mới.
Đồng thời sự tiến bộ của công cụ tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹ thuật và
mọi kỹ năng của người lao động cũng ngày càng phát triển. Yếu tố năng động này
của LLSX đòi hỏi QHSX phải thích ứng với nó. LLSX quyết định sự hình thành,
phát triển của QHSX từ đó nó quy định sự phát triển và biến đổi của quan hệ sở
hữu. Sự lớn mạnh của LLSX đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với chế độ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa. Chúng ta biết rằng, các quan hệ sở hữu XHCN xuất hiện khi
LLSX đã trở nên mâu thuẫn với hình thức chiếm hữu tư bản tư nhân. Nhưng nó vẫn
chưa hoàn toàn xã hội hoá trong phạm vi toàn xã hội. Chúng ta thấy rằng chỉ có thể
phát triển nền sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu,
các thành phần kinh tế mới tạo ra sự liên kết và tính đan xen giữa chúng thì mới có
thể đưa một nền sản xuất lớn thúc đẩy cho LLSX phát triển. Trên cơ sở đó xác lập
mối quan hệ sản xuất mới và quan hệ sở hữu nói riêng.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:
Mặc dù sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu bị chi phối bởi LLSX với tính
cách là hình thức đa dạng hoá các hình thức sở hữu nói riêng hay QHSH nói chung
cũng có tác động trở lại đối với LLSX. Khi quan hệ sở hữu phát triển nó thúc đẩy
18
LLSX phát triển theo mối quan hệ sở hữu hay hình thức sở hữu đó phù hợp với tính
chất và trình độ của LLSX. Không những thế mà nó định hướng và tạo điều kiện
cho LLSX phát triển.
triển của LLSX thì hình thức về QHSX càng trở nên đa dạng. Khi phân công lao
động trong mỗi nước cũng như quốc tế cũng như khu vực ngày càng sâu khi LLSX
xã hội hoá cao thì các hình thức sở hữu về TLSX ngày càng trở nên đa dạng. Ở các
nước tư bản phát triển cũng như trong các nước khác đều xuất hiện rất nhiều hình
thức sở hữu về TLSX khác nhau. Rõ ràng xu hướng ngày càng đa dạng hoá các hình
thức sở hữu về TLSX gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất của phân
công lao động trong xã hội là một xu hướng tất yếu, là một quá trình lịch sử tự
nhiên và là một quy luật phát triển của xã hội. Đó cũng chính là quá trình xã hội hóa
sản xuất cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất.
- Sự tồn tại của KTTN trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường.
Thứ nhất, tính tất yếu khách quan của kinh tế tư nhân xuất phát từ quy luật
về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Thứ hai, với sự phát triển của lực lượng sản xuất như hiện nay thì phát
triển kinh tế tư nhân là một đòi hỏi khách quan. Trình độ lực lượng sản xuất, xét
đến cùng, bao giờ cũng quy định trình độ phát triển của con người. Khi thừa
nhận kinh tế thị trường là cần thiết đối với quá trình xây dựng CNXH, thì cũng
có nghĩa là phải thừa nhận sự tồn tại tất yếu của kinh tế tư nhân trong CNXH. Đó
còn là sự thừa nhận một động lực quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát
triển nền kinh tế XHCN.
Thứ ba, kinh tế tư nhân vẫn đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thứ tư, sự phát triển của kinh tế tư nhân trong suốt quá trình đổi mới đất
nước đã đóng góp không nhỏ vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội của
đất nước.
Trong một báo cáo công bố gần đây, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng,
thế giới đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, đặc biệt là những vấn đề kinh
tế - xã hội. Để giải quyết được những khó khăn đó, cần phải thực hiện nhiều biện
pháp, trong đó có việc quan tâm, tạo môi trường, động lực cho sự phát triển kinh