Nguyễn Khải
và nỗi hào hứng viết
để chinh phục bạn đọc
Về già Nguyễn Khải có gầy đi đôi chút chứ trong trí nhớ của tôi những năm
chiến tranh, đó là một người vóc vạc cao lớn, chuyên cưỡi chiếc xe đạp Diamant
loại vành 680 mà chỉ những ai trên thước bảy mới chuộng. Cách ăn mặc của ông
không thể nói là sang trọng, chắc chắn đấy không phải là một người ưa làm đỏm,
nhưng ngay trong bộ quân phục thời chiến giản dị ông vẫn biết gợi cho người
chung quanh cảm tưởng rằng mình là một người đàng hoàng không làm cái gì lúi
xùi qua quýt. Có lần, đi họp ở bên Tiệp (nay thường hay gọi là nước Séc),
Nguyễn Khải trở về kể với tôi là không may phải chuyến đi đúng mùa lạnh, bao
nhiêu tiền sinh hoạt phí được nhận dồn cả vào chiếc áo khoác loại hàng cao cấp
bên nước bạn cũng loại thật giàu mới dám mua. Tôi không thích bọn Tây nó nhìn
mình xo rụi trong chiếc áo vét tài chính cà khổ, nên mặc dù thừa biết rằng về Hà
Nội chả có dịp nào để xỏ tay nữa cũng cứ phải sắm bằng được, Nguyễn Khải giải
thích thêm như vậy.
Cái sự thích rành mạch rõ ràng và nếu như đàng hoàng được thì càng tốt nói
trên không chỉ là phong cách ăn mặc mà cũng là phong cách sống, phong cách
viết của Nguyễn Khải nữa. Ở đây tôi xin phép không nói kỹ về thứ văn ông vẫn
viết, mà chỉ muốn lưu ý một điều: nếu như ai đó mạnh ở những ý tưởng thấp
thoáng run rẩy thì ở Nguyễn Khải các ý tưởng chỉ được phép xuất hiện trên mặt
giấy khi nó đã thật chín và không để cho bạn đọc hiểu sai được cái ngụ ý mà tác
giả gửi gắm. Cho đến chữ viết của ông cũng rõ ràng và dù hơi thô nhưng lại có
nét đẹp riêng ngay trong cái vẻ thô đó.
Hồi ấy trong cơ quan tôi có hoạ sĩ T. không được may mắn lắm về đường
tình ái, nói nôm na là tán cô nào cũng hỏng, cuối cùng nhiều phen tình yêu nơi
anh trở thành tình yêu một phía nghĩa là chỉ anh tự hiểu với anh, ngoài ra anh có
kể cho ai thì bạn bè biết thôi, chứ không sao gây được bất kỳ chút xúc động nào
nơi đối tượng. Biết thóp được sự tình đó, Nguyễn Khải thú lắm, thường hình
dung ra những màn kịch:
Quân đội thường có lối quây quần tán phét, tạm gọi là “giao ban”. Đời sống văn
chương nhiều điều đã bộc lộ hết cả trên mặt báo nhưng lại có những điều mà mọi
người chỉ có thể nói miệng với nhau. Anh này vừa đi thực tế về, anh kia có ông
hàng xóm vừa ở chiến trường ra họp, kể tình hình trong ấy ra sao - có muôn vàn
câu chuyện mà chúng tôi cần nói cho nhau nghe, bởi đối với những người viết
văn, mỗi lần nói coi như một lần được nháp thử những ý nghĩ của mình, nữa đây
lại được nói trước một cử toạ chọn lọc như anh em đồng nghiệp, mỗi buổi gặp gỡ
quả là cả một sân khấu để người này có dịp thi thố tài nghệ, người kia tha hồ
quan sát. Sau một buổi trò chuyện, nói như bây giờ là đầy ắp thông tin, và được
lăn ra mà cười, một anh nào đó hình như là Nguyễn Minh Châu đã nói đùa:
- Ngày nào cũng gặp nhau mà vẫn cứ mê nhau như thường!
Trong những buổi trò chuyện đầy hào hứng và mỗi người có dịp thể hiện một
tính cách ấy, thú thực từ sự tò mò của một dân ngoại đạo mới nhập nghề, có một
người mà tôi hằng mong mỏi được nghe, người đó là Nguyễn Khải. Đến với đám
đông, Nguyễn Khải như cá gặp nước. Hàng loạt tài năng của ông lúc này có dịp
bộc lộ: khả năng đánh hơi nghe ngóng nắm bắt được cái gọi là tinh thần chung
của cả đám; tài hoà nhập với mọi người, nói to lên hộ mọi người cái điều họ mới
chỉ cảm thấy mà chưa kịp nói thành lời; khả năng mang lại ý nghĩa cho những
chuyện tưởng như không đâu vào đâu và ngược lại làm cho những điều cao xa
trở nên dễ hiểu.
Có thể bảo những cuộc túm tụm chuyện trò này với Nguyễn Khải chính là một
thứ cảnh diễn, ở dó ông luôn luôn biết tìm cho mình những vai diễn thích hợp.
Đại khái là một kịch bản như sau:
Đầu tiên ông chỉ nhũn nhặn đóng vai một người nghe chuyện thông minh,
đoán biết được ý đồ của người khác và thỉnh thoảng thêm vào một vài lời bình
luận giống như một thứ tiếng đế trong chèo để giúp đương sự thêm hào hứng nói.
Nhưng rồi đến một lúc nào đó, ông nhảy vào cuộc thâu tóm câu chuyện, giải
thích mọi sự theo cách nhìn riêng.
Và rồi chung quanh chợt nhận ra rằng người đang trò chuyện với mình hình
như có một chút ma mị đủ sức lôi mọi người đi theo.
thú vị hơn nói với người khác và nói chung là hoàn toàn vô lợi lộc, thì một người
ích kỷ như anh sẽ không bao giờ chịu nói.
(Ở chỗ này tôi nhớ tới lời tự thú của nhân vật Nam trong Hãy đi xa hơn nữa:
“Thỉnh thoảng vớ được một người chịu nghe mình thực sự thì tôi có thể nói suốt
đêm được”).
Khái quát lên một chút, có thể bảo con người trong Nguyễn Khải là con
người nói năng và đây là nhân tố làm nên tính chất hiện đại của họ.
Thậm chí có lúc cái sự nói ít hay nói nhiều của nhân vật cũng là một dấu
hiệu chứng tỏ thời thế thay đổi: “Xưa kia bố nói rất ít, mỗi chúng ta đều nói rất
ít. Bây giờ tất cả mọi người đều nói quá nhiều. Con sợ phải giáp mặt mọi người,
những mặt người dễ sợ những câu nói dễ sợ” (lời nhân vật Phượng trong vở kịch
Cách mạng).
Trong đời sống văn chương hàng ngày, số người biết uốn ba tấc lưỡi nói như
rồng leo số đó không phải là ít. Nói và viết là hai phương diện khác nhau của cùng
một quá trình: quá trình con người lên tiếng trước đời sống, và bằng cách đó mỗi
người tự khẳng định.
Tuy nhiên cái việc ham nói, đặc biệt là thích nói trước đám đông của Nguyễn
Khải, đối với việc sáng tác của ông, hình như còn có chút ý nghĩa gì hơn thế.
Ở mỗi chúng ta, sự phân cách giữa mình và người chỉ là tương đối: Mỗi cuộc
đối thoại thật ra là một dịp để ta tự thuyết phục. Khi viết cho mình cũng là ta
đang viết cho người. V. Hugo từng nói đại ý: khờ khạo thay nếu anh tưởng rằng
tôi viết cho tôi mà không phải viết cho anh.
Có điều nếu tìm vào cái hích ban đầu, cái phía nặng đồng cân hơn giữa hai
yếu tố chủ quan và khách quan thì phải công nhận ở phần đông nhà văn, nhu cầu
tự biểu hiện là nhân tố chủ yếu. Viết để tự lý giải cho mình những thắc mắc, tự
giải thoát khỏi những dằn vặt. Từ mình rồi mới đi đến với người.
Trong khi đó, với Nguyễn Khải mọi chuyện có khác một chút: Thế hệ các
ông lớn lên trong hoàn cảnh cả xã hội cuốn vào một cuộc rung chuyển lớn lao
mà chỉ có thể tóm tắt bằng hai chữ Cách mạng. Dù quan trọng đến đâu thì những
số phận cá nhân cũng không có quyền được xem như vấn đề hàng đầu của đời