Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt)_Luận văn tiến sĩ Ngôn Ngữ học 2019 - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TIẾN DŨNG

ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG CÁC DIỄN NGÔN
CHÍNH TRỊ (TRÊN TƯ LIỆU TIẾNG ANH
VÀ TIẾNG VIỆT)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TIẾN DŨNG

ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG CÁC DIỄN NGÔN
CHÍNH TRỊ (TRÊN TƯ LIỆU TIẾNG ANH
VÀ TIẾNG VIỆT)
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9 22 90 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hồng Cổn


2.1 Ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh ......................... 411
2.1.1 Ẩn dụ cấu trúc có miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI ............. 422
2.1.2. Ẩn dụ cấu trúc có miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ............... 60
2.2 Ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt ........................... 67
2.2.1 Ẩn dụ cấu trúc có miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI ............... 68
2.2.2. Ẩn dụ cấu trúc có miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ............... 77
2.3 Một số nhận xét chung về ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị
tiếng Anh và tiếng Việt ................................................................................... 83
2.4 Tiểu kết...................................................................................................... 85
Chương 3: KHẢO SÁT ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG CÁC DIỄN NGÔN
CHÍNH TRỊ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT............................................ 88
3.0 Dẫn nhập ................................................................................................... 88


3.1 Ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Anh ............................ 88
3.1.1 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI ................ 88
3.1.2 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ............... 100
3.1.3 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn CƠ THỂ SỐNG ................................... 104
3.2 Ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt .......................... 107
3.2.1 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn là HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI .......... 107
3.2.2 Ẩn dụ bản thể có miền nguồn là MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN............ 117
3.2.3. Ẩn dụ bản thể có miền nguồn là CƠ THỂ SỐNG .............................. 124
3.3. Một số nhận xét chung về ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị
tiếng Anh và tiếng Việt ............................................................................... 1277
3.4 Tiểu kết................................................................................................ 12929
PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................... 1311
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............................................................................ 1354
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 1365


Bảng 3.6: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ
MỘT GIA ĐÌNH ................................................................................. 113
Bảng 3.7: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH QUYỀN
LÀ CỖ MÁY ...................................................................................... 118
Bảng 3.8: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHÍNH TRỊ LÀ
ĐỘNG THỰC VẬT ............................................................................ 120
Bảng 3.9: Thống kê lượt xuất hiện của ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ CƠ
THỂ SỐNG và CÁI XẤU LÀ VẾT THƯƠNG / BỆNH TẬT .......... 124


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ là công cụ tri
nhận của con người, trong đó ẩn dụ là một công cụ tri nhận tiêu biểu và hiệu
quả. Hầu hết quá trình tri nhận của con người về thế giới xung quanh là dựa
trên các ý niệm mang tính ẩn dụ và những ý niệm này có nhiệm vụ cấu trúc
hóa và có ảnh hưởng đến ngôn ngữ con người sử dụng. Lakoff [121: 229] đã
nhận định rằng: “Nếu không có hệ thống ẩn dụ thì chúng ta không thể có triết
lý hóa, lý thuyết hóa mà chỉ có đôi chút hiểu biết chung chung về đời sống cá
nhân và xã hội thường ngày mà thôi”. Ngôn ngữ học tri nhận đã nghiên cứu ẩn
dụ trong mối tương quan giữa ngôn ngữ và tâm lý, và hiện ẩn dụ đã trở thành đối
tượng nghiên cứu của khoa học liên ngành, phát huy vai trò quan trọng trong các
lĩnh vực từ thi ca, kinh tế, ngoại giao đến khoa học, chính trị …
Không chỉ có tầm quan trọng, ẩn dụ còn hiện diện vô cùng phổ biến
trong mọi mặt của đời sống con người. Theo Lakoff và Johnson [124: 3], “ẩn
dụ hiện diện ở khắp mọi nơi trong đời sống chúng ta, không chỉ trong ngôn
ngữ mà còn trong tư duy và hành động”. Ẩn dụ được sử dụng rộng rãi trong
giao tiếp hàng ngày và cả trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo
dục, khoa học. Những ý niệm cơ bản và mang tính phổ quát nhất về thế giới
được chúng ta tri nhận thông qua các phép đồ họa ẩn dụ vốn xuất phát từ

trị, của một nền văn hóa được biểu đạt một cách sinh động và thuyết phục qua
hành vi sử dụng ẩn dụ ý niệm của các diễn giả chính trị.
Tiếp nối các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong DNCT ở ngoài nước và
với mong muốn bổ sung thêm minh chứng về lĩnh vực nghiên cứu này ở Việt
Nam, chúng tôi quyết định chọn “Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị
(trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt)” làm đề tài luận án tiến sỹ. Luận án sẽ
tìm hiểu về việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt,
xác định những loại ẩn dụ ý niệm phổ biến trong hai ngôn ngữ; từ đó giúp làm
sáng tỏ thêm về phương thức tri nhận thế giới của người bản ngữ nói tiếng
2


Anh và tiếng Việt, ngõ hầu giúp ích cho việc dạy-học và nghiên cứu tiếng
Anh ở Việt Nam. Có thể nói đây là một đề tài có tính cấp thiết cả về lý luận
và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong các DNCT tiếng
Anh và tiếng Việt theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận nhằm làm rõ đặc
điểm của các loại ẩn dụ ý niệm được sử dụng phổ biến trong các DNCT tiếng
Anh và tiếng Việt, vai trò của các ẩn dụ ý niệm này, những điểm tương đồng
và dị biệt của các ẩn dụ ý niệm trong DNCT của hai ngôn ngữ. Từ đó, luận án
đưa ra những kiến giải đối với các điểm tương đồng và dị biệt (nếu có) dựa
trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy. Với mục đích nghiên cứu
đó, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
i. Những loại ẩn dụ ý niệm nào được sử dụng trong các DNCT tiếng
Anh và tiếng Việt? Các ẩn dụ ý niệm này có tần suất sử dụng như thế nào?
ii. Vai trò của các ẩn dụ ý niệm là gì khi được sử dụng trong các DNCT
tiếng Anh và tiếng Việt?
iii. Các ẩn dụ ý niệm xuất hiện trong các DNCT tiếng Anh và tiếng

Hoa Kỳ, chủ yếu là các vị Tổng thống trong 30 năm trở lại đây như Ronald
Reagan (1985-1989), George HW Bush (1990 – 1993), Bill Clinton (1994 –
2000), George W Bush (2001 – 2008), Barack Obama (2009 – 2016), Donald
Trump (2017). Ngoài ra còn có một số bài diễn văn được các Tổng thống Hoa
Kỳ khác nhau thực hiện tại thời điểm có những sự kiện lịch sử quan trọng như
sự kiện 11/9 năm 2011, sự kiện bức tường Berlin sụp đổ và một số bài diễn
văn tranh cử tổng thống và tuyên bố thắng cử và một số bài diễn văn của một
số Thủ tướng Anh Quốc như Margaret Thatcher, Tony Blair, Gordon Brown,
David Cameron và một số Thủ tướng Australia như Paul Keating, Bob Hawke,
John Howard, Julia Gillard, Malcolm Turnbull, Scott Morrison. Các diễn
ngôn được lựa chọn có nội dung phản ánh các sự kiện, quan điểm, lập trường
4


chính trị để đảm bảo đối tượng nghiên cứu là các DNCT tiếng Anh. Tổng độ
dài của 58 bài diễn văn là 128.485 từ.
Ngữ liệu tiếng Việt gồm 56 bài diễn văn tiếng Việt của các nhà lãnh
đạo chính trị Việt Nam trong giai đoạn từ 1945 đến nay mà tiêu biểu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Lê Duẩn, Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí
thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước
Trần Đại Quang. Các diễn ngôn tiếng Việt được lựa chọn cũng có nội dung
phản ánh các sự kiện, quan điểm, lập trường chính trị phù hợp với đặc diểm
của DNCT nói chung. Các DNCT tiếng Việt có tổng độ dài là 126.180 từ. (Cụ
thể, xem danh mục các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt được dùng làm tư liệu
nghiên cứu ở Phụ lục 1).
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc khảo sát và nghiên cứu đề tài, chúng tôi sẽ áp dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

tiếng Anh và tiếng Việt.
Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng các thủ pháp thống kê,
phân loại. Cụ thể:
- Thủ pháp thống kê được dùng để khảo sát, thống kê ngữ liệu, cung cấp
các thông tin định lượng cần thiết cho việc miêu tả, nhận xét, đánh giá về đặc
điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, xu hướng sử dụng ẩn dụ ý niệm trong các DNCT
tiếng Anh và tiếng Việt.
- Thủ pháp phân loại được dùng để phân loại và hệ thống hóa các miền
nguồn và các loại ẩn dụ ý niệm trong các DNCT tiếng Anh và tiếng Việt theo
các nhóm để phục vụ mục tiêu nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới của luận án
Mặc dù ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ
học tri nhận với việc ứng dụng các thành tựu của các khung lý thuyết ngôn
6


ngữ học tri nhận trong nhiều lĩnh vực nhưng luận án là công trình đầu tiên ở
Việt Nam nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong DNCT của các nước nói tiếng Anh
và tiếng Việt, một lĩnh vực lâu nay chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ
góp phần củng cố lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, hệ thống hóa các vấn đề cơ
bản của ẩn dụ ý niệm trên cơ sở phân tích nguồn ngữ liệu DNCT tiếng Anh và
tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có giá trị ứng dụng trong công
tác giảng dạy, nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm cũng như công tác nghiên cứu,
phân tích văn bản học, cụ thể là thể loại DNCT.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm khái
niệm, biểu thức, ngữ nghĩa, ngữ dụng và cơ chế ánh xạ của các ẩn dụ ý niệm
trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt, một lĩnh vực chưa được nghiên cứu

Chương 3: Khảo sát ẩn dụ bản thể trong các diễn ngôn chính trị
tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3 của luận án phân tích các ẩn dụ ý niệm bản thể và các biểu
thức ẩn dụ bản thể phổ biến trong DNCT tiếng Anh và tiếng Việt.

8


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ẩn dụ trong ngôn ngữ học
1.1.1.1 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng truyền thống
Ẩn dụ, theo nhận định của Al-Zoubi, Al-Ali và Al-Hasnawi [83], là một
phương tiện ngôn ngữ độc đáo xuất hiện trong đại đa số ngôn ngữ trên thế
giới. Ẩn dụ hiện diện trong mọi cấp độ hoạt động xã hội và phong cách ngôn
ngữ, không chỉ trong ngôn ngữ văn chương mà còn trong ngôn ngữ báo chí,
luật học, triết học, và đặc biệt trong ngôn ngữ chính trị nhờ vào khả năng biểu
cảm, có khả năng cụ thể hóa những ý niệm trừu tượng với tính liên hội cao, và,
theo Charteris-Black [89], nhờ vào việc ẩn dụ có sức nặng thuyết phục đối với
lý trí cũng như tình cảm của người nghe.
Các ẩn dụ của một ngôn ngữ là sự chắt lọc các giá trị nền văn hóa dân tộc
của ngôn ngữ đó. Ẩn dụ là công cụ nhận thức và hành động của các thành
viên cùng sống trong một cộng đồng văn hóa, phản ánh quan điểm, thái độ
của họ đối với thế giới khách quan nói chung và đời sống xã hội của cộng
đồng văn hóa đó nói riêng. Vì thế, có thể nhận định rằng, ẩn dụ là một sản
phẩm của văn hóa.
Ẩn dụ được các nhà nghiên cứu dành nhiều sự quan tâm từ thời Cổ đại và
được coi như là một phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự so sánh ngầm giữa
hai sự vật có điểm tương đồng. Aristotle đã định nghĩa ngắn gọn về ẩn dụ: “Ẩn

đen và nghĩa hình ảnh của một biểu thức và chính sự tương đồng giữa các
biểu vật cho phép giải thích việc sử dụng một đơn vị từ theo lối ẩn dụ. Tuy
nhiên, theo hướng nghiên cứu này, việc sử dụng ẩn dụ chỉ là phản xạ vô thức..
Ngôn ngữ học truyền thống không xem ẩn dụ là hành động diễn ngôn mang
tính chất thuyết phục và không thể giúp người nói hình thành các quan điểm

10


của mình. Nói cách khác, ẩn dụ chưa được nhìn nhận một cách đúng đắn như
một phương thức tư duy.
Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học có quan điểm coi ẩn dụ là dựa trên
sự tương đồng. Đỗ Hữu Châu [4: 54] nhận định: “Ẩn dụ là cách gọi tên một
sự vật này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng”.
Nguyễn Thiện Giáp [22: 162] cũng có quan điểm tương tự: “Ẩn dụ là sự
chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng
được so sánh với nhau.”
1.1.1.2 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng ngôn ngữ học tri nhận
i) Các nghiên cứu ở ngoài nước
Từ khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời, quan điểm về ẩn dụ bắt đầu có sự
thay đổi. Các nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận khởi nguồn từ những năm
1980 với những tên tuổi như G. Lakoff, M. Johnson, G. Fauconnier, Ch.
Fillmore, R. Jackendoff, R. Langacker, L. Talmy, M. Turner, A. Wierzbicka ...
Năm 1980 với tác phẩm “Metaphors we live by” viết chung với nhà triết học
M. Johnson, Lakoff bắt đầu phát triển lý thuyết về ẩn dụ tri nhận (ẩn dụ ý
niệm). Lý thuyết này làm cho danh tiếng Lakoff vượt ra ngoài phạm vi thuần
túy ngôn ngữ học, báo hiệu một sự thay đổi lớn trong lĩnh vực nghiên cứu về
ngôn ngữ trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác.
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ chủ yếu liên quan đến tư duy
hơn là liên quan đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ học tri nhận coi ẩn dụ là công cụ quan

Trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và các vấn đề xã hội, Lakoff và
Johnson [124: 159] đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy rằng “ẩn dụ đóng vai
trò then chốt trong việc kiến tạo thực trạng xã hội và chính trị. Lakoff [122]
đã phân tích chính trị thế giới quan của những người có quan điểm bảo thủ và
cấp tiến ở Mỹ, xem xét các quan điểm về kiểm soát súng, án tử hình, thuế, các
chương trình xã hội, môi trường và nghệ thuật trong một khung tri nhận nhất
định. Trong lĩnh vực tâm lý học, ẩn dụ cũng thể hiện vai trò quan trọng trong
lĩnh vực nhận thức và tâm lý học; và nghiên cứu của Gibbs [103] và Lakoff
12


[116] đã chứng minh điều này. Có thể nói rằng lý thuyết ẩn dụ ý niệm ngày
càng được hoàn thiện và phát huy vai trò quan trọng không chỉ trong lĩnh vực
ngôn ngữ học mà còn trong các lĩnh vực nghiên cứu đa ngành khác.
Ngôn ngữ học tri nhận coi ẩn dụ ý niệm là công cụ quan trọng để ý niệm
hóa. Theo Lakoff [120], ẩn dụ ý niệm là các ánh xạ có tính hệ thống giữa hai
miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng
chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác. Ví dụ, câu “Argument is
war” (Tranh luận là cuộc chiến tranh) có miền nguồn chiến tranh được ánh xạ
vào miền đích tranh luận và được biểu hiện qua những biểu thức ngôn ngữ
như tấn công, chống đỡ, bảo vệ… theo đó miền đích tranh luận có những đặc
điểm của miền nguồn chiến tranh. Trọng tâm của ẩn dụ ý niệm không phải là
ngôn ngữ mà là phương thức chúng ta ý niệm hóa một miền tâm trí qua một
miền tâm trí khác.
Các ẩn dụ hoạt động như các “công cụ tri nhận”, nghĩa là các ẩn dụ không
chỉ là cách thức biểu hiện tư tưởng bằng phương tiện ngôn ngữ mà còn là cách
thức tư duy về sự vật. Lakoff và Johnson [124] chứng minh rằng chúng ta không
chỉ phát hiện ra ẩn dụ ý niệm “thời gian là tiền bạc” về mặt ngôn ngữ học mà
thực ra chúng ta đã suy nghĩ hoặc ý niệm hóa phạm trù đích thời gian qua phạm
trù nguồn tiền bạc, khi chúng ta sử dụng các diễn ngôn sau đây:

Trong những năm trở lại đây, đa số các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ
học tri nhận đều quan tâm đến ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận). Phan Thế Hưng
[32: 12] đã phủ nhận dòng quan điểm so sánh trong ẩn dụ khi nhận định rằng
“ẩn dụ không đơn giản là phép so sánh ngầm mà chính là câu bao hàm xếp
loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy”. Tác giả chỉ ra rằng: bản chất của sự
xếp loại là cơ sở của tính ẩn dụ; ẩn dụ không thể đảo ngược và mối quan hệ
của hai sự vật trong ẩn dụ không mang tính đối xứng. Võ Kim Hà [66] nghiên
cứu cách diễn đạt ẩn dụ trong tiếng Việt theo lý thuyết nguyên mẫu trong
quan hệ so sánh với tiếng Anh và tiếng Pháp trên cơ sở ngữ liệu báo chí và
14


các tác phẩm văn học. Hà Thanh Hải [67] nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trên cơ sở
ngữ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn
hóa và tư duy. Ly Lan [72] xem xét một cách đa chiều về phương diện
“nghiệm thân” trong cách biểu đạt các ý niệm tình cảm VUI, YÊU, SỢ,
GIẬN. Trần Thị Phương Lý [73] nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về thực vật, tìm
hiểu mô hình chuyển di ý niệm từ ý niệm thực vật để nhận thức các phạm trù
ý niệm khác. Nguyễn Thị Bích Hạnh [26] sử dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm
nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong ca từ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, phản
ánh một nghiên cứu có sự giao thoa giữa ngôn ngữ, thi ca và âm nhạc;
Nguyễn Thị Bích Hợp [70] cũng vận dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm nghiên cứu
đặc trưng tri nhận và bản sắc văn hóa người Việt qua ẩn dụ ý niệm “đồ ăn”.
1.1.2. Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các
DNCT. Trước tiên phải kể đến Lakoff [122], trong cuốn sách Moral Politics:
What Conservatives Know That Liberals Don’t xuất bản năm 1996, đã phân
tích những quan điểm là nền tảng tư duy chính trị ở Hoa Kỳ và nhận định
rằng ẩn dụ ý niệm GIA ĐÌNH đứng ở vị trí trung tâm của hệ thống ý niệm
hóa về xã hội của chính trị Hoa Kỳ. Lakoff đã liệt kê một số ẩn dụ ý niệm phổ

cửa đó để tiến vào tương lai.
Phân tích 06 bài diễn ngôn của Tổng thống George W. Bush, Fadda [100]
ghi nhận sự xuất hiện của ẩn dụ ý niệm CHIẾN TRANH NHƯ MỘT CÂU
CHUYỆN CỔ TÍCH (WAR AS A FAIRY TALE) trong bối cảnh nước Mỹ
vừa bị chấn động bởi vụ khủng bố được biết đến với tên gọi “sự kiện 11 tháng
9”. Tổng thống George W. Bush, với mục đích kêu gọi người dân Mỹ ủng hộ
kế hoạch tấn công triệt để các phần tử khủng bố, đã ý niệm hóa chiến tranh
như một câu chuyện cổ tích, trong đó Bin Laden, Al Queda và chính quyền
Taliban là những kẻ hung ác và nước Mỹ đảm nhận sứ mệnh người hùng tiêu
diệt kẻ ác, mưu cầu hòa bình và tự do dù phải trả bất kỳ giá nào.
16


Meadows [133] khi phân tích các bài diễn văn của chính giới Hoa Kỳ về
vấn đề Iraq trong những năm 2004-2005 cũng xác nhận sự phổ biến của ẩn dụ
ý niệm CHIẾN TRANH NHƯ MỘT CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH (WAR AS A
FAIRY TALE). Kết quả nghiên cứu này trùng khớp với những nghiên cứu
trước đó của Lakoff [119 & 123] khi ông phân tích những DNCT của Hoa Kỳ
về Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất và Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai
với miền nguồn CÂU CHUYỆN CỐ TÍCH được ánh xạ lên miền đích
CHIẾN TRANH, trong đó nước Mỹ được mô tả như người anh hùng với vai
trò “cứu nhân độ thế”, ác nhân là Tổng thống Iraq Saddam Hussein và nạn
nhân cần được giải cứu là nhân dân Kuwait (1992) và nhân dân Iraq (2003).
Arcimaviciene [81] ghi nhận sự phổ biến của ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG
CHÍNH TRỊ LÀ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO / CỜ BẠC ở Anh Quốc trong
khi ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC CHƠI ĐỒNG ĐỘI /
MỘT CUỘC ĐI SĂN lại phổ biến ở Cộng hòa Latvia tuy cùng chung ẩn dụ ý
niệm phổ quát HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ LÀ THỂ THAO. Ẩn dụ ý niệm
HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ LÀ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO được nhắc đến
trong bài xã luận đăng tải trên tờ The Economist (2005) trong câu “ICM

với hình tượng vị lãnh tụ đất nước như một người cha phải có trách nhiệm với
những con dân của mình. Đối với ẩn dụ ý niệm QUỐC GIA LÀ MỘT CON
NGƯỜI (NATION AS PERSON) và CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH
TRÌNH (POLITICS AS JOURNEY), cựu tổng thống Nigeria Atiku Abubakar
trong bài diễn văn tuyên bố những mục tiêu chính trị của mình vào năm 2006
đã phát biểu rằng: “Today, we are embarking on a long and challenging
journey to create a united, stable, safe, free and prosperous country”. (Ngày
hôm nay, chúng ta đang tiến bước trong một hành trình dài đằng đẵng và đầy
thách thức để hướng tới việc tạo lập một đất nước thống nhất, ổn định, an
toàn, tự do và phồn vinh). Ông dùng hình ảnh đất nước trong quá trình vận

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status