BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ KIM ANH
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG TẬP THƠ THƠ
CỦA XUÂN DIỆU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ KIM ANH
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG TẬP THƠ THƠ
CỦA XUÂN DIỆU
CHUYÊN NGÀNH: TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Trần Thị Lan Anh
SƠN LA, NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo Đại học, các cán bộ ở Trung
1.1.2. Sự ý niệm hóa .............................................................................................. 7
1.1.3. Cấu trúc ý niệm ........................................................................................... 8
1.2. Tính nghiệm thân ........................................................................................... 9
1.3. Ẩn dụ ............................................................................................................ 10
1.3.1. Quan điểm truyền thống về ẩn dụ ............................................................. 10
1.3.2. Quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ........................................ 12
1.4. Ẩn dụ ý niệm ................................................................................................ 13
1.4.1. Cấu trúc của ẩn dụ ý niệm ......................................................................... 13
1.4.2. Ánh xạ ....................................................................................................... 14
1.4.3. Phân loại ẩn dụ ý niệm ............................................................................. 15
1.5. Một vài nét chính về cuộc đời - sự nghiệp của Xuân Diệu .......................... 18
1.5.1. Cuộc đời .................................................................................................... 18
1.5.2. Sự nghiệp................................................................................................... 18
1.6. Tập “Thơ thơ” .............................................................................................. 19
Chương 2: MÔ HÌNH TRI NHẬN CỦA ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU
TRONG TẬP “THƠ THƠ” CỦA XUÂN DIỆU ............................................ 21
2.1. Dẫn nhập ...................................................................................................... 21
2.2. Ẩn dụ ý niệm về tình yêu ............................................................................. 22
2.3. Mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong tập “Thơ thơ” của
Xuân Diệu............................................................................................................ 23
2.3.1. Mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ THỰC THỂ ............ 23
2.3.2. Mô hình tri nhận ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH
TRÌNH ................................................................................................................. 25
2.3.3. Mô hình tri nhận TÌNH YÊU LÀ MEN SAY........................................... 27
2.3.4. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ LỬA/NHIỆT ............................................ 28
2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ẩn dụ ý niệm về tình yêu
trong thơ Xuân Diệu ............................................................................................ 29
Chương 3: CÁC ẨN DỤ Ý NIỆM TIÊU BIỂU VỀ TÌNH YÊU TRONG
ẩn dụ là một phương pháp khoa học để giải mã các giá trị trong thi ca, đồng thời
là một bước khảo nghiệm mối quan hệ giữa ẩn dụ ngôn ngữ và ẩn dụ thi ca.
1.2. Tình yêu vốn là đề tài muôn thuở không chỉ của thơ ca mà ở mọi lĩnh
vực của đời sống. Khi nói về tình yêu, các tác giả đã có cái nhìn ở nhiều bình
diện khác nhau. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tình yêu dưới góc độ ẩn dụ ý niệm
thì không phải đã có nhiều người quan tâm.
1.3. Xuân Diệu là một trong những tác giả viết về tình yêu hay nhất – người
được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” - một trong những đại diện tiêu biểu
nhất của phong trào Thơ mới… Ông là hiện tượng lớn của nghệ thuật thơ ca thu
hút được sự quan tâm của nhiều bạn đọc và các nhà nghiên cứu. Thơ ông diễn tả
một cách chân thực những trạng thái tâm lí, những cảm xúc, những cung bậc của
tình yêu và đặc biệt: “tình yêu trong thơ Xuân Diệu có vẻ gì lạ lắm, nó có vẻ là
1
một nỗi khát khao, một nỗi ám ảnh về tình yêu như của trái tim nguyên thủy từ
thuở mới có Ađam và Ê-va trên trái đất. Một thứ tình nguyên sơ như thuở hồng
hoang... Xuân Diệu là người đã đem đến một cảm xúc mới lạ và lạ lùng đặc biệt
nhất, cái nỗi khát khao, tiếc nuối, giấc mơ của những giấc mơ tình yêu” [28;
158]. Đã có khá nhiều bài viết, chuyên luận của các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước quan tâm đến thơ ông với nhiều khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn
như các tác giả: Hà Minh Đức, Ngô Bích Hương, Nguyễn Trọng Khánh, Lữ Huy
Nguyên … Tuy vậy, việc xem xét thơ Xuân Diệu dưới góc độ ẩn dụ tri nhận thì
hầu như chưa được quan tâm nhiều.
Vì tất cả những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Ẩn dụ ý niệm về tình
yêu trong tập “Thơ thơ” của Xuân Diệu với mong muốn góp một phần nhỏ vào
trào lưu nghiên cứu ngôn ngữ mới mẻ này, đồng thời góp phần làm sáng rõ
phong cách, cá tính nghệ thuật của Xuân Diệu qua một tập thơ được lựa chọn
làm ngữ liệu – tập “Thơ thơ”.
2. Lịch sử vấn đề
trong thơ Xuân Diệu. Qua đó hiểu rõ hơn về con người nhà thơ, đặc trưng tư duy
cũng như cá tính sáng tạo của ông.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận, đối tượng nghiên cứu của
đề tài là các ẩn dụ ý niệm về tình yêu trên nguồn ngữ liệu của nhà thơ Xuân
Diệu
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là những ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong
tập “Thơ thơ” (gồm 46 bài thơ) của Xuân Diệu.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Tìm hiểu và hệ thống hóa những cơ sở lí thuyết của ngôn ngữ học tri
nhận nói chung, ẩn dụ ý niệm nói riêng làm cơ sở cho việc nghiên cứu.
- Thống kê và phân loại các ẩn dụ ý niệm trong tập “Thơ thơ” đồng thời
phân tích ý nghĩa của các ẩn dụ về tình yêu để thấy được giá trị và phong cách
tư duy nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả, phân tích ý niệm: được sử dụng để miêu tả, phân
tích các biểu thức ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Xuân Diệu. Từ việc phân
tích các ý niệm đó, làm rõ bản chất các mô hình ẩn dụ ý niệm đã cấu trúc hóa tri
giác, tư duy và hoạt động nói chung của con người như thế nào và phát hiện
những đặc trưng riêng trong cách tri giác, tư duy và phản ánh thế giới của tác giả
Xuân Diệu.
- Bên cạnh đó, khoá luận còn sử dụng thủ pháp thống kê, phân loại để
thống kê số lượng và phân loại các biểu thức ẩn dụ theo các phương diện ý niệm
liên quan đến tình yêu trong phạm vi ngữ liệu đã xác định. Đây là căn cứ thực
Xuân Diệu.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Ý niệm, sự ý niệm hóa và cấu trúc ý niệm
1.1.1. Ý niệm
Khái niệm “ý niệm” đã tồn tại từ thời Trung Cổ. Pierre Abe’lard (10791142) đã khảo sát khái niệm này và cho rằng “ý niệm” là một hình thức “chộp
lấy” ý nghĩa, một hành động mang nặng tính chủ quan. Như vậy, ý niệm là một
tập hợp những khái niệm nằm sâu kín trong tâm hồn và sẵn sàng được biểu hiện
thành lời, nó liên kết với các phát ngôn thành một cách nhìn sự vật này khác với
vai trò của trí tuệ, nó biến phát ngôn thành tư tưởng.
Ý niệm ở đây được hiểu không chỉ là vấn đề tri thức. Chúng chi phối các
chức năng hoạt động hàng ngày cho đến những chi tiết tầm thường nhất. Chúng
cấu trúc cái chúng ta nhận thức, cái chúng ta giao tiếp với ngoại giới và với
người khác. Chúng đóng vai trò chính trong việc xác định hiện thực hàng ngày
trong cuộc sống. Một phần ý niệm được cấu trúc một cách bình thường, phi-ẩn
dụ (nonmetaphorical), ta có thể hiểu một cách trực tiếp, nhưng phần lớn những ý
niệm được cấu trúc một cách ẩn dụ. Vì thế mà Lakoff và Johnson, trong tác
phẩm bàn về triết học chính của mình, Philosophy in the Flesh: The Embodied
Mind and Its Challenge to Western Thought, khẳng định rằng: “Những ý niệm
trừu tượng hầu hết đều có tính ẩn dụ” và do đó, những ý niệm căn bản nhất của
siêu hình học như thời gian, yếu tính, tinh thần, luân lý… cũng đều xuất phát từ
ẩn dụ. Đó là một trong ba khám phá quan trọng nhất của “Nhận Thức Học”
(Cognitive Science).
Khi nói Anh A chết, đó là một ý niệm bình thường về cái chết của một
người. Nhưng khi nói: Máy điện thoại của tôi chết hay Xe tôi chết máy, đó là ý
niệm ẩn dụ. Vì ở đây, người ta hiểu sự hỏng hóc của cái điện thoại hay cái máy
Quá trình ý niệm hóa liên quan chặt chẽ với quá trình phạm trù hóa: cùng là
hoạt động phân loại, nhưng chúng khác nhau về kết quả cuối cùng hoặc về mục
đích hoạt động. Ý niệm hóa nhằm trừu suất những đơn vị tối giản nào đó của
kinh nghiệm con người trong cách hiểu lí tưởng về mặt nội dung, còn phạm trù
hóa thì nhằm kết hợp lại những đơn vị giống nhau hoặc đồng nhất về mặt nào đó
thành những lớp lớn hơn.
Liên quan đến vấn đề ý niệm, các nhà khoa học khẳng định rằng ý niệm là
7
một mảng của thế giới do con người cắt ra bằng "lưỡi dao ngôn ngữ" để nhận
thức. Một trong những đặc điểm của ngôn ngữ con người là tính gián đoạn, hay
như Engels gọi: tính phân tiết. Tất nhiên cái đặc điểm này ảnh hưởng sâu sắc
đến cách nhìn thế giới của con người, cụ thể là con người cắt thế giới ra từng
mảng trong khi nhận thức nó cũng giống như muốn hiểu cơ thể con người thì
phải phẫu thuật nó. Việc cắt thế giới ra thành từng mảng được gọi là ý niệm hoá
thế giới. Điều cần nói ở đây là cái thế giới mà trong đó con người đang sống và
đang nhận thức là tồn tại khách quan và thống nhất cho tất cả mọi người, còn
việc chia cắt nó ra thì lại không thống nhất bởi cái "lưỡi dao ngôn ngữ" dùng để
cắt không giống nhau ở các tộc người, các cộng đồng người mang những nền
văn hoá khác nhau. Việc ý niệm hoá thế giới cho chúng ta những "bức tranh thế
giới".
1.1.3. Cấu trúc ý niệm
Ý niệm hình thành trong ý thức của con người có cấu trúc nội tại bao gồm
nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng mang những nét
phổ quát, mặt khác nó chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa dân tộc.
Ý niệm là một hình ảnh có chuyển động từ một hình ảnh cảm tính sang một
hình ảnh tư duy.
Ý niệm có cấu trúc trường chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm
và ngoại vi.
Trong ý niệm có cái phổ quát và cái đặc thù [2; 142].
1.2. Tính nghiệm thân
Trong ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện
đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ
của con người về thế giới khách quan cũng như cách thức mà con người tri giác
và ý niệm hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó [35; 16]. Nghiệm
thân (embodiment) là một khái niệm vô cùng quan trọng. Giả thuyết nghiệm
thân được các nhà ngôn ngữ học tri nhận xây dựng trên quan điểm cho rằng
những trải nghiệm mang tính nghiệm thân là cơ sở cho sự phát triển ngữ nghĩa
trong ngôn ngữ. Trong tác phẩm “Metaphor we live by”, Lakoff và Johnson đã
chỉ ra phương chiều của quá trình cấu trúc hóa ẩn dụ như là một dạng thức đầu
tiên của giả thuyết nghiệm thân. Lakoff trong “Woman, Fire and dangerous
things” đã nói rõ hơn: “Những cấu trúc dùng để kết nối hệ thống ý niệm của
chúng ta đều nảy sinh từ những trải nghiệm thân thể và được hiểu theo những
cách trải nghiệm thân thể; ngoài ra, hạt nhân hệ thống ý niệm của chúng ta bắt
rễ trực tiếp từ tri giác chuyển động thân thể, cùng sự trải nghiệm về những đặc
trưng vật lí và xã hội” [44]. Nhấn mạnh vào tính nghiệm thân như là nền tảng
cho tư duy, Lakoff và Johnson cho rằng chính những gì mà cơ thể chúng ta trải
nghiệm trong quá trình tương tác với môi trường ta suy nghĩ, biểu đạt, giao tiếp
(Lakoff and Johnson 1999).
Một cách cụ thể nhất, tính nghiệm thân được quan niệm là sự trải nghiệm
về thân thể, về nhận thức và về xã hội của con người là cơ sở cho hệ thống ý
niệm và hệ thống ngôn ngữ của chúng ta. Nó có liên quan đến quá trình con
người lấy các bộ phận của cơ thể và sự trải nghiệm của thân xác để hình thành
hệ thống ý niệm và tư duy. Nghiệm thân gồm hai yếu tố chính đó là sự tiếp nhận
con người với thế giới khách quan đồng thời là sự trải nghiệm trong cuộc sống
để hình thành tư duy và nhận thức [34]. Có không ít bằng chứng cho thấy cách
tư duy theo kiểu ẩn dụ của chúng ta xuất phát từ những kinh nghiệm nghiệm
9
10
học, O.X. Akhmanovaddax định nghĩa ẩn dụ là: “Phép chuyển nghĩa (trop) dùng
các từ và ngữ ở ý nghĩa bóng trên cơ sở sự tương tự, sự giống nhau…”
Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng có quan điểm tương tự. Chẳng
hạn, Nguyễn Lân giải thích ẩn dụ là: “phép sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa
trên cơ sở sự tương đồng, sự giống nhau… giữa các thuộc tính của cái dùng để
nói và cái nói đến. Ẩn dụ cũng là một cách ví…” [23; 24].
Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa
vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [11;
162]. Tác giả còn chỉ rõ về bản chất, ẩn dụ cũng là một loại so sánh, nhưng là sự
so sánh hiểu ngầm, ở đó chỉ còn lại một vế được so sánh, do đó nó có thể trở
thành một biện pháp làm giàu từ vựng.
Tác giả Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Phép ẩn dụ là phương thức chuyển
nghĩa của một đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một
nét nghĩa tương đồng nào đó” [21; 198].
Còn tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật này
bằng tên sự vật vật khác dựa trên mối quan hệ tương đồng”. Sau này, ông cụ thể
hoá định nghĩa về ẩn dụ bằng công thức: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và
Y là những nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi của X (tức là X có ý nghĩa biểu vật
chính của A). Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên
Y nếu như X và Y có nét nào giống nhau” [4; 54 ].
Như vậy, theo quan niệm truyền thống thì ẩn dụ vốn được coi là một sự so
sánh ngầm và hầu hết các tác giả đều coi ẩn dụ là sự chuyển tên gọi dựa trên cơ
sở sự giống nhau của sự vật về màu sắc, hình dạng, tính chất vận động… Nói
rộng ra, ẩn dụ là cơ chế của lời nói thể hiện trong cách dùng từ biểu hiện một lớp
sự vật, hiện tượng nào đó…để định tính hoặc gọi tên những đối tượng thuộc một
lớp khác, hoặc gọi tên một lớp đối tượng khác tương đồng với lớp đã cho trong
một quan hệ nào đó [2]. Tóm lại, những quan niệm truyền thống về ẩn dụ của
các hiện tượng khác.
Lý Toàn Thắng đã nói đến tầm quan trọng của ẩn dụ tri nhận trong ngôn
ngữ đặt trong sự so sánh ẩn dụ theo quan điểm truyền thống và tu từ học. Theo
ông: “Ẩn dụ truyền thống và văn học tu từ thường được coi là một trong hai
(cùng với hoán dụ) kiểu chính của phép dùng từ theo nghĩa bóng dựa trên những
12
khái niệm tương tự và so sánh giữa nghĩa đen với nghĩa bóng của từ ngữ”. Ông
đã đưa ra cách hiểu mới về ẩn dụ: “Ẩn dụ ý niệm là một sự chuyển di (trannfer)
hay một sự đồ họa (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của mộ lĩnh vực
hay một mô hình tri nhận đích” [35; 30].
Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn: “Ẩn dụ là phép thay thế gọi tên hay chuyển
đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này sang sự vậ hiện khác dựa trên cơ
sở của sự liên tưởng đồng nhất hóa theo đặc điểm thuộc tính nào đó có ở
chúng”. Bên cạnh đó ông còn khẳng định: “… Ẩn dụ được coi là phương thức tư
duy của con người” [39; 5].
Với cách tiếp cận chung nhất, ẩn dụ được xem như là cách nhìn một đối
tượng này thông qua một đối tượng khác; với nghĩa đó ẩn dụ là một phương
thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ.
1.4. Ẩn dụ ý niệm
1.4.1. Cấu trúc của ẩn dụ ý niệm
Dưới góc nhìn của tri nhận luận, ẩn dụ ý niệm là một sự chuyển di
(transfer) hay một sự ánh xạ (mapping) cấu trúc và hệ nội tại của một miền hay
mô hình tri nhận nguồn (source) sang một miền hay mô hình tri nhận đích
(target). Chẳng hạn, ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH,
hai ý niệm ở hai miền NGUỒN – ĐÍCH là hoàn toàn khác biệt, tưởng như
không có gì liên quan đến nhau. Nhưng “miền nguồn” là ý niệm về một sự
chuyển dịch trong không gian (Hành trình) và “miền đích” là một điều trừu
tượng (Tình yêu). Và lúc này tình yêu, được bàn đến theo ý niệm về một cuộc
của các tương ứng giữa các yếu tố tạo thành miền Nguồn và miền Đích. Các ánh
xạ có thể phóng chiếu từ miền Nguồn sang miền Đích. Do vậy, ẩn dụ ý niệm có
nghĩa là hiểu được hệ thống ánh xạ của một cặp Nguồn – Đích.
Những kết quả thực nghiệm khi khảo sát ngôn ngữ nói về tình yêu trong ẩn
dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH của Lakoff và Johnson
cho thấy ẩn dụ liên quan đến việc hiểu một lĩnh vực kinh nghiệm (tình yêu) theo
một lĩnh vực kinh nghiệm hoàn toàn khác (cuộc hành trình). Hai ông gọi sự kiện
đó theo một thuật ngữ toán học là ánh xạ (mapping): ánh xạ ý niệm về cuộc
hành trình vào ý niệm về tình yêu. Sơ đồ ánh xạ trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm là
một bộ có hệ thống của những tương liên (correspondences) nằm giữa các thành
tố của miền Nguồn và miền Đích. Nhận biết và hiểu một ẩn dụ ý niệm là nhận
14
biết bộ ánh xạ áp dụng cho một cặp Nguồn – Đích đã cho. Ẩn dụ ý niệm tồn tại
hai miền Nguồn và Đích, trong đó Nguồn có chức năng cung cấp tri thức mới và
chuyển tri thức đó cho miền Đích thông qua các ánh xạ. Trong ẩn dụ ý niệm
TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH cho chúng ta hiểu rằng miền
Nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH với các nét đặc trưng như con đường (dài gập
ghềnh), phương tiện đi lại (thuyền, tàu, xe…), đích đến… được gán cho ý niệm
miền Đích TÌNH YÊU.
Sau đây là sơ đồ ánh xạ ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH
(phỏng theo Lakoff):
TÌNH YÊU
CUỘC HÀNH TRÌNH
Lữ khách
một biểu thức khác. Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của quá trình biểu
trưng hóa (vật thể và ngôn ngữ) và của sự liên tưởng. Được chúng ta áp dụng
trong cuộc sống và nó cấu trúc các hoạt động của chúng ta trên cơ sở tương ứng.
Nói cách khác, ẩn dụ cấu trúc là hiện tượng cấu trúc lại ý niệm ở miền
ĐÍCH về mặt nghĩa sau khi nhận được những tri thức mới (những nét thuộc tính
mới) do ý niệm ở miền NGUỒN gán cho (hay ánh xạ lên).
Chẳng hạn ẩn dụ cấu trúc cho ta ẩn dụ ý niệm “THỜI GIAN LÀ TIỀN
BẠC” (TIME IS MONEY). Ta thấy ý niệm TIỀN BẠC (miền NGUỒN ) đã cấu
trúc hóa ý niệm THỜI GIAN (miền ĐÍCH ) làm cho hai khách thể THỜI GIAN
và TIỀN BẠC trở nên tương đồng ở một bộ phận nào đó và chúng ta hiểu miền
đích là THỜI GIAN thông qua các ánh xạ từ miền nguồn TIỀN BẠC. Bằng
chứng cho sự tương đồng này là những biểu thức ngôn ngữ sau đây:
Anh phung phí thời gian quá đấy.
Hãy dành một ít thời gian để quan tâm em được không?
Việc đó có đáng giá thời gian của bạn không?
Cái siêu tốc này sẽ tiết kiệm cho bạn nhiều thời gian.
Tôi không có thời gian dành cho bạn.
Có thể thấy, trong thời gian, đại bộ phận các biểu thức ngôn ngữ đều được
tạo nên từ ý niệm tiền bạc. Về mặt ý nghĩa, ẩn dụ ý niệm này quyết định các
phương thức nhận thức, lí giải, bàn luận của con người về thời gian do ý niệm là
tiền bạc tạo nên.
Như vậy, bản chất của ẩn dụ là ở sự ngữ nghĩa hoá và cảm nhận những hiện
tượng loại này trong thuật ngữ các hiện tượng loại khác [2; 255].
b. Ẩn dụ bản thể (Ontological metaphor)
Ẩn dụ bản thể thực chất “là sự phạm trù hóa những bản thể trừu tượng bằng
cách vạch ranh giới của chúng trong không gian” [3].
Ẩn dụ bản thể là “cách nhìn những sự kiện, những hoạt động, những cảm
xúc, những ý tưởng, vv… như là những thực thể, những chất [44]. Những
phương thức giải thích các sự kiện, hành động, cảm xúc, tư tưởng v.v. vốn là
những khái niệm trừu tượng, xem chúng như những vật thể và chất liệu. Ẩn
vật lí, nhưng những ẩn dụ định hướng dựa trên những đối lập đó có thể biến
dạng trong những nền văn hoá khác nhau. Ví dụ, trong một số nền văn hoá,
tương lai ở phía trước ta, trong một số nền văn hoá khác thì nó lại ở đằng sau ta.
17
1.5. Một vài nét chính về cuộc đời - sự nghiệp của Xuân Diệu
1.5.1. Cuộc đời
Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, quê ở làng Trảo Nha, huyện Can
Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa,
huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là ông Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà
Nguyễn Thị Hiệp.
Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học
tưvà làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống
bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938–1940). Năm
1943, ông tốt nghiệp cử nhân luật và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho sau
đó chuyển về ở Hà Nội.
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh, đảng viên Việt Nam
Dân chủ Đảng, sau tham gia Đảng Cộng sản. Sau Cách mạng tháng Tám, ông
hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký Tạp chí Tiền phong của Hội.
Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp
chí Văn nghệ ở Việt Bắc.
Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội
Nhà văn Việt Nam.
Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày
Nay và Tiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt
Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.
1.5.2. Sự nghiệp
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như
là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" và
Tập “Thơ thơ” được xuất bản lần thứ nhất vào năm 1938 gồm 37 bài thơ.
Sau đó qua những lần tái bản, tập thơ ra đời với 46 bài - là một trong những tập
thơ tình tiêu biểu của Xuân Diệu. Thơ thơ là “cụm đầu mùa” mà Xuân Diệu
dành tặng cho nhân gian. Thế Lữ trong lời đề tựa tập “Thơ thơ” có viết: “Nhà
thi sĩ ấy là một chàng trai trẻ hiền hậu và say mê, tóc như mây vướng trên đài
trán ngây thơ, mắt như bao lưu luyến mọi người, và miệng cười mở rộng như
một tấm lòng sẵn sang ân ái. Chàng đi trên đường thơ, hái những bông hoa gặp
dưới bước chân, những hương sắc nảy ra bởi ánh sáng của lòng chàng. Thơ thơ
19
là cụm đầu mùa Xuân Diệu tặng cho nhân gian. Và từ đây chúng ta có Xuân
Diệu” [28; 14].
Tiểu kết chương 1
Ẩn dụ tri nhận hay là (ẩn dụ ý niệm) có vai trò quan trọng trong ngôn ngữ
nói chung và ngôn ngữ thơ ca nói riêng. Nó đem đến cho thơ ca sự mới mẻ, sáng
tạo trong cách cảm nhận thế giới và mở ra cho con người những khả năng tìm
tòi, khám phá về các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Nó làm cho trí
tưởng tượng thêm phong phú, bay bổng, thoát khỏi sự phản ánh các sự kiện
bằng lối cấu trúc ngôn ngữ thông thường. Từ ẩn dụ tri nhận, người ta hiểu rõ
hơn, nắm bắt rõ hơn về quá trình tư duy, khám phá thế giới của con người phản
chiếu qua ngôn ngữ, và ngược lại sự tri nhận cũng sẽ là cơ sở giúp giải mã các
tầng bậc ý nghĩa của ngôn ngữ.
Ẩn dụ trong ngôn ngữ học tri nhận là công cụ nhận thức hữu hiệu để con
người ý niệm hoá các loại trừu tượng. Ẩn dụ, do vậy không chỉ là một phương
thức diễn đạt ý nghĩa bằng ngôn ngữ mà còn là một phương thức để tư duy về sự
vật. Ẩn dụ không chỉ là một phương cách biểu thị các tư tưởng bằng ngôn ngữ
mà còn là một phương cách để tư duy về các sự vật.Tư duy ẩn dụ dựa trên cơ sở
các ý niệm.Ý niệm chịu tác động của phạm trù, điển dạng và các mô hình văn
hoá, do đó, ý niệm không chỉ mang tính phổ quát mà còn mang tính đặc thù văn